Chinh Phụ Ngâm bản dịch Nôm Song Thất Lục Bát

1. Giới thiệu tác phẩm, trích từ wikipedia

Chinh Phụ Ngâm (征婦吟, hay Chinh phụ ngâm khúc (征婦吟曲), là tác phẩm văn vần (???là gì, hồi xưa hình như học qua mà quên rồi) của Đặng Trần Côn, ra đời trong khoảng năm 1741 giai đoạn sơ kỳ Cảnh Hưng và về sau được nhiều người dịch ra thơ Nôm.

Đây là thi phẩm chủ yếu viết theo lối tập cổ, dài 483 câu. Các câu thơ trong bài dài ngắn khác nhau, theo thể trường đoản cú, câu dài nhất khoảng 12, 13 chữ, câu ngắn chỉ 3, 4 chữ.

Hiện nay, Chinh phụ ngâm có 7 bản dịch và phỏng dịch bằng các thể thơ lục bát (3 bản) hoặc song thất lục bát (4 bản) của các dịch giả Đoàn Thị ĐiểmPhan Huy ÍchNguyễn KhảnBạch Liên am Nguyễn và hai tác giả khuyết danh. Chinh phụ ngâm cũng được dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới, vd Nhật, Pháp, Hàn.

Bản dịch thành công nhất và phổ biến nhất xưa nay, theo thể song thất lục bát, có độ dài 412 câu hoặc 408 câu (một bản in khác lưu tại Thư viện Paris) có người cho là Đoàn Thị Điểm, có người cho là của Phan Huy Ích và những phát hiện mới gần đây có xu hướng nghiêng về dịch giả Phan Huy Ích.

2. Bản dịch 7768

Tác phẩm nguyên bản tiếng Hán là 1 tác phẩm công phu, nhưng mà do hạn chế về mặt ngôn ngữ cho nên chưa đủ trình độ thưởng thức, hơn nữa, xưa nay quen thuộc vs bản 7768 cho nên post này chủ yếu là về bản dịch Nôm này. Bản dịch Nôm trong  sách giáo khoa trước nay vẫn dc cho là của Đoàn Thị Điểm, gồm 412 câu thơ theo thể 7768, chia ra làm 13 phần, trong đó có nx dòng thơ nổi tiếng, vd như:

(lấy từ http://www.hdvietnam.net/vanhoa/vanhoc/chinhphungam.html)

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm tầng trên.
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này!
Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt.
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
Chín tầng gươm báu trao tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh. (Phần 1)

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một mầu.
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai? (Phần 3)

Chàng từ sang đông nam khơi nẻo
Biết nay chàng tiến thảo nơi đâu?
Những người chinh chiến bấy lâu,
Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây (Phần 5)

Mặt biếng tô, miệng càng biếng nói
Sớm lại chiều, dòi dõi nương song;
Nương song luống ngẩn ngơ lòng.
Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai?  (Phần 9)

Nghệ thuật: Ko nhớ sách Học tốt Văn học ngày xưa bình luận gì, mà cũng chưa đọc phân tích bình luận về bài thơ này, đây chỉ là các remarks cá nhân😛

Thể thơ: 7768, cá nhân thôi, cảm thấy thể thơ này lưu loát mà uyển chuyển, ko quá mềm mại như 68 (vì 68 chuyên đề dung vần bằng ở cuối câu), mà đọc lên còn có thêm sự gãy gọn, cứng cáp của thể thất ngôn.

Điển tích điển cố: Cái này dĩ nhiên là có 2 mặt ưu và khuyết:

Ưu điểm: Mang tính ước lệ cao, ý tứ trang trọng, cổ điển.

Nhược điểm: lời lẽ sáo rỗng, ý tứ nhàm chán, hoa mỹ và ko đúng với thực tế, vd

–          Toàn địa danh Tàu: Cam Tuyền, Tràng Thành, Hàm Dương, Tiêu Tương, Cầu Vị, Thái Sơn, Man Khê, Ngọc (Môn) quan này nọ… (Mặt khác, cũng có ich lợi là giúp người đọc làm quen điển cố và sự tích Tàu luôn 1 thể)

–          Ở Vn có nx thứ này ko?😛

Sương như búa bổ mòn gốc liễu.
Tuyết nhường cưa xẻ héo cành ngô.
Giọt sương phủ bụi chim gù,
Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi.

Hương gượng đốt, hồn đà mê mải,
Gương gượng soi, lệ lại chứa chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.

Các nàng chinh phụ của Vn thời đó thì có mà đi cày đi cấy, nuôi heo nuôi bò, hái dâu nuôi tằm ko còn sức để thở chứ đừng nói gì gương lược với chả đàn hát😛

Tuy nhiên, cái này ko trách dc người dịch, vì bản gốc của Đặng Trần Côn viết như thế nào thì họ đành phải dịch ra như vậy thôi😛  Trách thì trách hẳn Đặng Trần Côn.

Điểm nổi bật nhất về nghệ thuật của bản dịch có lẽ là các điệp từ, điệp ngữ và điệp ý, vd:

Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương thiếp hãi trông sang.
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.

Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông,
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu.

Sầu ôm nặng, hãy chồng làm gối,
Mộng ôm đầy, hãy thổi làm cơm.
Mượn hoa, mượn rượu giải buồn,
Sầu làm rượu nhạt, muộn làm hoa ôi.

Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái,
Hoa để vàng bởi tại bóng dương;
Hoa vàng hoa rụng quanh tường,
Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần?

Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió
Hỏi ngày về chỉ độ đào bông,
Nay đào đã quyến gió đông
Phù dung lại đã bên sông bơ xờ.

Tin thường lại người không thấy lại,
Hoa dương tàn đã trải rêu xanh.
Rêu xanh mấy lớp xung quanh,
Sân đi một bước trăm tình ngẩn ngơ!

Thư thường tới, người chưa thấy tới,
Bức rèm thưa lần dãi bóng dương.
Bóng dương mấy buổi xuyên ngang.
Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai?

Nhưng mà, nói đi cũng phải nói lại, trong bản Hán văn, hình như Đặng Trần Côn cũng sử dụng nhiều điệp từ điệp ngữ thì phải, vd:

Phong liệt chỉ song xuyên trướng khích
Nguyệt di hoa ảnh thướng liêm lung
Hoa tiền nguyệt chiếu nguyệt tự bạch
Nguyệt hạ hoa khai hoa tự hồng
Nguyệt hoa hoa nguyệt hề ảnh trùng trùng
Hoa tiền nguyệt hạ hề tâm xung xung. (câu 261-266) (http://www.thivien.net/viewpoemgroup.php?ID=72)

3. Ảnh hưởng (các bài hát “ăn theo”)

Thực ra thì thế này, sở dĩ bạn AC thik bài Chinh Phụ Ngâm là do từ hồi be bé, bạn AC rất chi là xui xẻo😦, sớm bị exposed to 1 loại hình văn nghệ “sến sũa”😛 là cãi lương và nhạc vàng (bao gồm cả nhạc tiền chiến và tình ca sau 45). Mà chiến tranh và các đôi uyên ương bị chia loan rẽ thúy chính là 1 topic vô cùng là sôi động của loại hình văn nghệ này, mà tình cờ, Chinh Phụ Ngâm trở thành 1 tài liệu, 1 nguồn cảm hứng dào dạt cho các văn nghệ sỹ thời xưa.

Từ là từ phu tướng
Báu kiếm sắc phán lên đàng (*)
Vào ra luống trông tin nhạn
Năm canh mơ màng
Em luống trông tin chàng. (Dạ Cổ Hoài Lang, Cao Văn Lầu)

(*) Có bản ghi là “Bảo kiếm sắc phong lên đàng”😛

Lệnh vua hành quân trống kêu dồn,
Quan với quân lên đường,
Đoàn ngựa xe cuối cùng,
Vừa đuổi theo lối sông.
Phía cách quan xa trường,
Quan với quân lên đường,
Hàng cờ theo trống dồn
Ngoài sườn non cuối thôn,
Phất phơ ngập trời bay.

Qua Thiên San kìa ai tiễn rượu vừa tàn,
Vui ca vang rồi đi tiến binh ngoài ngàn.
Người đi ngoài vạn lý quan san,
Người đứng chờ trong bóng cô đơn.
Bên Man Khê còn tung gió bụi mịt mùng,
Bên Tiêu Tương còn thương tiếc nơi ngàn trùng.
Người không rời khỏi kiếp gian nan,
Người biến thành tượng đá ôm con. (Trường ca Hòn Vọng Phu, Lê Thương, tuyệt tác của tân nhạc Việt Nam)

Con ơi lòng mẹ ủ ê
Thương cho chồng mấy dặm sơn khê
khi ra đi có hứa thu nay về
mà hôm nay…lá thu đã rơi tràn.
Rồi mùa đông sang qua luôn,
Mòn mỏi trong đau buồn. (Tiếng còi trong sương đêm, Lê Trực, tiền chiến)

Ngày anh xa vắng
Phấn son xếp lại chẳng dùng
Trắng đêm đối ngọn đèn tàn
Trăng mờ lạnh giấc cô miên.
Đợi chàng một hai năm
Hay là cả đời xuân xanh
Ngày nao đầu pha tuyết sương
Vẫn mong tái ngộ một lần. (Ngày anh xa vắng, Y Vân, tình ca)

Con ơi à ơi . . .
Ðây là giấc ngủ ban đầu
Mẹ xa cha
Bên ngoài gió nổi thương ca.

Bao nhiêu hưng vong
Ðón đợi thu vào tầm tay
Rồi con lớn khôn . . . hai mươi tuổi đời
Như mẹ ngày nay.
Con vui lên đường à à . . . ơi
Con say tiếng gọi dị thường
Như say giấc ngủ đêm này
À à ơi . . . giấc ngủ trên tay. (Rồi 20 năm sau, Trầm Tử Thiêng, tình ca)

Cũng ko có j ngạc nhiên vì sao nhiều nhạc sỹ thời đó lại tìm thấy cảm hứng từ Chinh Phụ Ngâm, thay vì Kiều hay là Lục Vân Tiên, là bởi vì VN trải qua quá nhiều chiến tranh, cái cảnh chinh phu ra trận, chinh phụ mòn mỏi ở nhà nó quá quen thuộc rồi. Có lẽ các chuyện tình yêu tay 3 tay 4 của các tiểu thư, hay gái lầu xanh vs các công tử/thư sinh con nhà giàu hoặc ít nhất cũng thư hương (kiểu Kim Trọng, Thúc Sinh, hay Lục Vân tiên) hay các anh hùng hão hán kiểu Từ Hãi này nọ nó có vẻ ko quen thuộc vs cuộc sống dân thường chăng?😛

1 điều nữa là, motip chinh phụ/hòn vọng phu chỉ phổ biến trong văn nghệ thời tiền chiến (pre 1945) và sau này tiếp nối ở miền Nam, chứ ko dc phổ biến ở miền Bắc, bởi vì người chinh phụ trong xã hội XHCN ko dc khuyến khích (hoặc là cấm) ngồi ủ rũ héo hon than vãn sầu bi vớ vẩn😦 mà phải “3 đảm đang, ba sẵn sàng”😛

Hoàng Việt (Lê Trực), sau 1945 cũng viết Tình ca về chia li, nhưng mà tinh thần nó hùng tráng khác hẳn với Tiếng Còi trong Sương Đêm:

Ta hát chung tiếng ca vang dội từ nghìn phương xa
Xua kẻ thù đi mau, dập tắt chiến tranh đẫm máu
Đập tan ngay bao đau khổ và chia ly. (Aizzz, có điều, tráng khí ầm ầm thế này nhưng mà vẫn bị cấm hát 1 đoạn thời gian :P)

………….

Anh Ca

About Hoasinh Anhca
Trì Trung Hoa sinh hưởng lạc - Chi Thượng Anh ca mạn đề

7 Responses to Chinh Phụ Ngâm bản dịch Nôm Song Thất Lục Bát

  1. Si says:

    1. Văn vần, có phải hơi giống kiểu tổng vịnh truyện kiều của Chu Mạnh Trinh, câu gần nhau thì đối với nhau?
    2. Thx nàng, ‘bây giờ’ mới có dịp làm quen với Chinh Phụ Ngâm, thấy lời thơ ý tứ rất hay. Đọc mấy đoạn nàng trích dẫn, thì có vẻ về căn bản 2 câu 7 ko cần theo đường luật ‘nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh’ gì cả, chỉ cần chữ cuối cùng trong câu 7 đầu là trắc, câu 7 sau là bằng, để cho câu 6 tiếp theo bắt vần… đúng như nàng phân tích, kết hợp được cả thất ngôn và 68, ngữ điệu có lên có xuống, thơ toàn vần bằng cả nghe mãi cũng thấy chán.
    3. Nàng thử tập làm thơ 7768 chơi…
    4. hehe, từ thời tiền chiến cũng đã có cuộc tranh luận về việc nên viết cái gì rồi đấy. Những Nửa chừng Xuân rồi gì gì đó cũng tập trung vào mấy chị em thành thị, nhưng ngay sau đó (lúc ý thức đòi độc lập dân tộc ở Vn đã sục sôi lắm rồi, ko như lúc trước) làn sóng các tác giả mới đặt câu hỏi, who cares about love life of those middle class women?🙂
    5. Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu, câu thứ 2 là ‘bảo kiếm sắc phong lên đàng’
    6. Bài trường ca hòn vọng phu của Lê Thương: ‘Người đi ngoài vạn lý quang sang’ —> quang sang là gì? hay là quan san đấy?

    Like

    • 3. Muốn lắm nhưng lực bất tòng tâm. Em làm sao đủ trình độ😦
      5 & 6. Hì hì, em cop paste, ko để ý
      – Dạ cổ hoài lang, ngày xưa em học (truyền miệng) thì là “bảo kiếm sắc phong lên đàng”, hôm qua search thì lại thấy “báu kiếm…”. Chắc là nhiều dị bản. Bảo vs báu thì coi như cũng tương tự, nhưng mà 2 chữ ‘sắc phong’ và ‘sắc phán’ thì lại ko cùng nghĩa. Ko hiểu ‘sắc phán’ có nghĩa gì khác hay là liên quan j vs ‘sắc phong’ hay ko😦
      – vạn lý quan san, chắc ai đó type sai chính tả😛

      Like

  2. Pingback: Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà – Viễn Châu « Hoasinh_Anhca

  3. Si says:

    sắc phong lên đàng nghe có vẻ hiền tài được yêu chuộng hơn, phán lên đàng giống như kiểu mi là lính thì ta đẩy mi ra trận😐

    nàng sửa thành quang san? sao ko xóa nốt chữ g ở từ quang đi nàng?
    hồi trước nàng bảo định thư pháp bài này là bài của Đặng Trần Côn hay là 7768 của (cứ tạm cho là) Đoàn Thị Điểm?

    Like

    • Chết mất, tưởng là ngta mistype là ‘quan sang’, biết đâu là sai cả 2 chữ, chắc người miền Nam viết😉
      Đâu, thư pháp thì phải viết bản Đặng trần côn chứ, còn nếu viết 7768 thì phải viết thư pháp Nôm – cái này lại phải biến chữ quốc ngữ ra thành chữ Nôm rùi mới tính tiếp, mà chữ Nôm em xem qua, có vẻ nhiều nét hơn cả chữ Hán😦

      Like

  4. Si says:

    hỏi vậy tại vì bây giờ mới biết nó là ‘văn vần’ trong khi nàng hay thư pháp ‘thơ’🙂
    tưởng 7768 bản gốc cũng Nôm, giống như Kiều?

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Rie's Bento & Cooking

in healthy way with Love

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Tư liệu học thuật chuyên ngành nghiên cứu quốc tế

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: