Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.12

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.12

Chương này thấy mỗi học giả chấm câu theo một kiểu. Ở đây là ta giữ chấm câu theo cách của Dương Bá Tuấn, bởi cho đến giờ vì dùng sách của Dương Bá Tuấn làm tài liệu cơ bản để học Luận ngữ. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là cách chấm câu của học giả này là đúng, còn của các học giả khác là sai. Ai hợp lý hơn, để người học tự xét.

 

1.12 有子曰:“礼之用,和为贵。先王之道,斯为美。小大由之, 有所不行。知和而和,不以礼节之,亦不可行也。”

Yǒu zǐ yuē :“Lǐ zhī yòng ,hé wéi guì 。Xiān wáng zhī dào ,sī wéi měi 。Xiǎo dà yóu zhī, yǒu suǒ bù xíng 。Zhī hé ér hé ,bù yǐ lǐ jié zhī ,yì bù kě xíng yě 。”

Hữu tử viết: “lễ (1) chi dụng, hòa (2) vi quý. Tiên vương chi đạo (3), tư (4) vi mỹ. Tiểu đại do chi, hữu sở bất hành. Tri hòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành dã.”

 

(1) 礼 – lǐ – lễ: ở thời Xuân Thu, “lễ” là chỉ chung chế độ điển chương và quy phạm đạo đức của xã hội nô lệ, phong kiến. “Lễ” của Khổng tử, là chỉ “Chu lễ,” lễ tiết, nghi thức, cũng chỉ quy phạm quy phạm đạo đức của con người.

(2) 和 – hé – hòa: điều hòa, hài hòa, hòa hợp, phối hợp hài hòa.

(3) Tiên vương chi đạo: chỉ đạo trị thế của Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ, Chu công, các bận đế vương cổ đại.

(4) 斯 – sī – tư: ý là đây, này. Ở đây chỉ “lễ,” cũng chỉ “hòa.”

 

[Giải nghĩa câu – Dương Bá Tuấn]

Hữu tử nói: Ứng dụng của lễ, là lấy hài hòa, hòa hợp làm quý. Phương pháp trị quốc của các bậc quân chủ thời cổ đại, điều đáng trân quý chính là ở chỗ này. Nhưng bất luận việc to việc nhỏ, chỉ theo biện pháp hài hòa mà làm, có lúc làm không thông. (Lý do ở đây là) vì (giữ) hài hòa mà hài hòa, không dùng lễ để tiết chế hài hòa, cũng là không khả thi vậy.

[Phân tích bình luận – Dương Bá Tuấn]

Hòa là luân lý (ethics), là nguyên tắc chính trị và xã hội do Nho gia đặc biệt đề xướng. Lễ ký – Trung dung viết: 喜怒哀乐之未发谓之中,发而皆中节谓之和 – ‘Hỉ, nộ, ai, lạc chi vị phát vị chi trung, phát nhi giai trung tiết vị chi hòa’ – hỉ, nộ, ai, lạc (mừng, giận, buồn, vui) trong lúc chưa phát tiết ra, trong quá trình phát ra đều được tiết chế gọi là hòa. Trong sách ‘Luận ngữ sơ chứng’ của Dương Ngộ Phu viết: ‘Trong mọi việc được tiết chế đều gọi là hòa, không chỉ trong những việc mà liên quan đến hỉ nộ ai lạc. Hòa là nói thích hợp, thích đáng, cư xử tốt đẹp.’ Khổng môn cho rằng, việc thi hành, ứng dụng lễ cần lấy hài hòa làm quý. Nhưng, nếu việc nào cũng nói đến hài hòa, hoặc là lấy mục tiêu hài hòa làm chính, hài hòa để mà hài hòa, không bị lễ tiết phép luật ước thúc, thì làm cũng không xong. Đây là nói, chỉ cần tuân thủ các khác biệt đẳng cấp do lễ quy định, trong đối đãi với nhau sẽ không xuất hiện bất hòa. Khổng tử trong chương này đề ra quan điểm này là có ý nghĩa của nó. Trong xã hội chủ nô phong kiến, phân biệt và đối lập giữa các đẳng cấp là vô cùng nghiêm khắc, giới tuyến [giữa các đẳng cấp] không dung bất kỳ nhiễu loạn nào. Người thuộc đẳng cấp trên, lấy lễ nghĩa nghi thức của bản thân để biểu hiện uy phong; Người thuộc đẳng cấp dưới, tất đem lòng sợ hãi mà duy mệnh thị tòng (i). Nhưng đến thời Xuân Thu, loại quan hệ xã hội này bắt đầu đổ vỡ, hiện tượng tôi giết vua, con giết cha đã thành thường xuyên. Đối với vấn đề này, đề xuất ‘hòa vi quý,’ mục đích là vì hòa hoãn sự đối lập giữa các đẳng cấp khác nhau, không để đổ vỡ quan hệ, để an định trật tự xã hội đương thời.

Nhưng nếu nhìn từ mặt lý luận, chúng ta sẽ cảm thấy, Khổng tử cường điệu việc vận dụng lễ lấy hòa làm quý, lại chỉ ra không thể vì hòa mà hòa, cần lấy lễ để tiết chế, có thể thấy hòa mà Khổng tử đề xướng không phải là điều hòa một cách vô nguyên tắc, mà ở đây có tính hợp lý của nó.

(i) Duy mệnh thị tòng – 唯命是从 – wéi mìng shì cóng (hoàn toàn tuân theo mệnh lệnh, câu trong Tả truyện)

[Luận ngữ tân giải- Tiền Mưu]

(Do cách châm câu khác nên chép lại ở đây)

有子曰:“礼之用,和为贵。先王之道,斯为美小大由之。有所不行。知和而和,不以礼节之,亦不可行也。”

Hòa vi quý: lễ chủ về kính (tôn kính, kính trọng, cung kính), ở giữa quần chúng nói chung có nhiều các loại lễ để phân biệt. Trên thực tế lễ lấy hòa làm quý, là ở giữa mọi người lấy các loại lễ nghĩa để điều hòa.

Tư vi mĩ: Tư chỉ lễ, cũng chỉ hòa. Đạo của tiên vương,  lấy lễ làm đức hạnh, làm điều tốt đẹp. Hòa ở trong lễ, nên cũng là lấy hòa làm điều tốt đẹp.

Tiểu đại do chi: sự việc bất kể to nhỏ, đều thuận theo lễ, cũng là đều thuận theo hòa.

Hữu sở bất hành: bốn từ này liền với vế sau. Nếu gặp chỗ không làm được, thì sẽ như sau.

Tri hòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành dã: tiết, có nghĩa là phạm vi quy định khác biệt. Giống như đốt tre, mặc dù thông với nhau, nhưng đốt trên đốt dưới có sự khác biệt. Cha con vợ chồng, quan hệ rất thân mật, nhưng hai bên suy cho cùng vẫn có sự phân biệt, có lễ tiết quy định, khiến cho ở cùng nhau mà hòa.  Chỉ chú trọng hòa, mà không có lễ để tiết chế, tất không được. Nghĩa mở rộng là chỉ có lễ mà không có hòa cũng không được, chính là do chữ “diệc” này. (diệc có nghĩa là “lại,” “cũng là”).

Nghĩa chủ đạo của chương này, lễ tất phải hòa thuận từ trong tâm, khiến cho mọi người đều vì thế mà an, chứ  không phải [thứ] tình không chịu nổi, mà dùng lực cũng không thể gượng ép, thế mới gọi là đáng quý. Nếu cố cưỡng ép mà lập nên lễ, đến cuối cùng không thể hòa, thì sao mà làm được? Cho nên Lễ không phải là dùng sự bó buộc nghiêm khắc mà cưỡng ép người khác, mà là dùng lễ để đạt được hòa. Đây là ý nghĩa tốt đẹp nhất của lễ của Khổng môn, người học không thể không tìm hiểu kỹ.

Hữu tử nói: Việc vận dụng lễ, quý ở chỗ có thể hòa. Đạo của tiên vương, điểm tốt đẹp chính là ở chỗ này, việc to việc nhỏ đều nhờ điều này mà thông. Nhưng cũng có lúc làm không được. Chỉ biết là cần phải hòa, chỉ chú trọng dùng hòa, mà không dùng lễ để tiết chế hòa, cũng không làm được vậy.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

[Có một đoạn cảm khái về lễ nghĩa đang trở nên lung tung, ta bỏ không dịch].

“Lễ chi dụng, hòa vi quý.” Câu này tương đương với triết học của lễ. Lễ là để làm gì? Là có tác dụng trung hòa, nếu nói mở rộng ra một chút là hòa bình. Đây cũng là tư tưởng của lễ. Giữa người với người sẽ có những khác biệt, cũng như vậy giữa sự việc với sự việc có mâu thuẫn; trung hòa mâu thuẫn này, điều chỉnh sự khác biệt này, đều dựa vào lễ. Như vậy pháp luật cũng là một tác dụng của lễ, dưới các nguyên tắc của pháp luật, từ trị lý quốc gia cho đến các nguyên tắc rất nhỏ để làm việc gì đó, đều là tác dụng của lễ. Giả dụ không có lễ, xã hội sẽ không có trật tự, như thế làm sao được? Do đó giữa người với người cần lễ, giữa việc với việc cần lễ, mà tác dụng của lễ, là “hòa vi quý,” chính là sự điều chỉnh, điều hòa.

“Tiên vương chi đạo, tư vi mỹ. Tiểu đại do chi.” Trong văn hóa Trung Quốc gọi tiên vương, không phải chỉ tiên vương của bất kỳ một vị hoàng đế nào, hai chữ “tiên vương” này,  chính là thứ mà ngày nay chúng ta gọi là “truyền thống văn hóa,” “Trung Quốc văn hóa.” […] Chúng ta hiểu tinh thần của hai chữ “tiên vương” này, là đại diện cho liệt tổ liệt tông. […] “Tiểu đại do chi,” vô luận việc to việc nhỏ, đều cần dùng tinh thần của lễ mà xử lý, bỏ đi tinh thần của lễ là không được, nhất định xảy ra vấn đề.

“Hữu sở bất hành, tri hòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành dã.” Ở đây là nói về đạo lý mâu thuẫn cân bằng. Chúng ta thường thấy bốn chữ “矫枉过正” – Kiểu uổng quá chính (i), “枉”- “uổng” là méo, lệch, nghiêng, nhìn thấy sự vật méo lệch, cần phải uốn nắn cho thành thẳng; uốn quá độ, lại thành méo lệch. Nói cách khác, không phải lệch về hướng này, có nghĩa là cũng lệch về hướng khác. Tóm lại, “过正” – “quá chính” – quá/ vượt qua [giới hạn] thẳng, chính là méo lệch. Lễ cũng như vậy, cần trung hòa, nhưng điều tiết quá mức lại thành không tốt. Một người thanh niên không hiểu tý gì về lễ mạo tất nhiên là không đúng, nhưng cả ngày từ sáng đến tối chỉ nói về lễ mạo, quá nhiều lễ, người ta lại tưởng nhầm anh ta vỗ mông ngựa (nịnh nọt), do đó “tri hòa nhi hòa,” đối với mỗi sự việc, hiểu được đạo trung hòa của nó, mà đi trung hòa, đi điều chỉnh nó. Nhưng điều chỉnh quá mức lại thành sai, “bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành dã.” Do đó tinh thần cơ bản của lễ nghĩa, là điều tiết một sự việc, trung hòa một sự việc, nhưng cần phải có giới hạn mức độ nhất định, làm quá giới hạn này, lại phải điều chỉnh lại từ đầu.

Muốn nghiên cứu văn hóa Trung Quốc, không thể không xem cuốn “Lễ ký” do Khổng tử soạn. Lễ ký là trước tác về truyền thống văn hóa thời kỳ đầu, không cái gì không có. Nếu dùng học thuật hiện đại mà nói, Lễ ký bao gồm triết học, chính trị, quân sự, kinh tế, vệ sinh, y học các loại học vấn. Đương nhiên, không phân biệt chi tiết như hiện tại. Do đó bộ Lễ ký này, không chỉ nói về lễ mạo; lễ tiết lễ mạo của chúng ta, chỉ là một dạng biểu hiện của lễ mà thôi.

Chữ “Lễ” của văn hóa Trung Quốc, dùng văn hóa phương Tây mà nói, chính là triết học. Triết học nói chung có thể chia thành hai phạm vi, dùng đạo lý Trung Quốc mà nói, một phạm vi là hình nhi thượng, một là hình nhi hạ. Cái gọi là hình nhi hạ, là tất cả mọi học vấn trong vũ trụ, đều bao gồm trong đó; hình nhi thượng, ở Trung Quốc mọi người gọi là “đạo,” trong tư tưởng Nho gia gọi là “thiên,” “thiên đạo” cũng là “bản thể luận.” Hình nhi hạ, trong triết học phương Tây, cũng là “tri thức luận,” “giá trị nhân sinh luận.” Triết học phương Tây đại khái phân loại như vậy. Danh xưng “hình nhi thượng,” xuất xứ từ “Kinh dịch,” người Nhật bản khi dịch triết học Hy lạp, mượn danh từ này trong Kinh dịch – “形而上者谓之道” – “hình nhi thượng giả vị chi đạo” – hình nhi thượng gọi là đạo.

“Hình nhi thượng” là cái gì? Chính là vấn đề nguồn gốc của vũ trụ – con gà có trước hay quả trứng có trước? nam có trước hay nữ có trước? Rốt cuộc vạn vật trong vũ trụ này là do ai sáng tạo ra? Tông giáo gia nói là do một vị chúa tể sáng tạo ra. Triết học gia liền hỏi vị chúa tể này là từ đâu đến vậy? tạo ra vị chúa tể này là ai? Giả sử tạo ra chúa tể là mẹ của chúa tể, vậy bà ngoại của chúa tể là ai? Triết học gia muốn truy nguyên đến tận cùng. Thảo luận đạo hình nhi thượng này, chính là “bản thể luận.” “Hình nhi hạ” là nói các loại hiện tượng và các loại tri thức sau khi vạn vật trong vũ trụ đã hình thành. Nghiên cứu “bản thể luận” của phương Tây, bắt đầu rất sớm ở Hy Lạp, đã có hai ba ngàn năm lịch sử. Thời đó đại khái cũng chia thành hai trường phái, một phái là tư tưởng duy vật, một phái là tư tưởng duy tâm. Duy tâm này khác với duy tâm hay được nhắc đến trong văn hóa Trung Quốc. Nói đến triết học, vấn đề nguồn gốc tư tưởng cơ bản này, trước hết cần phải nhận thức rõ ràng, mới tránh được lẫn lộn.

Sau đó các nhà triết học cho rằng: con người làm sao để biết nguồn gốc của vũ trụ? Là dựa vào tri thức, dựa vào tư tưởng, vậy thì, bản thân tư tưởng có đáng tin để dựa vào được không? Trước hết cần phải nghiên cứu. Do vậy mà sinh ra tri thức luận. Giả sử không dựa vào được bản thân tư tưởng, vậy thì dùng tư tưởng để hiểu về “căn nguyên của vũ trụ,” cũng chưa phải là hoàn chỉnh. Đây chính là phạm vi của triết học. Ngành học thuật này trải qua một mạch vài ngàn năm lịch sử, người Trung Quốc mới theo phiên dịch của người Nhật Bản, mà gọi nó là “triết học.”

Một bộ phận khác là “triết học nhân sinh” – vấn đề giá trị của người nghiên cứu.

Theo cách nhìn của các nhà triết học phương Tây, người Trung Quốc không có triết học. Ít nhất là Trung Quốc trong quá khứ không như người phương Tây, nghiên cứu về bản thể của vũ trụ. Như chúng ta hiện nay thấy rõ, hệ thống này của văn hóa Tây Phương rất nghiêm túc cẩn thận, tư tưởng triết học của họ lúc đầu là tông giáo, tông giáo chỉ dậy con người ta tín, lại còn chuyên chế cường quyền, tuyệt không dung cho ai hoài nghi. Anh muốn biết thượng đế từ đâu mà có, nhưng cũng không thể hỏi, chỉ cần “tín” là được cứu vớt. Nhà triết học nói, muốn tôi tin cũng được, nhưng cần phải kéo tấm màn che đó ra cho tôi xem, sau khi xem xong, sẽ tin tuyệt đối. Đây là tinh thần triết học.

Sau đó, vì triết học phát triển, liền hình thành nên một khoa học, nhà triết học lại tiến thêm một bước nói, chỉ nhìn rõ thôi chưa đủ, phải chạm được vào, sau đó mới tin được là đích xác có thứ đó. Do đó, vì tông giáo mà có triết học, mà triết học, là tiến trình phát triển của văn hóa phương Tây ngày nay.

Người Trung Quốc thật sự không có triết học sao? Có! Triết học của Trung Quốc là “triết học nhân sinh.” Chỉ nói về đạo đức của luân lý làm người, nói làm người nên làm thế nào. Người phương Tây cho rằng chúng ta không có triết học, một số nhà triết học nước tôi (i) trong quá khứ cũng nói với người khác như vậy, điều này là không đúng. Trên thực tế, tư tưởng triết học Trung Quốc, điều nằm trong các quyển sách như “Lễ ký,” “Kinh dịch,” có rất nhiều, nhưng cần có người nỗ lực chỉnh lý. Học giả nước tôi, trong vài chục năm gần đây, đã chỉnh lý [sách xưa] ra được tư tưởng triết học, nhưng vẫn còn thiếu, thiếu rất nhiều. Chưa kể còn có thiên kiến. Điều này hãy còn cần chúng ta ôn cố tri tân, nỗ lực hơn nữa trong vấn đề này.

Hiện tại, trọng điểm của chúng ta là: “lễ” không chỉ là lễ mạo, lễ tiết, mà bao quát triết học hình nhi thượng, và tất cả các vận dụng trong nhân sinh của hình nhi hạ.

(i) Kiểu uổng quá chính -矫枉过正– jiǎo wǎng guò zhèng (câu trong Hậu Hán thư; kiểu là uốn nắn cho thẳng, sửa chữa; uổng là chỗ cong; đem vật cong uốn thành thẳng, lại làm cho méo lệnh hẳn về một bên. Dùng để hình dung sửa chữa sai lầm lại làm quá giới hạn cần có.)

(ii) Học giả là người Đài Loan. Mời mọi người vào đây xem tiểu sử, ngưỡng mộ quá. https://en.wikipedia.org/wiki/Nan_Huai-Chin

[Bình luận của YL]

Lại nợ bình luận, nhưng chỉ ra 1 điều cần chú ý thôi: qua phân tích bình luận của các học giả, có thể thấy ý nghĩa của “lễ” rất rộng, không chỉ là lễ tiết, mà bao gồm cả luân lý ,và các loại luật pháp, phép tắc, nguyên tắc, quy định dựa trên các luân lý đó mà đặt hay là phát triển ra, để điều chỉnh cho các mối quan hệ giữa con người với con người, cũng như quy định con người nên xử lý một sự việc thế nào.

Chú thích là từ luân lý, tiếng Anh gọi là ethics. Trong tiếng Anh có sự phân biệt giữa luân lý (ethics) và đạo đức (morality). Còn ở Việt Nam ít ai phân biệt giữa luân lý vào đạo đức. Ở Việt Nam thường chỉ nói đến đạo đức thôi.

Nhân chương này, lại nhớ đến cuộc cãi nhau kinh khủng của các nhà giáo dục Việt Nam, về việc có nên bỏ khẩu hiệu ‘tiên học lễ, hậu học văn’ trong các trường học, cho bài Trung Quốc, bài Nho giáo, thoát Trung, bài sự ‘lạc hậu, cổ hủ’ cho nó triệt để🙂, trong đó không ít người hiểu lễ là giành cho học sinh, học sinh phải răm rắp nghe lời thầy cô giáo, thầy cô nói gì cấm cãi (vậy thầy cô thì không có lễ của thầy cô?). Ai có hứng thì chém gió về chủ đề này đi🙂

Si

 

 

About Hoasinh Anhca
Trì Trung Hoa sinh hưởng lạc - Chi Thượng Anh ca mạn đề

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Rie's Bento & Cooking

in healthy way with Love

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Tư liệu học thuật chuyên ngành nghiên cứu quốc tế

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: