Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.13

1.13 有子曰:“信近于义,言可复也;恭近于礼,远耻辱也;因不失其亲,亦可宗也。”

Yǒu zǐ yuē :“xìn jìn yū yì ,yán kě fù yě 。Gōng jìn yū lǐ ,yuàn chǐ rǔ yě 。Yīn bù shī qí qīn ,yì kě zōng yě 。”

Hữu tử viết: “Tín cận (1) ư nghĩa (2), ngôn khả phục (3) dã. Cung cận ư lễ, viễn (4) sỉ nhục dã; nhân (5) bất thất kì thân, diệc khả tông (6) dã.”

 [Chú giải]

(1) 近 – jìn – cận: Ý nghĩa là tiếp cận (kề cận, cách không xa, thân cận), phù hợp.

(2)义 – yì – nghĩa:Nghĩa là phạm trù luân lý của Nho gia. Là chỉ tư tưởng và hành vi phù hợp tiêu chuẩn nhất định. Tiêu chuẩn này là “Lễ.”

(3) 复 – fù – phục: Ý nghĩa là thực tiễn. Chu Hi “Tập chú” viết: 复,践言也 – phúc, là nói tiễn (thực hành, thi hành).

(4) 远 – yuàn – viễn:phiên âm là yuàn,động từ, sử dụng như động từ, ý nghĩa là viễn ly, cách xa, tránh xa, ở đây có thể giải thích là tránh.

(5) 因 – yīn – nhân:Dựa vào, ỷ vào. Có thuyết nói 因 nên viết là 姻- nhân (trong hôn nhân, chỉ quan hệ thân thuộc do hôn nhân mà thành), nhưng xét cả đoạn trên dưới thì thấy như thế có chỗ không thích hợp.

(6) 宗 – zōng – tông: Chủ (người lãnh đạo), có thể dựa vào được (reliable), thường được giải thích thành “tôn kính” cũng có chỗ không thích hợp.

[Giải nghĩa câu]

Hữu tử nói: ‘nói tín cần phù hợp với nghĩa, lời nói (phù hợp với nghĩa) mới có thể thực hành. Cung kính cần phù hợp với lễ, như vậy mới tránh xa được sỉ nhục. Những người mà dựa vào đều là người đáng tin cậy, mới xứng đáng tôn kính.’

[Bình luận – Dương Bá Tuấn]

Câu này của Hữu tử, thể hiện Khổng tử và các đệ tử cực kỳ coi trọng “信”- “tín” và “恭” -“cung” [cung trong cung kính, kính cẩn, kính trọng – YL]. “Tín” và “cung” đều cần lấy Chu lễ làm tiêu chuẩn, lời nói không phù hợp với lễ tuyệt không thể nói, nói ra là không phải thái độ của “tín”; việc không phù hợp với lễ tuyệt không thể làm, làm tức là không phải thái độ của “cung.” Ở đây là giảng về thái độ cơ bản của việc làm người xử thế.

 [Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Ngôn khả phục dã:  có ước hẹn với người khác mà cố giữ chữ tín, nhưng việc cố giữ ước hẹn này cần phải gần với nghĩa, mới có thể thực hành, giữ chữ tín được. Phục, phản phục, ở đây có nghĩa thực hành, tuân thủ lời nói.

Viễn sỉ nhục dã: cung kính cần phải hợp lễ, nếu không dễ tìm đến sự sỉ nhục.

Nhân bất thất kì thân, diệc khả tông dã: Nhân, giống như 依 – ỷ – dựa vào, tựa vào; Tông, giống như 主 – chủ – tông chủ, người lãnh đạo. Người mà dựa vào nhưng vẫn không mất đi khả năng thân cận (thân thiện gần gũi), thì khi cần được giúp đỡ có thể nương nhờ vào, cũng có thể thân cận như với bậc lãnh đạo. Hoặc nói: 因 – nhân là giản lược của 姻 – nhân (hôn nhân). Tông giả, thân như đồng tông (có chung tổ tông, họ hàng). Ngoại thân (người nhà vợ) không khác biệt mà như người thân [có chung tổ tông] của mình. Nay xét: giải thích đầu là thuyết thông dụng, giải thích sau là chuyên biệt. Nay theo thuyết đầu.

Chương này nói cùng người khác giao tế, cần cẩn thận ngay từ đầu, mà về sau có thể có được kết cục mĩ mãn. Có thể thấy được đạo có phân biệt trước sau cao thấp. Tín và cung đều là mỹ đức, như vậy cần hợp nghĩa hợp lễ.Có việc phải nương tựa vào người khác là điều không thể tránh khỏi, nhưng cần tìm người có thể thân.

Hữu tử nói: cùng với người khác ước hẹn mà muốn giữ chữ tín, trước hết cần giữ được nghĩa, rồi mới có thể tuân theo thi hành được. Cung kính với người khác, trước hết cần hợp lễ, rồi mới có thể tránh xa sự sỉ nhục. Gặp lúc cần phải dựa vào người khác, trước hết cần phải chọn người có thể thân, mới có thể dựa vào như người lãnh đạo vậy.

 [Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

“Tín cận ư nghĩa, ngôn khả phục dã.” Tại sao văn hóa Trung Quốc đề xướng “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”? “Tín” có chỗ nào tốt? Tại sao phải dạy con người ta xây dựng “tín”? Do “tín cận ư nghĩa” – tín gần với nghĩa, mà người có nghĩa/việc nghĩa thì tương thích,  hòa hợp với nhau. Chữ nghĩa này là một biểu hiện của sự bất đồng trong văn hóa Đông Tây. Chúng ta cần chú ý hai chữ “nhân nghĩa,” chữ “nhân,” tất cả bác ái, từ ái đều gọi là “nhân,” văn hóa các nước trên thế giới, đều có chữ đồng nghĩa với “nhân.”  Nhưng chữ “nghĩa” của Trung quốc, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, hay tiếng bất cứ nước nào đều không có từ đồng nghĩa. Chỉ có văn hóa Trung Quốc mới có. Chữ “nghĩa” này, có hai cách giải thích, giải thích của Nho gia Khổng môn là: 义者宜也” – “nghĩa giả nghi dã” – người nghĩa/việc nghĩa thì “nghi” – thích hợp, thích nghi, phù hợp. Vừa vặn, thích đáng, phù hợp, ở mức tốt đẹp, đem lại lợi ích gọi là nghi, đây cũng là tác dụng trung hòa của lễ, như “时宜” – thời nghi – hợp thời, hợp xu thế, cũng mang ý này. Cách giải thích khác, chính là tinh thần “hiệp nghĩa” của Mặc tử, cái gọi là “lộ kiến bất bình, bạt đao tương trợ” – trên đường gặp việc bất bình, rút đao giúp đỡ. Người Trung Quốc có tính cách này, có thể bán mạng vì bạn bè, loại tính cách này, có lúc so với ảnh hưởng của Nho gia còn lớn hơn, vì bạn bè, cho rằng tính mạng này có thể cho bạn, không có vấn đề gì hết, giúp bạn có thể cho luôn tính mạng, các dân tộc khác cũng có loại tinh thần này, nhưng không có loại định nghĩa này.

Chúng ta có loại văn hóa này, với lại trong quá khứ tồn tại phổ biển trong hạ tầng xã hội. Điều này rất quan trọng, đặc biệt là một quốc gia trong giai đoạn có nhiều biến loạn càng lộ rõ, trong thời kỳ kháng chiến có thể thấy, tinh thần hy sinh vì quốc gia dân tộc của bách tính, vô cùng vĩ đại, chính là biểu hiện của văn hóa Trung Quốc. Có người nói đây là ảnh hưởng của Nho gia Khổng Mạnh, hoàn toàn không phải như vậy, kì thực là do Tam Quốc diễn nghĩa các loại tiểu thuyết dạy mà ra. Do đó dân tộc Trung Hoa có tinh thần trung nghĩa, đây là đặc tính của dân tộc chúng ta, là sở trường đặc biệt, do đó những người phụ trách giáo dục như chúng ta, cần lưu ý đến vấn đề này.

Ở đây, “nghĩa” trong “tín cận ư nghĩa,” cùng với chữ “nghĩa” của Mặc tử, có điểm giống nhau. Con người tại sao phải thủ tín (giữ gìn/tuân thủ chữ tín )? Đã đáp ứng rồi, nhất định phải làm được. Vì thế chúng ta trong lịch sử có câu chuyện nổi tiếng “Quý Bố nhất nặc thiên kim” –  Quý Bố một lời nói ra đáng ngàn vàng (i). Trong Luận ngữ có Tử Lộ cũng là người như vậy. “Ngôn khả phục dã,” người thủ tín, không thể nói lời sáo rỗng, do “ngôn khả phục dã,” lời nói ra tất cần “khôi phục.” “恢复”- “khôi phục” – lấy lại được, hồi phục, thu phục là gì? Chính là lời nói ra cần thực hiện, biến thành sự thực.

“Cung cận ư lễ, viễn sỉ nhục dã.” Trong lúc thực hành lễ mạo cần cung kính. Cái gọi là cung, là đối với sự tình cẩn thận trang trọng từ trong nội tâm, chứ không phải là khi thấy người khác tỏ ra kính lễ là cung; mặc dù không kính lễ, nhưng lúc bạn bè gặp khó khăn, loại tinh thần quan tâm vô hạn, không cần nói ra cũng biết. Do đó con người cung kính hay không cung kính, mặc dù thái độ biểu hiện ra bên ngoài rất quan trọng, nhưng thứ trong nội tâm càng quan trọng hơn. Vì vậy cung kính chính là lễ. Giữa người và người tại sao cần cung kính? “Viễn sỉ nhục dã,” miễn đi việc chuốc lấy sự sỉ nhục vô vị.

“Nhân bất thất kì thân, diệc khả tông dã.” “Nhân” là động cơ, văn hóa Trung Quốc: thân ái với người thân, nhân ái với nhân dân, thương yêu quý mến vạn vật (ii). “Nhân bất thất kì thân,” ý nghĩa là con người không thể làm được việc là [làm người] tuyệt đối vô tư. (Vấn đề này sẽ được thảo luận sau, trong văn hóa Trung Quốc có 2 loại quan niệm từ Đạo gia mà ra, một là đại công vô tư (iii), một là tuyệt đối tự tư, hai loại tư tưởng cực đoan, đối với chúng ta mà nói đều là làm không được. Nho gia chủ trương tự tư có giới hạn.) Lấy một ví dụ, nếu ai cũng không có áo mặc, ta có được một tấm, trước hết phải để cho cha của ta mặc,  cha mặc rồi thì đến ta mặc, đợi đến khi có thêm một tấm khác, mới đưa cho người khác mặc. Tấm lòng và hành động giúp đỡ người khác, trước gần sau xa, dần dần rồi mới mở rộng ra cho mọi người. “Diệc khả tông,” được như vậy, mới có thể kính trọng.

(i) Quý Bố là tướng thời Hán Sở tranh hùng và đầu đời Hán.

(ii) 亲亲而仁民,仁民而爱物: thân thân nhi nhân dân, nhân dân nhi ái vật: thân với người thân mà nhân với người dân, nhân với người dân mà yêu vạn vật; câu trong sách Mạnh tử.

(iii) Đại công vô tư – 大公无私 – dà gōng wú sī (chỉ làm việc công chính, không có tư tâm – lòng riêng. Câu có từ đời Hán. Hiện chỉ làm việc xuất phát từ lợi ích của tập thể chứ không phải là tính toán riêng cho một người).

Si

About Hoasinh Anhca
Trì Trung Hoa sinh hưởng lạc - Chi Thượng Anh ca mạn đề

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Rie's Bento & Cooking

in healthy way with Love

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Tư liệu học thuật chuyên ngành nghiên cứu quốc tế

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: