Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.15

1.15 子贡曰:“贫而无谄,富而无骄,何如?”子曰:“可也。未若贫而乐,富而好礼者也。”子贡曰:《诗》云,‘如切如磋!如琢如磨’,其斯之谓与?”子曰:“赐也!始可与言《诗》已矣,告诸往而知来者。”

Zǐ Gòng yuē :“pín ér wú chǎn ,fù ér wú jiāo ,hé rú ?”

Zǐ yuē :“kě yě 。wèi ruò pín ér lè ,fù ér hǎo lǐ zhě yě 。” 

Zǐ Gòng yuē :“《shī 》yún :‘ rú qiē rú cuō ,rú zhuó rú mó ’,qí sī zhī wèi yǔ ?”

Zǐ yuē :“cì yě ,shǐ kě yǔ yán 《shī 》yǐ yǐ ,gào zhū wǎng ér zhī lái zhě 。”

 

Tử Cống viết: “Bần nhi vô siểm (1), phú nhi vô kiêu, hà như (2)?”

Tử viết: “Khả dã. Vị nhược bần nhi lạc (3), phú nhi hảo lễ giả dã.”

Tử Cống viết: ““Thi” vân, ‘như thiết như tha! như trác như ma (4),’ kì tư chi vị dư?”

Tử viết: “Tứ (5) dã! Thủy khả dữ ngôn “Thi” dĩ hĩ, cáo chư vãng nhi tri lai giả (6).”

 

[Chú thích – Dương bá Tuấn]

(1) 谄- chǎn- siểm: ý là xu phụ, phụng thừa.

(2) 何如 – hé rú – hà như: “Hà như” trong sách Luận ngữ, đều có thể diễn giải thành怎么样 – như thế nào.

(3) 贫而乐 – pín ér lè – bần nhi lạc: có bản viết “bần nhi lạc đạo.”

(4) 如切如磋,如琢如磨 – rú qiē rú cuō ,rú zhuó rú mó – như thiết như tha, như trác như ma: hai câu này trong “Thi Kinh. Vệ Phong. Kỳ áo.” Có 2 cách giải thích: một thuyết nói “thiết, tha, trác, ma” phân biệt chỉ bốn loại gia công đối với bốn nguyên vật liệu khác nhau là xương, ngà voi, ngọc và thạch, nếu không thì không làm thành vật dụng được; một thuyết nói gia công ngà voi và xương, thiết (cắt, khắc, E: cut) rồi vẫn cần tha (mài, E: polish), gia công ngọc, và đá, trác (mài giũa, E: cut [gems]) rồi vẫn cần ma (mài, E: rub, polish), có ý là đã tốt, hoàn mĩ, tinh xảo rồi còn cầu tốt hơn nữa. (Tinh ích cầu tinh – 精益求精 – jīng yì qiú jīng).

(5) 赐 – Tứ: tên của Tử Cống

(6) 告诸往而知来者- gào zhū wǎng ér zhī lái zhě – cáo chư vãng nhi tri lai giả: 诸, giống như chữ 之 – chi; 往 – vãng: sự tình trong quá khứ, sự tình đã qua; 来 – lai: sự tình trong tương lai, chưa đến.

 

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Tử Cống nói: Bần cùng nhưng không siểm nịnh ton hót, giàu có nhưng không kiêu ngạo tự đại, như thế thì thế nào? Khổng tử nói: Như thế cũng được. Nhưng vẫn không bằng người tuy bần cùng nhưng vui với đạo, tuy giàu có nhưng hiếu lễ (i).

Tử Cống nói: trong sách Thi nói, ‘cần giống như đối với các loại xương, sừng, ngà voi, ngọc thạch, cắt gọt nó, mài giũa nó,’ chính là nói ý này chăng?

Khổng tử nói: Tứ à, đệ tử có thể từ những lời giảng của thầy mà lĩnh hội được những ý tứ thầy chưa nói ra, cử nhất phản tam (ii), thầy có thể cùng đệ tử đàm luận “Thi” rồi.

(i) Chữ “hiếu” là chữ 好, động từ có nghĩa là yêu thích, giống như trong từ hiếu học, chứ không phải hiếu trong trung hiếu.

(ii) Cử nhất phản tam -举一反三 – jǔ yī fǎn sān: phản: dùng một thứ tương tự để giải thích hoặc suy luận ra thứ khác. Ở đây chỉ từ một việc mà suy rộng ra được các việc khác.

 

[Bình luận – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử hi vọng các đệ tử của mình cho đến bất kỳ ai, đều có thể đạt đến ‘bần nhi lạc đạo, phú nhi hiếu lễ’ cảnh giới lý tưởng này, do đó hàng ngày trong lúc giáo dục đệ tử, luôn đem tư tưởng này ra giảng cho họ. Bần nhi lạc đạo, phú nhi hiếu lễ, trong xã hội vô luận là nghèo hay giàu đều có thể yên ổn ở vị trí hoàn cảnh của mình, thì có thể bảo đảm ổn định xã hội. Khổng tử đối với Tử Cống khá hài lòng, trong đoạn hội thoại này có thể thấy điều đó, Tử Cống có khả năng tư duy độc lập, cử nhất phản tam – học một biết mười, do đó đạt được sự tán dương của Khổng tử. Đây là một đặc điểm rõ nét trong tư tưởng giáo dục của Khổng tử.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

无谄 – Vô siểm: người siểm thì nịnh nọt, bợ đỡ, khom lưng uốn gối đối với người khác.

无骄 – Vô kiêu: người kiêu thì khoe khoang, tùy tiện, ngạo mạn đối với người khác. Nghèo cầu nhiều thứ, nên dễ siểm nịnh. Giàu được người khác cậy nhờ vào, nên dễ kiêu ngạo.

可也: so ra là tốt, tốt nhưng vẫn có điểm chưa tốt hết.

未若贫而乐,富而好礼 – vịnhược bần nhi lạc, phú nhi hiếu lễ: có bản sau chữ “lạc” có chữ “đạo.” Nghèo mà có thể không siểm nịnh, giàu mà có thể không kiêu ngạo, đây đều là biết tự giữ bản tính của mình, [nhưng như vậy] vẫn chưa quên [sự phân biệt] giàu nghèo. Lạc đạo- vui với đạo thì sẽ quên sự nghèo túng của bản thân. Hiếu lễ – yêu thích lễ thì sẽ an với việc ăn ở thiện lương, vui với việc noi theo khuôn khép, trong lòng cũng quên đi sự giàu có của mình. Như thế mới càng đáng quý.

如切如磋,如琢如磨 – Như thiết như tha, như trác như ma: câu thơ này có hai giải thích. (Giống như chú thích (4) nên không chép lại ở đây). Theo giải thích của người xưa, thuyết thứ nhất thích hợp hơn.

其斯之谓与 – Kì tư chi vị dư: câu này theo các câu nêu ra phía trước, Tử Cống nghe Khổng tử giảng, biết vô siểm vô kiêu (không siểm nịnh không kiêu ngạo), có thể là do bản chất tốt đẹp tự nhiên từ lúc sinh ra; nhưng việc lạc đạo hiếu lễ (vui với đạo, ngôn hành tuân theo lễ), tất phải trải qua công phu học tập. Theo phần giảng giải ở sau, Tử Cống nghe Khổng tử giảng, vô siểm vô kiêu không bằng lạc đạo hiếu lễ, mà biết ý nghĩa của đạo là vô cùng, càng về sau càng thâm sâu, như sách Thi từng nói. Cái ngộ ra của Tử Cống, có lẽ là ngộ ra sự vô cùng của nghĩa lý (đạo lý). Xét đến nghĩa lý vô cùng, nên không thể bỏ đi học vấn.

告诸往而知来者 – Cáo chư vãng nhi tri lai giả: vãng: thứ đã xảy ra; lai: thứ chưa xảy ra. Theo câu trước mà giải thích, vô siểm vô kiêu không bằng lạc đạo hiếu lễ, là lời Khổng tử đã nói. Còn những lời trong kinh Thi về công phu học vấn, là lời Khổng tử chưa nói, Tử Cống đã ngộ ra đến đây, do đó Khổng tử khen ngợi là có thể cùng Tử Cống bàn về Thi. Theo câu sau mà giải thích, Khổng tử vừa nói vô siểm vô kiêu không bằng lạc đạo hiếu lễ, Tử Cống đã ngộ đến câu Thi này, để thấy tất cả mọi sự việc đều như vậy, không thể yên ổn, hài lòng với thành tựu nhỏ nhoi, mà không cố gắng để truy cầu sự tinh tiến. Cách giải thích đầu thỏa đáng dễ hiểu, cách giải thích sau quanh co phức tạp, nay chọn cách giải thích đầu.

Chương này có thể hiểu như sau: Tử Cống nói: “người nghèo có thể không siểm nịnh, người giàu có thể không kiêu ngạo, như thế có được không?” Khổng tử nói: “thế cũng tính là tốt, nhưng vẫn không bằng nghèo nhưng vẫn có thể vui với đạo, giàu nhưng vẫn biết hiếu lễ, như vậy sẽ càng tốt hơn.” Tử Cống nói: “Thi Kinh từng nói: giống như cắt, gọt, mài, giũa, không phải chính là ý tứ này chăng?” Khổng tử nói: Tứ à! Như thế này, có thể cũng con bàn luận Thi rồi. Nói với con điều này, con đã có thể hiểu đến điều khác.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Phần này nói đến Tử Cống. Chúng ta đặc biệt lưu tâm đến người này. Trước đây đã từng nhắc đến, Tử Cống trong số các đệ tử của Khổng tử, không những là nhà học vấn, mà còn là nhà ngoại giao, nhà chính trị, theo quan niệm hiện đại, còn là một cự tử (ông trùm) trong giới công thương.

Đọc Sử ký của Tư Mã Thiên, có thể thấy một thiên -货殖列传 – Hóa thực liệt truyện, bộ sách Sử ký này, trong lịch sử văn hóa Trung Quốc, có giá trị vô cùng. ‘Hóa thực liệt truyện’ nói về các nhà thương nghiệp, nói về tình hình phát triển kinh tế công thương xã hội. Văn hóa Trung Quốc trong quá khứ trước sau đều là khinh thường thương nghiệp, cái gọi là sĩ, nông, công, thương, đẳng cấp xã hội của thương nhân, ở hàng thấp kém nhất trong tứ dân, bị xã hội coi thường, mà Tư Mã Thiên đã đặc biệt đề cập đến thương nhân, viết ra chương sách này. Lịch sử Trung Quốc về sau đó, mới có tinh thần ‘Hóa thực liệt truyện,’ cũng ghi chép các việc của giới kinh thương. Tư Mã Thiên khi viết ‘Hóa thực liệt truyện,’ là đã nhận thấy sự phát triển của xã hội công thương liên quan đến huyết mạch chính trị quốc gia, không thể không chú ý, nhưng lúc đó không thể thúc đẩy một cách lộ liễu như vậy, cho nên ông đã viết ra ‘Hóa thực liệt truyện,’ ở trong bao gồm rất nhiều các ẩn ý ca ngợi.

[…]

Chúng ta nói đến Tử Cống, lại dẫn dắt đến Sử ký, Tư Mã thiên trong ‘Hóa thực liệt truyện,’ đặc biệt nhắc đến Tử Cống, phi thường giỏi giang, nếu nói cường điệu một chút, tư tưởng học thuyết của Khổng Tử, về sau có thể lưu truyền cho hậu thế, hoàn toàn dựa vào sức của Tử Cống.

Chương này rất đáng chú ý. Các chương trước chủ yếu giảng về học vấn, chương này miêu tả câu chuyện Tử Cống hỏi Khổng tử, như một đoạn phim vậy. Tử Cống nói, thầy ạ, một người rơi vào cảnh nghèo, thiếu may mắn, mà vẫn không nịnh nọt ton hót, không cúi đầu; một người giàu có đắc ý, mà vẫn có thể đối với người khác không kiêu ngạo, như thế nào? […]

Chúng ta thường nghe nói ‘đắc ý vong hình’ (i), nhưng theo kinh nghiệm cuộc sống vài chục năm của ta, cần có thêm một câu, “thất ý vong hình.” Có người vốn là khá tốt, khi anh ta phát tài, đắc ý, xử lý mọi việc đều rất hợp lý, đích đáng, gặp người khác cũng hòa nhã giữ lễ; nhưng một khi anh ta thất ý, đến người khác cũng ko muốn gặp, thể hiện ra một bộ dạng đáng ghét, cảm giác tự ti, các loại phiền não đều đến, con người hoàn toàn thay đổi – thất ý vong hình. Do đó ta mới lĩnh hội được một câu mà Mạnh tử nói: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất (ii). Một người có học vấn, chỉ cần làm được “bần tiện bất năng di” – có thể đạt tới sự thanh nhàn, bình thản, cái gọi là “duy đại anh hùng năng bản sắc”- chỉ có đại anh hùng mới có thể giữ được bản sắc (iii), vô luận đắc ý thế nào cũng vẫn giữ được như vậy, thất ý cũng vẫn như vậy, kể cả không có cơm ăn áo mặc cũng vẫn như vậy, đây gọi là tu dưỡng đến cảnh giới cao, đạt được tu dưỡng như thế này là rất khó.

Do đó câu Tử Cống nói “bần nhi vô siểm, phú nhi vô kiêu,” đích xác không dễ dàng, rất khó đạt được. Nhưng Khổng tử chỉ nói “cũng được” mà thôi. Ở đằng sau hãy còn “nhưng,” nhưng gì? “Vị nhược bần nhi lạc, phú nhi hiếu lễ giả dã.” Anh có thể đạt được đến mức là nghèo, thất ý nhưng không cúi đầu trước người khác, không nịnh nọt, tự cho bản thân như thế là to, không để người khác vào mắt, kì thực lại đầy sự yếu kém trong lòng, hoặc là anh cảm giác người khác tốt hơn, bản thân kém hơn, thế cũng là giữ một loại tâm lý so sánh, tâm lý thù nghịch, do đó tu dưỡng vẫn chưa đủ. Cùng một đạo lý như vậy, anh đạt được giàu có nhưng không kiêu, dùng lễ đối đãi với người khác, do anh cảm thấy bản thân có tiền có địa vị, không dùng thái độ này đối xử với người khác là không được, như thế cũng không đúng, vẫn là giữ cảm giác ưu việt hơn người khác. Do đó nếu đạt đến sự bình dị, thật sự không kiêu ngạo, tức là ở bất cứ vị trí nào, trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng đều có thể bình thường thành thực như vậy, như thế mới là đúng. Vì vậy Khổng tử nói với Tử Cống, như những gì con nói, mới gọi là đạt mà thôi, hãy nên tiến thêm một bước nữa, làm được “bần nhi lạc, phú nhi hiếu lễ.” An bần lạc đạo – An ổn trong cảnh nghèo mà vui với đạo. “An bần” là vô cùng khó, Khổng tử sau đó còn có câu “Quân tử, tố phú quý, hành hồ phú quý, tố bần tiện, hành hồ bần tiện” – quân tử, ở vào cảnh phú quý, nên làm việc người phú quý nên làm; ở vào cảnh nghèo khổ, làm việc người ở cảnh nghèo khổ nên làm (iv). Do đó, có một số người bạn rất xuất sắc, rất thanh cao, lúc nói chuyện phiếm thường hỏi: Anh xem tôi, con người như thế nào? Ta nói: Con người tôi không hoàn toàn đồng ý với anh, anh rất thanh cao, chẳng qua có một chút tùy tiện trong việc truy cầu sự thanh cao. Một người nên thanh cao, nhưng có người theo đuổi sự thanh cao một cách tùy tiện cẩu thả, hoặc vì thể hiện sự thanh cao của bản thân, mà nhẫn nhịn hy sinh. Như thế thật sự là không cần thiết, chính là không bình thường, không bình thường không phải tinh thần chân chính của việc hàm dưỡng, tu dưỡng bản thân. Do đó Khổng tử nói với Tử Cống, cần phải an bần lạc đạo, cần bình thường thành thực, Khổng tử nói nếu như đã đạt đến việc là không kiêu ngạo rồi, vẫn chưa tính là tốt, cần tiến thêm một bước nữa, hiếu lễ, tôn trọng người khác và yêu người khác.

Phú nhi hiếu lễ, chúng ta tiếp xúc với nhân sĩ giới công thương là có thể nhìn ra, những người có tiền trong xã hội, có người vô cùng đáng ghét, không có học vấn (v), mở miệng ra là dung tục không chịu nổi, do đó giàu có không nhất định là hiếu lễ. Hiếu lễ không nhất định là chỉ nói lễ mạo, mà là trong các phương diện học vấn, làm người, luôn luôn cầu tiến. Giả dụ một người thật sự giàu có, có thể không ngừng truy cầu học vấn, không ngừng chú ý đến đạo lý làm người, hành xử, như thế mới là tốt. Có người sau khi công thành danh toại, thường thoát ly dần quan hệ với người thân, bạn bè, đây là việc thật đáng tiếc.

Nói đến đây, lại thấy, biết Tử Cống đã phục thầy, Khổng tử vô cùng xuất sắc, do đó Tử Cống mới nói một câu: ‘Thi vân, ‘như thiết như tha! như trác như ma,’ kì tư chi vị dư!’ Thi này là thơ cổ, ai viết vậy? Là tiền bối cổ nhân viết, thời đó lưu truyền rất rộng. “Như thiết như tha, như trác như ma.” Tám chữ này là dẫn nguyên tác thơ cổ. Bài thơ này nói về phương pháp làm ngọc thạch, lúc mới đầu chỉ có một tảng đá có ngọc to bằng cái mặt bàn. Mua về, trước tiên cần cắt ra, ở trong có thể có hàng trăm mặt nhẫn, cũng có thể chỉ có chục cái. Bước đầu tiên làm vật dụng bằng ngọc, là dùng cưa để cưa tảng đá ra, gọi là thiết (bổ, cắt); tìm thấy ngọc, thì dùng giũa để giũa phần đá ra, là bước thứ hai gọi là tha (giũa); sau khi giũa ra được miếng ngọc, thì từ từ khắc, mài, mài thành hình nhẫn, hình kê tâm (tim gà), hình vòng tay, một hình hay vật dụng nào đó, đây là trác (mài); cuối cùng cần đánh cho bóng lên, khiến cho ngọc phát ra ánh sáng mĩ lệ thu hút, là ma (mài, cọ, xát). Thiết, tha, trác, ma, đây chính là ví dụ cho giáo dục. Một người sau khi sinh ra, cần tiếp thu giáo dục, cần từ kinh nghiệm cuộc sống, mà học hỏi dần, học vấn tăng một bước, công phu càng tinh thế, vượt qua được, học vấn càng khó, vì thế mới “như thiết như tha, như trác như ma, kì tư chi vị dư!.” Câu này đặc biệt đề cao tư tưởng của Khổng tử, như Tử Cống nói: Theo đuổi học vấn như việc chế tạo ngọc, thiết tha trác ma, con hiểu rồi. Sau đó Khổng tử mới trả lời Tử Cống: ‘Tứ dã! Thủy khả dữ ngôn “Thi” dĩ hĩ, cáo chư vãng nhi tri lai giả.’ Khổng tử nói Tử Cống hiểu được đạo lý này, giờ có thể bắt đầu đọc Thư, cũng có thể bắt đầu đọc Thi, vì ta vừa mới chỉ ra đạo lý này, con đã tự suy ra được đạo lý khác. […]

Nhưng câu này nghiên cứu sâu vào lại nảy sinh ra một vấn đề, là vấn đề về “thi” (thơ). Chúng ta biết văn hóa Trung Quốc, trong lĩnh vực văn học, có một quá trình phát triển, đại thể tình hình, từ cái gọi là Hán văn, Đường thi, Tống từ, Nguyên khúc, Minh tiểu thuyết, đến triều Tranh, ta cho là đối liễn, đặc biệt như danh tướng thời kỳ Trung Hưng là Tằng Quốc Phiên, Tả Tông Đường đã phát triển đối liễn đến trình độ cao. Diễn biến hình thái văn học vài nghìn năm của Trung Quốc, đại loại là như vậy.

Trưa hôm nay có một vị học giả, nói đến tác phẩm của rất nhiều người, ông ý nói đã xem qua một số tác phẩm, tùy tiện mà xem, không chú ý lắm. Hiện tại một số tác phẩm xem thật là khó. Ông ý nói là thật vậy. Có một số người có thiên tài văn học, thuận tiện viết vài câu, từ cách viết mà nhìn, liền biết ngay anh ta sẽ có thành tựu trong lĩnh vực văn học; cũng có những người có tài học một đời, nhưng cũng không thể biến thành nhà văn. Mặc dù viết văn có thể viết khá tốt, nhưng đến một trình độ nhất định nào đó, bỏ ra công phu như thế nào cũng không thể đột phá giới hạn của mình, văn chương của anh ta trước sau chỉ như văn chương của một nhà khoa học. […]

Cho đến thơ, trước đây chúng ta đọc sách, có không ít người từ tiểu học (không phải tiểu học ngày nay) đã bắt đầu học thơ. Người nào cũng biết làm thơ, mặc dù có phải nhà thơ hay không, lại là một vấn đề khác. Có người hỏi chúng ta coi trọng việc dạy thơ từ khi nào, đây là một vấn đề rất lớn. Thiên “Vi Chính” tiếp theo sẽ có một phần quan trọng, giải thích cho vấn đề này. Mọi người hay cho rằng, làm thơ chính là không có bệnh mà kêu rên (vi), biến thành thợ làm thơ. Hồi trước cũng có người giễu cợt loại thơ này, cái gọi là “quan môn bế hộ yểm sài phi” (vii) – đóng cổng, đóng cửa, đóng cửa phên, đóng cổng chính là đóng cửa, đóng cửa cũng là đóng cổng, đóng cửa phên cũng là đóng cổng. Bằng trắc rất đúng luật, vần cũng rất đúng, nhưng nếu tập hợp lại với nhau, chẳng có ý nghĩa gì. Đây chính là không có bệnh mà kêu rên, loại văn chương như thế này, thực tại có vấn đề, đã biến thành “quan môn bế hộ yểm sài phi.” […]

Ở đây lời Khổng tử nói với Tử Cống, đề cập đến đạo lý của “Thi” là gì, người làm thơ học thơ, không chỉ là để làm một nhà thơ […]. Mục đích của thơ, không phải là chuyên làm văn học, đạo lý ở trong vô cùng quan trọng. Liên quan đến văn hóa thơ, Khổng tử tiếp theo đã nói với Tử Cống, đọc thơ, không phải là để dạy con trở thành một con mọt sách chua chát, nhất định cần “cáo chư vãng nhi tri lai giả.” Nào phải chỉ làm thơ, chúng ta học lịch sử cũng như vậy, chúng ta tại sao phải học lịch sử? Hiện tại việc học và nghiên cứu lịch sử tại các viện nghiên cứu và khoa lịch sử của các trường đại học, mặc dù đạt được rất nhiều thành tựu, nhưng đối với việc làm người, hành xử, lại không có chút tác dụng nào. Trong quá khứ chúng ta học lịch sử, chủ trương “học dĩ trí dụng” – học là có thể dùng (viii), tinh thần chính là “cáo chư vãng nhi tri lai giả,” hiểu được quá khứ liền biết được tương lai, đây chính là tinh thần của thơ.

Đến cuối cùng, đây chính là kết luận của một thiên Luận ngữ. Mọi người có thể dễ dàng nhận thấy, mở đầu của Thiên thứ nhất “Học nhi” của Luận ngữ: “Học nhi thời tập chi bất diệc duyệt hồ? hữu bằng tự viễn phương lai bất diệc lạc hồ? Nhân bất tri nhi bất uấn bất diệc quân tử hồ?” Chúng ta xem Thiên này kết luận như thế nào?  Có thể thấy mở đầu kết luận liên kết đến nhau.

(i) Đắc ý vong hình -得意忘形 – dé yì wàng xíng (hình ở đây là hình thái; hình dung người đắc ý, cao hứng đến độ mất đi cả tư thế thường ngày. Câu trong Tấn thư, Nguyễn Tịch truyện).

(ii) Nguyên văn câu của Mạnh tử: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, thử chi vị đại trượng phu – 富贵不能淫,贫贱不能移,威武不能屈,此之谓大丈夫. Đây là ba tiêu chuẩn nam tử hán đại trượng phu do Mạnh tử đề xuất: vinh hoa phú quý không thể nhiễu loạn tâm trí được, nghèo khó bần cùng không thể khiến cho thay đổi ý chí được, cường quyền uy vũ không thể làm cho khuất phục được, chỉ khi đạt được 3 tiêu chuẩn này, mới có thể gọi là nam tử hán đại trượng phu chân chính.

(iii) Có một câu ghép từ thời Minh: Duy đại anh hùng năng bản sắc, Thị chân danh sĩ tự phong lưu -唯大英雄能本色,是真名士自风流.

(iv) Quân tử, tố phú quý, hành hồ phú quý; tố bần tiện, hành hồ bần tiện -君子,素富贵,行乎富贵;素贫贱,行乎贫贱 – quân tử, ở vào cảnh phú quý, nên làm việc người phú quý nên làm; ở vào cảnh nghèo khổ, làm việc người ở cảnh nghèo khổ nên làm. Câu này là ở trong Lễ Ký.

(v) Bất học vô thuật -不学无术 – bù xué wú shù (Câu trong Hán thư; nguyên chỉ không có học vấn do đó mà không có biện pháp, hiện chỉ không có học vấn, không có bản lĩnh, tài năng).

(vi) Vô bệnh thân ngâm – 无病呻吟 – wú bìng shēn yín (xuất từ một bài Lâm Giang tiên của Tân khí Tật thời Tống; không có bệnh mà kêu rên; dùng để hình dung không có việc gì ưu thương nhưng lại than thở cảm thương, cũng để hình dung tác phẩm nghệ thuật không có tình cảm thật sự, chỉ giả vờ mà làm thành).

(vii) Quan môn bế hộ yểm sài phi -关门闭户掩柴扉 – đóng cổng, đóng cửa, đóng cửa phên: nói chung để ám chỉ làm thơ lải nhải, trong thơ mỗi câu đều nhắc lại cùng một ý, một sự việc, chỉ là lắp ghép các từ khác nhau lại với nhau.

(viii) Học dĩ trí dụng – 学以致用 – xué yǐ zhì yòng (học được kiến thức là có thể sử dụng trong thực tế).

Hàn sinh

About Hoasinh Anhca
Trì Trung Hoa sinh hưởng lạc - Chi Thượng Anh ca mạn đề

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Rie's Bento & Cooking

in healthy way with Love

Dine with Ruby and Marion

Simple yet Tasty Food

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Tư liệu học thuật chuyên ngành nghiên cứu quốc tế

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: