Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.6

Chương này, ba tiên sinh chọn ba cách giải thích khác nhau, lập luận nào cũng có lý cả. Có lẽ tổng hợp ý của cả ba, mới đủ chăng?

Đoạn giải thích ý nghĩa của chương này trong mối liên kết chặt chẽ với chương trên của Nam Hoài Cẩn rất hay, có thể nói là hình thành nên một cách giải thích thứ tư về đạo hiếu: đối với người làm quan, hiếu không chỉ liên quan đến cha mẹ mình, mà còn là đại hiếu với người thiên hạ, không vi phạm nhân tâm. Khen như vậy, là chấp nhận lập luận cho rằng hai chương này, hoặc là một chương liền mạch, hay tách ra thành hai chương riêng biệt, cũng đều là suy luận của người đời sau cả, không chắc cách nào là đúng, và đúng với ý tưởng nguyên gốc của những người chép nên Luận ngữ.

Ngoài ra, không hiểu Nam Hoài Cẩn có tư thù gì với Khang Hy, mà phải gọi đi gọi lại vị hoàng đế lịch sử này là Khang Ma tử? Căn bản, Khang Hy mặt có rỗ hay không không thấy liên quan gì đến nội dung bình luận ở đây.

Cuối cùng, đọc đến đoạn “…quyền mưu kiểu người Mãn, sách học là Tam Quốc diễn nghĩa, không phải Tam Quốc Chí”, thấy giật cả mình 🙂 Người Việt ta tin Tam Quốc diễn nghĩa sái cổ, cứ cho là thật, mãi đến gần đây mới có người bỏ công ra dịch Tam Quốc chí, mới thấy nền học thuật trì trệ cỡ nào…

 

孟武伯(1)问孝,子曰:“父母唯其疾之忧(2)。”

Mèng Wǔ Bó wèn xiào, zǐ yuē: “fùmǔ wéi qí jí zhī yōu”

Mạnh Võ Bá (1) vấn hiếu, Tử viết: “Phụ mẫu duy kì tật chi ưu (2).”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. Mạnh Võ Bá: Con trai của Mạnh Ý tử, tên Trệ. Võ là thụy hiệu.
  2. 父母唯其疾之忧- Phụ mẫu duy kì tật chi ưu: Kì, đại từ, chỉ cha mẹ. Tật: bệnh.

[Diễn dịch văn – Dương Bá Tuấn]

Mạnh Võ Bá thỉnh giáo Khổng tử về đạo hiếu. Khổng tử nói: “Đối với cha mẹ, cần đặc biệt lo lắng về bệnh tật của họ. (Làm được như thế có thể tính là tận hiếu vậy).”

[Bình giải – Chưa rõ là ai]

Chương này là đáp án của Khổng tử về hiếu cho con trai của Mạnh Ý tử. Đối với lời của Khổng tử rằng “phụ mẫu duy kì tật chi ưu,” cho đến nay có ba cách giải thích: 1) cha mẹ yêu con cái của mình, cái gì cũng có thể làm(i), duy chỉ sợ con cái có bệnh tật, con cái có thể thấu hiểu loại tâm tình này của cha mẹ, trong sinh hoạt ngày thường chỗ nào cũng cẩn thận thận trọng, đây chính là hiếu. 2) Làm con cái, chỉ muốn cha mẹ lo lắng lúc mình có bệnh, nhưng không cần phải lo lắng trong các phương diện khác, thể hiện rõ cái tình của cha mẹ với con cái. 3) Con cái chỉ cần lo lắng về bệnh tật của cha mẹ, còn không cần phải lo lắng về các phương diện khác. Ở đây chọn dùng cách giải thích thứ ba.

(i) Nguyên văn: Vô sở bất chí -无所不至 – wú suǒ bù zhì: không có gì là không đi làm, cái gì cũng có thể làm. Cũng là câu trong Luận ngữ

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

唯其疾之忧- duy kì tật chi ưu: câu này có ba cách giải thích. Thứ nhất, cha mẹ yêu con, không gì không làm (cho con), do vậy thường lo lắng con mình có thể bị bệnh. Con cái có thể đặt mình vào hiểu tấm lòng này, mà trong sinh hoạt hàng ngày thêm phần cẩn thận, tức là hiếu. Hoặc có cách giải thích, con cái thường cẩn thận giữ thân, khiến cho cha mẹ chỉ phải lo lắng lúc bị bệnh, ý là không có gì khác [khiến cha mẹ] phải lo lắng cả. Bệnh của con người, thường không phải tự bản thân có thể khiến cho không có được. Cách giải thích thứ ba, con cái thành tâm hiếu với cha mẹ, có thể dụng tâm quá mức, ngược lại khiến cha mẹ bất an, làm con, chỉ nên lo lắng về bệnh tật của cha mẹ, còn những thứ khác không nên quan tâm quá phận. Mạnh tử nói “phụ tử chi gian bất trách thiện”-giữa cha con không lấy việc tốt ra để làm tiêu chí trách phạt (i),  cũng là ý này. Cả ba cách giải thích đều hợp lý, cách giải thích thứ nhất đối với nguyên văn Luận ngữ có phần vòng vèo hơn, hơn nữa chữ “duy” ngữ khí không sát lắm, thuyết thứ ba là lo lắng duy lúc cha mẹ có bệnh hợp lý hơn. Ở đây theo cách giải thích thứ hai.

Mạnh Võ Bá hỏi: “Đạo hiếu là thế nào?.” Tiên sinh nói: “Để cha mẹ chỉ phải lo lắng lúc ta bị bệnh.”

(i) Nguyên văn: 父子之间不责善 – phụ tử chi gian bất trách thiện. Người sau diễn giải giải thích dài dòng ra, đại loại là cha dạy con làm việc tốt tránh việc xấu, nhưng con chưa chắc có thể làm được ngay, khiến cho kỳ vọng của cha bị tiêu tan, tiếp đó là phẫn nộ, kết quả lại là gây tổn thương cho cảm tình đôi bên….vân vân. Tóm lại là phải suy nghĩ kỹ về cách giáo dục.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Mạnh Võ Bá là người như thế nào? Chính là con trai của người ở trên nhắc đến là Mạnh Ý tử, Mạnh Võ Bá là “thế gia công tử.” Ở đây liên quan đến thế nào là “thế gia,” chế độ cổ đại với hiện đại khác nhau, đặc biệt là thời Xuân Thu, với Ấn Độ, châu Âu cổ đại cũng không giống. Cái gọi là “thế gia” chính là làm quan, đời con cháu đều có chức quan này, tuy nhiên thường là con trưởng kế thừa vị trí quan, chính là thứ gọi là thời đại phong kiến. Tuy nhiên không giống với phong kiến châu Âu, vị trí này không phải là vĩnh viễn, nhà nào không tốt, có thể bị diệt trừ. Ở Trung Quốc loại gia đình được truyền chức xuống này gọi là “thế gia,” con trưởng có quyền kế thừa, con thứ hai cho đến thứ ba, bốn, năm đều ở sang một bên. Mạnh Võ Bá là con trai của Mạnh Ý tử, là thế gia công tử chính thống. Phụ thân vừa hỏi về đạo hiếu (đương nhiên không phải là việc trong cùng một ngày, nhưng người biên tập sách – các học sinh của Khổng tử, đã đem việc này đặt vào một chỗ), con trai Mạnh Võ Bá cũng đến hỏi về hiếu, đáp án của Khổng tử, với đáp án giành cho phụ thân của ông là khác nhau.

Khổng tử nói: “Phụ mẫu duy kì tật chi ưu.” Câu này là nói cha mẹ thấy con cái sinh bệnh, loại lo lắng đau buồn này, sâu đến cỡ nào, con cái cần thấu hiểu loại tâm tình này.

Câu trả lời của Khổng tử hay vô cùng! Câu này, chúng ta cần nói thế này, vấn đề này chỉ có người làm cha mẹ mới có thể chân chính hiểu được [bỏ mấy câu dài dòng và không quan trọng lắm]. Khổng tử đối với Mạnh Võ Bá là nói, đối với cha mẹ cần bỏ ra tâm sức như đối với con mình lúc bị bệnh, quan tâm đến trình độ như thế, mới là đạo hiếu.

Dĩ hiếu trị thiên hạ

Hai đoạn hội thoại này là một chủ đề lớn, bây giờ chúng ta quay ngược lại bàn về điểm thứ nhất. Chúng ta biết văn hóa Trung Quốc rất hay nói đến đạo hiếu, Nho gia càng hay nói về đạo hiếu. Đem Tứ thư Ngũ kinh biên tập lại, thêm “Hiếu kinh,” “Nhĩ nhã” các loại, tập hợp thành một hệ liệt gọi là Thập tam kinh. “Hiếu kinh” là do học sinh của Khổng tử là Tăng tử ghi chép, chúng ta nếu muốn nghiên cứu đạo hiếu, phải xem tư tưởng của Khổng tử đã được hệ thống hóa thành bộ Hiếu kinh này, trong Hiếu kinh nói thế nào mới là hiếu? Không chỉ là đối với cha mẹ cần hiếu, mà còn cần mở rộng ra(i) đại hiếu với thiên hạ, yêu người trong thiên hạ, gọi là đại hiếu.  Người vi chính đem tấm lòng hiếu tử để vi chính, cũng chính là như chúng ta thường nói người làm việc công vụ là công bộc của nhân dân, ở đây là cùng một đạo lý, vì vậy về sau phát triển ra, sau thời Đường, Tống có lập luận rằng “Cầu trung thần tất ư hiếu tử chi môn”- tìm trung thần tất phải tìm từ nhà có con có hiếu. Một người có thể thật sự yêu cha mẹ, yêu gia đình, yêu xã hội, cũng nhất định là trung thần. Do trung thần là phát huy từ một loại tình cảm thương yêu. Giả sử không có trái tim yêu thương cơ bản, bạn nói anh ta có thể tận trung đối với quốc gia dân tộc được không? Ở đây lại có vấn đề. Liên quan đến chữ “trung” có một điểm, là như cổ nhân nói: “Khảng khái quyên khu dị, tòng dung tựu nghĩa nan”(ii). Khảng khái xả thân bỏ mạng so ra dễ dàng hơn, giống như lưu manh đánh nhau, khi đánh rồi, không phải ngươi chết thì là ta chết, nóng lên, thật sự dũng cảm, coi chết như về; giả dụ để cho họ năm phút suy nghĩ xem có nên chết hay không, thì phải cân nhắc, “tòng dung” – chầm chậm, xem họ có thật sự nguyện ý chết không, lúc này rất khó nói. Do đó nói trung thần tất đến từ nhà có con có hiếu, cần người có cảm tình chân thực, nhận thức chân thực, mới có thể đủ để tận trung.

Vì vậy, câu Khổng tử trả lời Mạnh Ý tử không giống (với trả lời Mạnh Võ Bá), Mạnh Ý tử là người theo chính trị, Khổng tử tương đối tôn kính ông ta, câu trả lời so ra tương đối hàm súc (ý tứ kín đáo), chỉ nói “không được vi phạm làm trái,” không được vi phạm cái gì? Ý là không vi phạm làm trái người trong thiên hạ, cần đại hiếu đối với thiên hạ, là đạo lý như vậy. Khổng tử biết câu trả lời như thế này Mạnh Ý tử không nhất định hiểu, kiểu nói như thế này thổ ngữ gọi là歇后语- “hiết hậu ngữ” – lời nói mà phần thứ hai được nói ra sau một lúc ngắt quãng, hoặc hoàn toàn không được nói ra, nhưng mang ý nghĩa của lời được nhắc ở phần một, “ẩn ngữ” […]. Nói suốt nửa ngày, ý nghĩa phần phía sau cần người nghe tự đoán. Tại sao Khổng tử lại trả lời theo kiểu này? Ý nghĩa là nói, anh Mạnh Ý tử thân phận đặc biệt, một khi đã là người theo chính trị, đối với người trong thiên hạ cần phụ trách công đạo, coi người trong thiên hạ như cha mẹ, như vậy mới thật là hiếu, đây là phong độ của bậc đại thần. Vì vậy “vô vi”-không vi phạm, chính là không thể vi phạm nhân tâm.

Khổng tử cũng biết Mạnh Ý tử chưa chắc đã hiểu, do đó đoạn thầy trò đối thoại với Phàn Trì là dụng ý “đánh nha đầu mắng tiểu thư,” biết Phàn Trì cũng nhất định không hiểu, không hiểu thì mặc họ không hiểu, từ từ sẽ truyền giảng, làm công việc giáo dục gián tiếp, do đó đợi lúc học sinh đánh xe mà có đoạn đối thoại này. Loại giáo dục gián tiếp này, so với dạy trực tiếp càng có hiệu quả. Đạo hiếu của một người, có thể làm đến mức như lời nói với Phàn Trì, đã là vô cùng có hiếu; đối với quốc gia đại sự, có thể làm được “vô vi”- “không vi phạm” chính là vị quan vô cùng tốt.

Nhưng Khổng tử đối với câu hỏi về hiếu của vị thế gia công tử Mạnh Võ Bá này, lời đáp rất bất đồng, ông nói đạo hiếu vô cùng đơn giản, chỉ cần nghĩ đến lúc ta bị bệnh, cha mẹ ta lo lắng đến cỡ nào, ta có thể hiểu thế nào là hiếu. Đối với một người mà nói, cái gọi là hiếu là hồi báo tấm lòng yêu thương của cha mẹ, ta chỉ cần nhớ lúc bản thân có chuyện, cha mẹ lo lắng như thế nào, mà dùng tấm lòng y như vậy đối với cha mẹ, chính là hiếu. Nói theo cách khác, anh Mạnh Võ Bá là thế gia công tử, tương lai nhất định sẽ nắm quyền. Chúng ta đọc lịch sử hiểu rõ một câu, chính là sợ nhất thế gia công tử nắm quyền “bất tri nhân gian chi tật khổ” – không hiểu những nỗi thống khổ của nhân gian. Vì vậy đạo lý vi chính, cần biết những nỗi khổ của nhân gian, hiểu rõ nỗi khổ đau của lão bách tính ở các tầng lớp xã hội ở phía dưới là ở chỗ nào. Vì vậy yêu người trong thiên hạ, cần biết sự thống khổ của người trong thiên hạ, cũng giống như cha mẹ hiểu con cái, anh tương lai nắm quyền, tất cần nhớ kỹ đạo lý này. Hai đoạn này đặt vào trong thiên Vi chính, rất là hay.

Đương nhiên thế gia công tử mà không biết nỗi khổ của nhân gian, thường là thất bại, chúng ta thấy Tấn Huệ Đế lúc thiên hạ mất mùa nặng, thái giám nói với ông ta là mọi người không có cơm ăn, ông ta nói: “Sao không ăn thịt?” Ông ta không biết đến cơm còn không có mà ăn, làm sao có được thứ so với cơm còn khó hơn là thịt. Đây chính là không biết nỗi khổ của dân gian. Chúng ta cũng có thể từ lịch sử rút ra một số kết luận, thường các đế vương sáng nghiệp, đều rất tốt, hoàng đế hai ba đời sau “lớn lên ở thâm cung trong tay người hầu thị nữ,” là loại hoàng đế đến gạo từ “cây” nào mọc ra cũng không biết, ta thay họ đặt ra một danh xưng, gọi họ là “hoàng đế chức nghiệp,” họ sinh ra là để làm hoàng đế. Các “hoàng đế chức nghiệp” thường phạm vào một căn bệnh tâm lý – cảm giác tự ti, họ vô cùng tự ti. Do đó các “hoàng đế chức nghiệp” trong lịch sử vô cùng hỏng, đối với quan văn, phản cảm họ học vấn giỏi hơn mình, đối với võ tướng, cũng không thích, cảm giác võ công không được như người ta, vì vậy “hoàng đế chức nghiệp” thường làm ra việc giết trọng thần, bãi chức người làm được việc các loại, khiến cho bản thân họ sẽ thất bại.

Tương tự, ngoài các loại chính trị của đế vương, chúng ta làm bất kỳ một nhiệm vụ gì, đối với các loại công việc lớn nhỏ, đặc biệt đối với các sự vụ thuộc phía dưới, càng không thể mơ hồ.

Sau đó, chúng ta cần thảo luận một vấn đề lớn của đạo hiếu. Văn hóa Trung Quốc, đối với giáo dục gia đình mà nói, thường lấy “trung hiếu truyền đời” để tuyên dương, có thể thấy văn hóa Trung Quốc xem trọng đạo hiếu như thế nào, việc này chúng ta cần hiểu tổng thể văn hóa lịch sử Trung Quốc. Dân tộc, quốc gia Trung Quốc so với các nước Âu Mỹ đều không giống.[…] Quốc gia Trung Quốc, do ảnh hưởng hoàn cảnh địa lý, có thể đạt được “dĩ nông lập quốc”- lấy nông nghiệp để lập quốc, châu Âu không đạt được điều này, đặc biệt là Hy lạp không đạt được điều này, họ muốn sinh tồn, tất phải phát triển thương nghiệp. Lịch sử châu Âu ngày trước, các loại thương nghiệp trên biển, thấy được là làm ăn buôn bán, không thấy được là làm cướp biển, do đó trước thế kỷ 16, phương Tây thiếu tài phú, nghèo nàn một mớ hỗn độn. Sau thế kỷ 16, cướp Ấn Độ, lừa Trung Quốc, tiền vàng mới chảy sang phương Tây, cái gọi là văn hóa, phát triển kinh tế phương Tây vân vân, nguyên lúc đầu đều là như vậy mà thành.

Chúng ta sau khi hiểu văn hóa phương Tây, quay đầu nhìn lại Trung Quốc, Trung Quốc lấy nông nghiệp lập quốc, có một loại văn hóa tinh thần cơ bản bất đồng với phương Tây, chính là xã hội tông pháp (tông trong tông tộc, dòng tộc -nd) Trung Quốc. Sau thời tam đại, do xã hội tông pháp, mới sinh ra phong kiến thời Chu. Phong kiến mà thường được nhắc đến, là hình thức phong kiến phương Tây, không phải phong kiến Trung Quốc, đem hình thái phong kiến Trung Quốc, đặt cùng một chỗ với chế độ nô lệ của văn hóa phong kiến phương Tây, so sánh một chút, có thể thấy hoàn toàn là hai thứ khác nhau, hoàn toàn sai biệt vậy. Phong kiến Trung Quốc, là do tông pháp hình thành nên. Do xã hội tông pháp, tinh thần đạo hiếu, từ trước thời Chu đã kiến lập, sau Tần Hán, do xã hội tông pháp biến thành xã hội gia tộc, cũng là một hình thái xã hội tông pháp, đạo hiếu đối với gia tộc, là phạm vi thu nhỏ lại, nhưng tinh thần vẫn như cũ. Chữ hiếu này, cũng là thứ chúng ta vừa nhắc đến, là mở mang nhân tình thế cố, đem chữ hiếu này của Trung Quốc, thông qua chính trị đề xướng thực hành mà làm rạng rỡ phong khí, là từ khi nào bắt đầu vậy? Là sau Tây Hán, thời Ngụy, Tấn chính thức đề xướng lấy đạo hiếu trị thiên hạ. Chúng ta thấy trong Nhị thập tứ hiếu nổi tiếng có Vương Tường nằm trên băng, ông ta chính là đại thần triều Tấn. Sau triều Tấn, Nam Bắc triều, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh về sau đều là “dĩ hiếu trị thiên hạ.” Chúng ta thấy đại thần các triều đại, mỗi khi vì các vấn đề quan trọng của quốc gia, hoặc các vấn đề yêu thương bảo hộ lão bách tính, trình tấu chương, rất nhiều người đều dùng câu “thánh triều dĩ hiếu trị thiên hạ,” trước hết đem cái mũ to này đội lên đầu hoàng đế, sau đó nên “thế nào thế nào” đưa ra kiến nghị, ở đây chúng ta thấy được các điểm tốt, ưu điểm của việc đề xướng hiếu trong văn hóa Trung Quốc.

Nhưng việc thiên hạ, nói đến chính trị thấy đáng sợ, chúng ta đóng cửa lại nghiên cứu, thấy cũng có người lợi dụng đạo hiếu biến thành thủ đoạn chính trị. Ai đã làm vậy? chính là hoàng đế Khang Hy triều Thanh.

Khang Ma tử dạy hiếu dạy trung

[ý là Khang mặt rỗ, chỉ Khang Hy-nd]

Chúng ta xem lịch sử, thường có thể thấy luật nhân quả, như triều Thanh, cô nhi quả phụ dẫn theo ba trăm vạn người, nhập Trung nguyên, thống trị bốn mươi nghìn vạn dân, đến cuối cùng triều Thanh kết thúc, lại vẫn là cô nhi quả phụ, cắp theo một cái tay nải, quay trở lại quan ngoại. Một giai đoạn lịch sử, bắt đầu như thế nào, cũng kết thúc như vậy, giống như ngớ ngẩn vậy. Lịch sử cổ kim đông tây, cũng gần như hoàn toàn theo luật nhân quả tuần hoàn vãng phục (iii) mà phát triển. Triều thanh cô nhi quả phụ sau khi nhập ải, Thuận Trị còn rất trẻ đã mất, nhưng đây là một đại nghi án của triều Tranh, có thuyết nói Thuận trị không chết, đi xuất gia, đây là một trong các đại nghị án không thể giải quyết trong lịch sử. Tiếp theo Khang Hy là đứa trẻ mới tám tuổi lên làm hoàng đế. Đến 14 tuổi, chính thức tự thân xử lý chính sự. Thành thật mà nói, vào lúc đó nếu như là người tầm thường, phải thống trị một Trung quốc bốn mươi nghìn vạn dân to như vậy, sẽ không có cách nào cả, nhưng đứa trẻ mười bốn tuổi này rất lợi hại, Khang Ma tử – trên mặt Khang Hy có vài vết rỗ đậu mùa – mười bốn tuổi bắt đầu thống trị Trung Quốc mấy chục năm (Khang Hy tám tuổi làm hoàng đế, 14 tuổi thân chính, 69 tuổi mất, tại vị 61 năm). Thiên hạ triều Thanh trong tay ông dần an ổn. Đương thời, trong phần tử tri thức ở Trung Quốc, người phản Thanh phục Minh rất nhiều, như Cố Đình Lâm, Lý Nhị Khúc, Vương Thuyền Sơn, Phó Thanh Chủ những người này đều không đầu hàng, đặc biệt là ở lĩnh vực tư tưởng, học thuyết, công tác phản Thanh phục Minh thực tại rất đáng sợ. Kết quả thế nào? Khang Ma tử lợi dụng chữ “hiếu” của Trung Quốc, đánh hư chiêu một hồi, khiến cho hạt giống phản Thanh thẳng một mạch hai trăm năm sau mới mọc mầm.

Mãn Thanh nhập quan, có ba bộ thư tịch nhất định phải đọc, là ba bộ nào? Binh pháp quyền mưu kiểu người Mãn, sách học là Tam quốc diễn nghĩa, không phải Tam quốc chí, lúc đương thời dường như vương công đại thần đều đọc Tam quốc diễn nghĩa. Bộ thứ hai không đọc công khai, mà đọc bí mật, là Lão tử, lúc đó Khang Hy có một phiên bản Lão tử đặc biệt,  hiện tại đã được xuất bản, chú giải cũng không có điểm nào đặc biệt, nhưng lúc đó mỗi một quan viên triều Thanh, đều cần đọc thuộc “Lão tử”, tìm lời giải cho triết lý chính trị. Một bộ sách khác là “Hiếu kinh.” Nhưng biểu hiện bề ngoài vẫn là tôn Khổng. Nói đến đây, mọi người đọc lịch sử, có thể so sánh với “Văn Cảnh chi trị” (thời trị vì của Hán Văn đế, Hán Cảnh đế) của triều Hán, thiết kế chính trị của “Văn Cảnh chi trị,” trong lịch sử chỉ dùng tám chữ để miêu tả – “Nội dụng Hoàng Lão, ngoại thị Nho thuật” – trong dùng đạo Hoàng, Lão, biểu hiện bên ngoài là Nho. Như thế, Khang Hy đã đề xướng đạo hiếu, biên tập nên một bản ngữ lục – “Thánh dụ,” về sau được gọi là “Thánh dụ bảo huấn” hoặc “Thánh dụ quảng huấn,” tuyên truyền đến tất cả các tổ chức chính trị cao thấp ở địa phương. Trước đây chính trị địa phương được tổ chức như thế nào? Chính là từ đường của xã hội tông pháp, trong từ đường có tộc trưởng, hương trưởng, đều là người tuổi cao đức tốt, học vấn tốt, trong địa phương có có uy tín cao. Mỗi tháng mùng một, ngày rằm, nhất định phải tập trung người trong tộc ở từ đường, tuyên giảng thánh dụ, những lời trong thánh dụ điều nào cũng là đạo lý làm người, làm việc, đưa tư tưởng Nho gia vào, đặc biệt là đề xướng đạo hiếu. Tiến thêm một bước phân tích, Khang Hy hiểu sâu sắc tinh thần hiếu nhưng lại vận dụng mặt trái của nó. Cần biết rằng Khang Hy đem mỗi một người trẻ tuổi huấn luyện thành cái gì cũng nghe lời cha mẹ, như thế đâu có ông lão, bà lão nào muốn con mình đi làm việc giết người tạo phản? Do đó Khang Hy dùng mặt trái [của hiếu], dùng đến hết sức cao minh. Đây là kỳ thứ nhất.

Kỳ thứ hai: lúc đó Lý Nhị Khúc ở Thiểm Tây, giống Cố Đình Lâm, là phần tử tri thức không đầu hàng, ông dạy học ở Quan Trung, do đó về sau mấy người Cố Đình Lâm này, rất hay chạy về Thiểm Tây, ngấm ngầm tổ chức phản Thanh phục Minh. Khang Hy rõ ràng biết hết, hoàng đế ngược lại triệu Lý Nhị Khúc làm quan, tất nhiên Lý Nhị Khúc không làm. Về sau lúc Khang Hy đến Ngũ Đài Sơn cùng tuần sát Thiểm Tây, đặc biệt mệnh lệnh xuống đốc phủ Thiểm Tây, biểu thị tôn sùng tiên sinh Lý Nhị Khúc là nhà đại Nho lúc bấy giờ, là thánh nhân đương thời, nhất định cần tự mình đi bái phỏng Lý Nhị Khúc. Đương nhiên, Lý Nhị Khúc cũng biết đây là Khang Hy chơi một ván cờ cuối cùng, do đó Lý Nhị Khúc nói là bệnh, không thể tiếp giá. Nào biết Khang Hy lại nói không sao cả, vậy thì sẽ đến gần chỗ Lý Nhị Khúc dạy học, đặc biệt nói cần thăm bệnh Lý Nhị Khúc. Như thế này có thể bức Lý Nhị Khúc, nếu Khang Hy đến nhà, Lý Nhị Khúc chỉ cần dập đầu lạy, có thể tính là đầu hàng vậy, đây là vấn đề khí tiết dân tộc của văn hóa Trung Quốc; do đó Lý Nhị Khúc không có cách nào khác phải thể hiện bị bệnh, nằm trên giường, bệnh đến mức không dậy được. Nhưng Khang Hy đến gần chỗ Lý Nhị Khúc, một đội quan viên từ đốc phủ Thiểm Tây trở xuống, đều đi đằng sau hoàng đế, chuẩn bị đi xem bệnh Lý Nhị Khúc. Khang Hy trước hết nghe ngóng một hồi, nói Lý Nhị Khúc thật sự có bệnh, đồng thời, Lý Nhị Khúc cũng không có cách nào khác, đành sai con trai của mình đi gặp Khang Hy, trình bày một hồi. Nhưng Khang Hy rất cao minh, cũng không miễn cưỡng đi Lý gia. Nếu ngược lại, ông nhất định đến Lý gia, Lý Nhị Khúc mắng ông một trận, tất không giết Lý Nhị Khúc không được. Giết rồi, khơi dậy thù ghét dân tộc. Không giết, thì mất sự tôn nghiêm của hoàng đế, không xuống đài được, do đó ông đã không đi. An ủi con trai Lý Nhị Khúc một trận, yêu cầu truyền đạt lại ý tứ của mình, còn giao phó cho quan lại địa phương, cần chiếu cố chăm sóc Lý Nhị Khúc thỏa đáng. Còn nói với họ, vì bản thân là hoàng đế, không thể không quay về kinh thành xử lý triều chính, quan địa phương có thể sớm tối học tập Lý Nhị Khúc, thật là rất có phúc khí. Khang Hy vận dụng lần này, chính là đem mặt tốt của văn hóa Trung Quốc, biến thành quyền thuật của mình. Nhưng việc thật sự làm con người ta cảm khái, là người đời sau, không đem những lỗi này gán vào quyền thuật của Khang Hy, ngược lại đều trút vào người Khổng Mạnh, do đó học thuyết Khổng tử bị đánh đổ, Khổng tử bị mắng chửi, đều quá oan uổng vậy.

Thực sự mà nói, tinh thần đạo hiếu tuyệt đối là đúng, nếu nói lý do đạo hiếu là đúng, thì rất nhiều rất nhiều, hiện tại đang nói về Luận ngữ, không tiếp tục nói ngoài lề quá nhiều, chỉ ở trong phạm vi này mà nêu ra, có thể hiểu “hiếu” có thể trị thiên hạ. Do mỗi người hiếu với cha mẹ mình, mở rộng ra yêu mọi người trong thiên hạ, chính là tinh thần hiếu. Chỗ sâu sắc hơn của tinh thần này, chúng ta xem lại Hiếu kinh, có thể hiểu được.

(i) Nguyên văn: 扩而充之 – kuò ér chōng zhī – khoáng(khoách) nhi sung chi: mở rộng ra phạm vi lớn, làm đầy nội dung. Câu trong sách Mạnh tử.

(ii) Nguyên văn: 慷慨捐躯易,从容就义难

(iii) Nguyên văn: 循环往复 – xún huán wǎng fù – tuần hoàn vãng phục. Sự vật cứ chuyển động một vòng lại một vòng, một lần lại một lần, như không bắt đầu không kết thúc. Câu trong Sử ký

Hàn

 

Advertisements

About Hoasinh Anhca
Trì Trung Hoa sinh hưởng lạc - Chi Thượng Anh ca mạn đề

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Rie's Bento & Cooking

in healthy way with Love

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: