Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.10

子曰:“视其所以(1),观其所由(2),察其所安(3),人焉廋(4)哉?人焉廋哉?”

Zǐ yuē:  “shì qí suǒyǐ, guān qí suǒ yóu, chá qí suǒ ān, rén yān sōu zāi? rén yān sōu zāi?”

Tử viết: “thị kì sở dĩ (1), quan kì sở do (2), sát kì sở an (3), nhân yên sưu (4) tai? Nhân yên sưu tai?”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn ]

  1. 所以 – suǒyǐ – sở dĩ: việc làm ra.
  2. 所由 – suǒ yóu – sở do: con đường đi qua.
  3. 所安 – suǒ ān – sở an: tâm tính quen như thế nào.
  4. 廋 – sōu – sưu: ẩn tàng, ẩn giấu

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “(để hiểu một người), phải xem động cơ ngôn hành (lời nói hành động) của anh ta, quan sát con đường anh ta chọn đi, khảo sát anh ta để tâm làm cái gì, như thế, con người này làm sao có thể ẩn giấu được đây? Con người này làm sao có thể ẩn giấu được đây?”

[Bình giải – Dương Bá Tuấn]

Đoạn văn này nói đến vấn đề làm sao để hiểu người khác. Khổng tử cho rằng, đối với người khác phải nghe anh ta nói gì, xem anh ta hành động như thế nào(i), vẫn còn cần xem tâm tính của anh ta lúc làm việc, từ ngôn luận, hành động của anh ta đến nội tâm của anh ta, hiểu cách toàn diện quan sát một người, như vậy người này không có gì ẩn giấu được.

(i) Nguyên văn: 听其言而观其行 – tīng qí yán ér guān qí xíng – thính kì ngôn nhi quan kì hành: không những nghe nói gì mà còn phải xem hành động thực tế như thế nào. Cũng là câu trong Luận ngữ.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

所以 – sỡ dĩ: dĩ, nghĩa là nguyên nhân. Vì nguyên nhân nào mà làm việc này, ở đây chỉ động cơ và dụng tâm của hành vi một người. Hoặc có thuyết: dĩ, nghĩa là 为 – “vi” (làm việc gì). Nhìn việc làm của một người, có thể biết người đó.

所由 – sở do: do, nghĩa là 经由- “kinh do,” thông qua, kinh qua (con đường nào). Cùng một việc, chọn các đường lối khác nhau, hoặc thích con đường nhanh chóng, hoặc đường mạo hiểm, hoặc đường lớn bằng phẳng. Ở đây nói về xu hướng và tâm thuật, tính toán trong lòng về hành vi một người.

所安 – sở an: an, nghĩa là an định an lạc. Miễn cưỡng làm gì, tất sẽ không an không lạc, dễ sinh ra thay đổi. Ngược lại, vui sẽ không mệt mỏi, an ổn sẽ không biến đổi. Ở đây nói về tâm thái hoặc hứng thú đối với hành vi.

视,观,察: thị, quan, sát: ba từ này có thứ tự nông sâu. Thị xem vào một việc, quan xem từ tổng thể, sát xem từ chỗ nhỏ nhất trở đi.

人焉廋哉 – nhân yên sưu tai: sưu, nghĩa là tàng ẩn, ẩn giấu. Do cách nhìn người mà được miêu tả ở trên, không người nào có thể ẩn giấu. Nhắc lại, do vậy khẳng định không gì có thể giấu diếm.

Chương này Khổng tử dạy phương pháp quan sát người khác, tất phải quan sát từ nhiều phía, nhân cách và tâm địa của một người, sẽ không thể ẩn giấu được. Do vậy người học cũng có thể dựa vào đây mà “tự tỉnh” – tự kiểm điểm bản thân, khiến cho việc làm người của bản thân, như được nhìn thấu qua, mà không tự lừa dối chính mình. Nếu không như vậy, lại để cho bản thân giấu diếm bản thân, thì làm sao còn có thể quan sát người khác?

Hoặc nói, quan sát người khác tất phải từ những thứ dễ thấy, giả sử mỗi việc đều phải xem ý nghĩa của nó là từ đâu mà ra, đến mức chưa chi đã hoài nghi người khác là giả trá, suy đoán người khác là không thành thật, luận việc, trách phạt dựa trên động cơ chứ không phải sự việc, là không nên vậy.  Do vậy chương này là từ dấu tích cụ thể mà quan sát tâm, từ sự việc mà xem ý, người học cần kỹ càng mà làm cho rõ.

Tiên sinh nói: “Cần quan sát anh ta tại sao lại làm việc này, lại quan sát anh ta làm theo kiểu nào, lại quan sát lúc anh ta làm việc này tâm tình như thế nào, an ổn hay không an ổn. Theo như thế này mà quan sát, người nào có thể ẩn giấu vào chỗ nào được! Người nào có thể ẩn giấu vào chỗ nào được!”

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Từ đây trở đi, văn chương liền chuyển, chính thức nói đến đạo lý Vi chính.

Tử viết: “thị kì sở dĩ, quan kì sở do, sát kì sở an, nhân yên sưu tai? Nhân yên sưu tai?”

Đây là đạo lý quan sát người khác của Khổng tử.

Nói đến đạo lý quan sát người khác, chúng ta đều biết việc xem tướng tính mệnh, đặc biệt hiện nay rất thịnh hành. Hai việc này, ở Trung Quốc đã có lịch sử vài ngàn năm, ở các quốc gia khác trên thế giới, cũng có phương pháp xem tướng Italia, Nhật Bản vân vân. Từ đây có thể thấy ở bất kỳ quốc gia dân tộc nào, đều rất thịnh hành. Nói đến lịch sử xem tướng của người Trung Quốc, có từ rất sớm. Thời Xuân thu Chiến quốc đã có rất nhiều, nói chung, người Trung Quốc xem tướng, có kỹ năng riêng, bao gồm các loại lưu hành trên thị trường hiện nay, Ma Y, Liễu Trang, Thiết Quan Đao(i), cho đến các loại xem tay, xem chỉ tay do người Italia, Nhật Bản hiện đại nghiên cứu ra, rất nhiều thứ mới đều thêm vào, nhưng cũng không ra khỏi phạm vi phương pháp xem tướng Trung Quốc. Nhưng người TQ hãy còn một kiểu xem tướng khác, gọi là “thần tướng” hoặc “tâm tướng,” rất thâm sâu khó hiểu.

“Thần tướng,” không phải là dựa trên “hình thái” (dáng vẻ thái độ bên ngoài) để xem, là là xem “thần thái” (tinh thần thể hiện ra); hãy còn một loại “tâm tướng,” là dựa trên cơ sở lập trường văn hóa TQ, tuyệt đối duy tâm (không phải là duy tâm trong triết học phương Tây), do đó có mấy câu danh ngôn: “hữu tâm vô tướng, tướng do tâm biến. Hữu tướng vô tâm, tướng tùy tâm chuyển”(ii) – một người tư tưởng chuyển biến, hình thái cũng sẽ chuyển biến, ví như chúng ta nói một người chuẩn bị nổi nóng, làm thế nào để biết? Bởi vì từ tướng của anh ta có thể nhìn ra được, tâm lý anh ta nổi nóng, thần kinh sẽ khẩn trương, dáng vẻ sẽ thay đổi. Do vậy, xem tướng là khoa học. Có người nói, người có ấn đường rất hẹp thì lòng độ lượng nhất định ít, ấn đường – cự ly giữa hai đầu lông mày – rất rộng thì lòng độ lượng lớn, đây là lý lẽ thế nào? Có người tính cách trời sinh, gặp chút chuyện không như ý, liền chau mày, dần dần da ở ấn đường sẽ nhăn lại, đây là lý lẽ đương nhiên. Còn có người nói người lộ răng cửa thường đoản mệnh, do anh ta lộ răng, khi ngủ miệng không khép được, khi hô hấp các thứ bẩn đều vào cơ thể, đương nhiên sức khỏe sẽ có vấn đề. Còn rất nhiều lý lẽ cùng dạng như thế này, nhưng người xưa xem tướng, chỉ biết đến biểu hiện bên ngoài của sự vật mà không biết đến bản chất nguyên nhân phát sinh ở bên trong(iii). Hỏi họ nguyên nhân là gì, họ nói: là trong sách nói vậy. Trên thực tế, những thứ này là từ kinh nghiệm mà ra.

Có người nói, danh thần Tăng Quốc Phiên thời Thanh trung hưng có mười ba môn học vấn, lưu truyền lại còn mỗi một môn – Tăng Quốc Phiên gia thư, còn lại đều không còn, kỳ thực truyền lại còn hai môn, một môn khác là học vấn xem tướng Tăng Quốc Phiên – bộ sách “Băng Giám.” Bộ này bao gồm cả lý luận xem tướng, không giống với các sách tướng số khác. Tăng Quốc Phiên nói: “功名看器宇” – công danh khán khí vũ, nói đến khí vũ (khí độ, dáng vẻ), rất rắc rối phiền phức. Đây lại nói đến triết học TQ, ở đây liên quan đến văn học, chữ “khí” giải thích thế nào? Chính là các loại sự vật. “Vũ” là đại biểu cho thiên thể (vũ trong vũ trụ – nd). Cái gì gọi là “khí vũ”? Chính là hình thái cấu tạo thiên thể. Miễn cưỡng có thể giải thích như vậy. Sự vật ở TQ, chính là khiến người ta chán ghét như vậy, như người TQ nói: người này phong độ không tồi. Thổi qua là “phong” (gió-nd), đo rộng bao nhiêu dài bao nhiêu là “độ.” Còn về “phong độ” của một người thì không nói cụ thể được, đây là một từ hình dung có tính trừu tượng, nhưng cũng rất khoa học, ví dụ như ở chỗ đông người, mà trong đó có một người, khiến mọi người đều chú ý, người này không nhất định xinh đẹp, biểu hiện bề ngoài cũng không có gì đặc biệt, nhưng anh ta làm cho tâm lý mọi người cảm thấy anh ta không giống với những người khác, đây gọi là “phong độ.”

“功名看器宇” – “Công danh khán khí vũ,” chính là người này có công danh hay không, cần phải xem phong độ của anh ta.

“事业看精神” – “Sự nghiệp khán tinh thần,” điều này là tất nhiên, một người tinh thần không tốt, làm chút việc liền mệt, thì có thể có sự nghiệp tiền đồ gì?

“穷通看指甲” – “Cùng thông khán chỉ giáp,” muốn biết một người có tiền đồ hay không thì xem móng tay, móng tay với tiền đồ của con người có quan hệ như thế nào? Tuyệt đối có quan hệ. Theo sinh lí học, móng tay có thành phần chủ yếu là canxi, canxi không đủ, chính là thể lực kém, thể lực kém thì không có tinh thần cạnh tranh. Có một số người móng tay không như hình viên ngói mà mỏng mỏng, thì biết loại người này thể chất vô cùng yếu, nhiều bệnh.

“寿夭看脚踵” – “Thọ yểu khán cước chủng,” mệnh dài hay ngắn, xem gót chân của anh ta lúc đi lại. Tôi từng có một học sinh, lúc đi lại gót chân không chạm đất, anh ta quả nhiên đoản mệnh. Loại người này một là đoản mệnh, hai là thông minh nóng nảy, việc giao cho anh ta, anh ta làm rất nhanh, nhưng không thiết thực.

“如要看条理,只在言语中”- “Như yếu khán điều lí, chỉ tại ngôn ngữ trung,” một người tư tưởng như thế nào, thì xem anh ta nói năng có mạch lạc không, loại phương pháp xem này rất khoa học.

Loại học vấn này ở Trung Quốc cũng gọi là “hình danh chi học,” từ thời Ngụy Tấn đã lưu hành. Có một bộ sách, “Nhân vật chí,” mọi người có thể thử đọc, sẽ có chỗ hữu ích, do Lưu Thiệu thời Ngụy soạn, Lưu Bỉnh thời Bắc Ngụy chú giải, chuyên bàn luận về con người, nói cách khác là khoa học về “người.” Gần đây lưu hành loại khoa học quản lý nhân sự, phân loại chức nghiệp, các loại này đều xuất phát từ ngoại quốc. Mà “Nhân vật chí” của chúng ta, còn hay hơn,  là “quản lý nhân sự,” “phân loại chức nghiệp” chân chính, chỉ ra những người nào thuộc loại nào. Có những người thuộc loại theo sự nghiệp, có những người tuyệt đối không phải loại theo sự nghiệp, không nên sắp xếp sai, có người có học vấn, không nhất định có tài năng, có người có tài năng không nhất định có phẩm đức, người có học vấn lại có tài năng lại có phẩm đức, là người hạng nhất, loại người này lại không có nhiều.

Trước đây có một người bạn già, đọc sách không nhiều, nhưng từ kinh nghiệm nhân sinh, có được mấy câu, rất có ý nghĩa, ông nói: “người thượng đẳng, có bản sự không có tính nóng; người trung đẳng, có bản sự lại cũng có tính nóng; người mạt đẳng, không có bản sự nhưng tính nóng nhiều.” Đây có thể gọi là danh ngôn, cũng là học vấn của ông. Do vậy mọi người lập thân xử thế, cần biết có người có học vấn, trong nhiều trường hợp sẽ có tính nóng, cần phải bao dung nhẫn nại đối với họ, dùng sở trưởng của họ – học vấn, không tính toán với sở đoản của họ – tính nóng. Anh ta nổi nóng không phải là có ác ý với bạn, mà là bản thân anh ta có tật, vốn là chỗ khiếm khuyết của anh ta, với bạn có quan hệ gì?  Bạn muốn nói về đạo hiếu,  trong đạo quân (đạo làm vua) bạn cần yêu thương anh ta, tôn trọng anh ta […].

Bộ sách thứ hai cần nghiên cứu là bộ nào? Chính là “素书”-“Tố Thư” do Hoàng Thạch Công truyền cho Trương Lương. Bộ sách này rất khó nói có phải là sách làm giả hay không, nhưng  chính xác là kết tinh văn hóa TQ. Đối với đạo lý làm người xử thế nhìn nhận người khác, có rất nhiều kiến giải triết học rất thâm thúy, cũng có thể nói là sách xem tướng, sách này không hề nói về lông mày dài sẽ như thế nào, sống mũi dài sẽ thế nào, sách này không có mấy loại như thế, mà là phương pháp xem tướng chân chính. Lông mày, mũi, mắt, đều không xem, đại khái chỉ xem một người xử thế có thái độ và phương thức thế nào. Mạnh tử cũng thích xem tướng, chẳng qua ông không treo biển hành nghề, ông chú ý vào nhãn thần (thần thái ánh mắt) của người ta, người quang minh chính đại nhãn thần nhất định rất đoan chính; thích hướng lên trên nhất định rất kiêu ngạo; thích nhìn xuống sẽ động tâm tư; thích nhìn xéo, ít nhất là tâm lý có vấn đề. Đây là nhãn thần trong xem tướng, là phương pháp xem tướng của Mạnh tử, cũng có thể gọi là “nhãn khoa” trong xem tướng.

Khổng tử quan sát người khác, giảng về nguyên tắc. “Thị kì sở dĩ” – xem mục đích của anh ta là gì? “Quan kì sở do” – biết nguyên lai, động cơ của anh ta[bỏ một đoạn kể chuyện, nêu ví dụ], xem cả quá trình hành động của anh ta. “Sát kì sở an,” lại xem xem anh ta bình thường an vui quen thuộc với cái gì? Có khả năng an ổn hài lòng với hiện thực không. Ví dụ có một số người rất khó an vui, có một người bạn hơn bảy mươi tuổi, đã đầu tóc đã bạc hết, là người đọc sách, học vấn rất nhiều. Vừa mới nghỉ hưu, vợ mất, trong đời sống hàng ngày đánh mạt chược thì không có hứng thú, thư pháp tốt nhưng không có hứng thú viết chữ, người đọc sách vốn có thế đọc sách, nhưng cầm đến quyển sách, thì muốn ngủ, nằm xuống lại ngủ không được – nói đến đây, mong các bạn trẻ chú ý, người có tuổi rất đáng thương, có mấy việc tương phản: ngồi thì muốn ngủ, nằm xuống thì ngủ không được. Khóc thì không có nước mắt, cười lên lại cười ra nước mắt. Nói chuyện hiện tại, vừa nói vừa quên, đối với chuyện quá khứ, đến chuyện lúc bé cũng nhớ ra. Nói lời hay với họ thì không nghe thấy, mắng thì lập tức nghe thấy. Đây là thảm trạng của người có tuổi – bởi vì ông ấy quá quạnh hưu tịch mịch, việc gì cũng không có hứng thú, tốt nhất là kết bạn với một người bạn nữ, tôi khuyên ông không nhất thiết phải kết hôn. Hoàn cảnh như của ông, chính là người có tuổi mà không có chỗ an, tâm không thể an, đây là người già, nhưng người trẻ cũng như vậy. Đây là vấn đề tâm lý, một người tiến hành tu dưỡng học vấn, nếu bình thường không có một chỗ an ổn, thì rất có vấn đề. Có một số người lúc có việc làm, tinh thần rất tốt; lúc không có việc làm, thì tâm không thể an, có thể thấy để an được tâm là rất khó.

Khổng tử dựa vào ba điều này để quan sát người khác, do vậy ông nói “nhân yên sưu tai! Nhân yên sưu tai!” “Sưu” này là có ý nghĩa trốn tránh. Lấy “thị kì sở dĩ, quan kì sở do, sát kì sở an” ba phương diện trọng yếu này ra quan sát người khác, thì không gì có thể trốn tránh được. Xem bất kỳ người nào làm người xử thế, mục đích của anh ta là gì? phương pháp làm của anh ta như thế nào? (ý trước là thuộc phương diện tư tưởng, ý sau là thuộc phương diện hành vi). Ngoài ra, lại xem hàm dưỡng của anh ta lúc bình thường, anh ta an vui với cái gì? Có người quen tầm lạc, có người quen với cảnh nghèo khó, có người quen với bình đạm. Khó nhất là bình đạm, người an vui với bình đạm, sự nghiệp gì cũng có thể làm. Do anh ta sẽ không bị sự nghiệp vây khốn, câu này là như thế nào? Người an vui với bình đạm, hôm nay phát tài, sẽ không cảm giác bản thân có nhiều tiền khiến cho ngủ không nổi; nếu nghèo, cũng sẽ không cảm giác nghèo, sẽ không cảm thấy tiền đối với anh ta có gì uy hiếp. Do vậy an tâm là khó nhất. Đem ba phương diện quan sát người khác này, đặt trong thiên Vi chính, liền biết trọng điểm của việc khích lệ hay phẩm bình người khác là nằm ở ở đâu.

(i) Tên các loại phương pháp/trường phái xem tướng. Có các sách Ma Y tướng pháp (người đời sau truyền tác giả là Ma Y Đạo giả thời Tống – Ma y có nghĩa là áo gai), Liễu Trang thần tướng (tác giả là Viên Liễu Trang thời Minh), thần tướng Thiết Quan Đao (tác giả khuyết danh, sách từ thời Minh/Thanh).

(ii) Kiểm tra trên mạng, thấy câu chính xác là như này: 有心无相,相随心生;有相无心,相随心灭: hữu tâm vô tướng, tướng tùy tâm sinh; hữu tướng vô tâm, tướng tùy tâm diệt. Mạng giới thiệu là thuật ngữ thường dùng trong Phật giáo, nhưng có nguồn gốc sâu xa từ Quỷ Cốc tử thời Xuân Thu.

(iii) Nguyên văn: 知其然而不知其所以然 – zhī qí rán ér bù zhī qí suǒ yǐ rán – tri kì nhiên nhi bất tri kì sở dĩ nhiên. Câu từ đời Đường.

 

Advertisements

About Hoasinh Anhca
Trì Trung Hoa sinh hưởng lạc - Chi Thượng Anh ca mạn đề

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Rie's Bento & Cooking

in healthy way with Love

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: