Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.11

子曰:“温故而知新(1),可以为师矣。”

Zǐ yuē:  “wēn gù ér zhī xīn, kěyǐ wéi shī yǐ.”

Tử viết: “Ôn cố nhi tri tân (1), khả dĩ vi sư hĩ.”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 温故而知新 – wēn gù ér zhī xīn – ôn cố nhi tri tân: cố, đã qua rồi; tân, tri thức vừa mới học được.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “lúc ôn tập kiến thức cũ, có thể có lĩnh hội mới, phát hiện mới, thì có thể làm thầy giáo được vậy.”

[Bình giải – Không rõ của ai]

“Ôn cố nhi tri tân” là một trong những cống hiến trọng đại của Khổng tử đối với nền giáo dục học nước ta, ông cho rằng, không ngừng ôn tập kiến thức đã học được, từ đó có thể có được kiến thức mới. Phương pháp học tập này không những trong thời kỳ phong kiến có giá trị, mà hiện nay cũng có tính thích ứng không thể phủ nhận. Kiến thức mới, học vấn mới của con người thường là dựa trên nền tảng kiến thức đã học mà phát triển lên. Vì vậy, ôn cố nhi tri tân là một phương pháp học tập hoàn toàn có thể sử dụng được.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

温故而知新 – ôn cố nhi tri tân: ôn, nghĩa là hâm (thức ăn) cho nóng lại. Người hâm đồ dựa vào lửa để nấu chín vật. Người sau phân ra lửa mạnh gọi là 煮- chử- nấu, thổi; lửa chậm gọi là 温 – ôn – hâm nóng, ôn (hâm nóng) giống như tập (học đi học lại, tập đi tập lại) vậy. Căn cứ vào chữ có hai cách giải thích: Một là, những gì nghe được biết được trước đây là cố, những gì mới có được, hiểu được hiện nay là tân. Một cách giải thích khác là: cố như cố sự, điển cố. “Lục kinh” đều thuật lại các chuyện trước đây, nhắc đến tiên vương. Tri tân là thông hiểu các đạo nghĩa lớn trong đó, thông qua xem những thứ do hậu thế viết ra, như của các nhà nho thời Hán.

可以为师 – khảdĩ vi sư: theo giải thích ở trên, luôn ôn tập kiến thứ cũ mà đạt được hiểu biết mới, đây là tâm đắc(i) của người học. Có tâm đắc, những gì học được là của ta, có thể học tức là có thể dạy, xưa gọi là khả dĩ vi sư. Nếu chia ôn cố tri tân thành hai việc riêng nhau, cố là thứ đạt được ở bên ngoài, tân vẫn là thứ đạt được ở bên ngoài, tóm lại là kiểu học thuộc lòng để trả lời câu hỏi. Cái học được bên ngoài, dù kiến thức vô cùng, học thuộc tuy phong phú, nhưng không phải tâm đắc, đã không thể học, thì không thể dạy. Chỉ thành mua rẻ bán đắt để có chút lời, sao đủ để làm thầy? Song tâm đắc cũng không phải là không dựa vào cái gì mà tự sáng tạo ra, mà là từ những kiến thức đã có mà ngộ ra thứ mới, đem trong ngoài mới cũ hợp lại thành một, chỉ như vậy mới có thể được gọi là học. Theo lời giải thích thứ hai, sự vật biến hóa vô cùng, cái gọi là tân, đều là ngày trước chưa trải qua, người thầy nếu không truyền lại (kiến thức cũ), hoặc chỉ ôn cố mà không thể tri tân, thì hẳn sẽ ưu lo vì sự học bị kiệt tận mà đạo bị mất đi. Cho nên duy ôn cố mới có khả năng tri tân, mới có thể đủ điều kiện để làm thầy. Hai cách giải thích này, lời khác nhau nhưng nghĩa là một, người học cẩn thận tham khảo.

Chương này tân và cố hợp nhất, dạy và học hợp nhất, ôn cố cần phải có lòng cầu tri tân, có thể học sau đó có thể dạy, nếu chỉ muốn ghi nhớ, thuộc lòng, không thể biết đến cái mới, thì không đủ để đảm đương việc giảng dạy. Ý nghĩa rất sâu xa thâm thúy.

Tiên sinh nói: “có thể từ ôn tập tri thức cũ mà khai mở, ngộ ra kiến thức mới, là có thể làm thầy vậy.”

(i) Nguyên văn: 心得. Từ tâm đắc này khác với nghĩa tâm đắc người VN hay dùng. Tâm đắc có nghĩa là tri thức lĩnh hội được; trong tim lĩnh hội mà có được.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Câu này, chúng ta đều rất quen thuộc.

Từ văn tự giải thích, mọi người đều biết, ý nghĩa chính là ôn tập quá khứ, hiểu biết hiện tại, thì có thể làm thầy giáo của người khác. Theo giải thích câu chữ bề ngoài, chỉ là như thế thôi, còn trên thực tế chúng ta phải hiểu một bước sâu hơn. “Ôn cố”- nói đến quá khứ chúng ta cần biết, ví dụ như nói về lịch sử TQ, trên dưới năm ngàn năm, 25 bộ sử lớn, rất không dễ dàng, nếu như học lịch sử, mục đích không phải là ở chỗ có được học vị,  thì là vì cái gì? Vì “ôn cố tri tân,” nhận thức được về quá khứ, thì biết được vị lai, như thế, “khả dĩ vi sư hĩ,” quá khứ chính là thầy giáo của ta, “tiền sự bất vong, hậu sự chi sư dã”(i). Ôn cố mà tri tân chính là ý nghĩa này. Đây là đạo lý gì vậy? Bởi vì thành công hay thất bại trước mắt, của một người cũng thế, của một quốc gia cũng thế, như thế nào mà thành công, như thế nào mà thất bại, lịch sử nói cho chúng ta rất nhiều điều. (Tôi) Vừa mới nói chuyện với người khác, có đề cập đến, thế hệ thanh niên hiện đại học hành thật khó, không những phải biết gốc rễ truyền thống văn hóa TQ của bản thân – quá khứ, lại còn phải biết các tri thức mới của xã hội hiện tại, không những là việc trong nước, việc ngoài nước cũng phải nắm rõ, cổ kim trong ngoài đều cần hiểu, do vậy người vi chính, càng phải chú ý đến việc này, vi chính đến cùng là cần có học vấn, do vậy “ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hĩ.” Như thế này mới chân chính có khả năng tiếp thu lịch sử đã qua, phán đoán chiều hướng phát triển của tương lai.

(i) Nguyên văn: 前事不忘,后事之师 – qián shì bú wàng,hòu shì zhī shī – tiền sự bất vong, hậu sự chi sư. Câu để cảnh tỉnh mọi người không được quên các giáo huấn trong quá khứ, lấy đó làm gương về sau. Xuất xứ: Chiến Quốc sách.

Advertisements

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.10

子曰:“视其所以(1),观其所由(2),察其所安(3),人焉廋(4)哉?人焉廋哉?”

Zǐ yuē:  “shì qí suǒyǐ, guān qí suǒ yóu, chá qí suǒ ān, rén yān sōu zāi? rén yān sōu zāi?”

Tử viết: “thị kì sở dĩ (1), quan kì sở do (2), sát kì sở an (3), nhân yên sưu (4) tai? Nhân yên sưu tai?”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn ]

  1. 所以 – suǒyǐ – sở dĩ: việc làm ra.
  2. 所由 – suǒ yóu – sở do: con đường đi qua.
  3. 所安 – suǒ ān – sở an: tâm tính quen như thế nào.
  4. 廋 – sōu – sưu: ẩn tàng, ẩn giấu

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “(để hiểu một người), phải xem động cơ ngôn hành (lời nói hành động) của anh ta, quan sát con đường anh ta chọn đi, khảo sát anh ta để tâm làm cái gì, như thế, con người này làm sao có thể ẩn giấu được đây? Con người này làm sao có thể ẩn giấu được đây?”

[Bình giải – Chưa rõ là ai]

Đoạn văn này nói đến vấn đề làm sao để hiểu người khác. Khổng tử cho rằng, đối với người khác phải nghe anh ta nói gì, xem anh ta hành động như thế nào(i), vẫn còn cần xem tâm tính của anh ta lúc làm việc, từ ngôn luận, hành động của anh ta đến nội tâm của anh ta, hiểu cách toàn diện quan sát một người, như vậy người này không có gì ẩn giấu được.

(i) Nguyên văn: 听其言而观其行 – tīng qí yán ér guān qí xíng – thính kì ngôn nhi quan kì hành: không những nghe nói gì mà còn phải xem hành động thực tế như thế nào. Cũng là câu trong Luận ngữ.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

所以 – sỡ dĩ: dĩ, nghĩa là nguyên nhân. Vì nguyên nhân nào mà làm việc này, ở đây chỉ động cơ và dụng tâm của hành vi một người. Hoặc có thuyết: dĩ, nghĩa là 为 – “vi” (làm việc gì). Nhìn việc làm của một người, có thể biết người đó.

所由 – sở do: do, nghĩa là 经由- “kinh do,” thông qua, kinh qua (con đường nào). Cùng một việc, chọn các đường lối khác nhau, hoặc thích con đường nhanh chóng, hoặc đường mạo hiểm, hoặc đường lớn bằng phẳng. Ở đây nói về xu hướng và tâm thuật, tính toán trong lòng về hành vi một người.

所安 – sở an: an, nghĩa là an định an lạc. Miễn cưỡng làm gì, tất sẽ không an không lạc, dễ sinh ra thay đổi. Ngược lại, vui sẽ không mệt mỏi, an ổn sẽ không biến đổi. Ở đây nói về tâm thái hoặc hứng thú đối với hành vi.

视,观,察: thị, quan, sát: ba từ này có thứ tự nông sâu. Thị xem vào một việc, quan xem từ tổng thể, sát xem từ chỗ nhỏ nhất trở đi.

人焉廋哉 – nhân yên sưu tai: sưu, nghĩa là tàng ẩn, ẩn giấu. Do cách nhìn người mà được miêu tả ở trên, không người nào có thể ẩn giấu. Nhắc lại, do vậy khẳng định không gì có thể giấu diếm.

Chương này Khổng tử dạy phương pháp quan sát người khác, tất phải quan sát từ nhiều phía, nhân cách và tâm địa của một người, sẽ không thể ẩn giấu được. Do vậy người học cũng có thể dựa vào đây mà “tự tỉnh” – tự kiểm điểm bản thân, khiến cho việc làm người của bản thân, như được nhìn thấu qua, mà không tự lừa dối chính mình. Nếu không như vậy, lại để cho bản thân giấu diếm bản thân, thì làm sao còn có thể quan sát người khác?

Hoặc nói, quan sát người khác tất phải từ những thứ dễ thấy, giả sử mỗi việc đều phải xem ý nghĩa của nó là từ đâu mà ra, đến mức chưa chi đã hoài nghi người khác là giả trá, suy đoán người khác là không thành thật, luận việc, trách phạt dựa trên động cơ chứ không phải sự việc, là không nên vậy.  Do vậy chương này là từ dấu tích cụ thể mà quan sát tâm, từ sự việc mà xem ý, người học cần kỹ càng mà làm cho rõ.

Tiên sinh nói: “Cần quan sát anh ta tại sao lại làm việc này, lại quan sát anh ta làm theo kiểu nào, lại quan sát lúc anh ta làm việc này tâm tình như thế nào, an ổn hay không an ổn. Theo như thế này mà quan sát, người nào có thể ẩn giấu vào chỗ nào được! Người nào có thể ẩn giấu vào chỗ nào được!”

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Từ đây trở đi, văn chương liền chuyển, chính thức nói đến đạo lý Vi chính.

Tử viết: “thị kì sở dĩ, quan kì sở do, sát kì sở an, nhân yên sưu tai? Nhân yên sưu tai?”

Đây là đạo lý quan sát người khác của Khổng tử.

Nói đến đạo lý quan sát người khác, chúng ta đều biết việc xem tướng tính mệnh, đặc biệt hiện nay rất thịnh hành. Hai việc này, ở Trung Quốc đã có lịch sử vài ngàn năm, ở các quốc gia khác trên thế giới, cũng có phương pháp xem tướng Italia, Nhật Bản vân vân. Từ đây có thể thấy ở bất kỳ quốc gia dân tộc nào, đều rất thịnh hành. Nói đến lịch sử xem tướng của người Trung Quốc, có từ rất sớm. Thời Xuân thu Chiến quốc đã có rất nhiều, nói chung, người Trung Quốc xem tướng, có kỹ năng riêng, bao gồm các loại lưu hành trên thị trường hiện nay, Ma Y, Liễu Trang, Thiết Quan Đao(i), cho đến các loại xem tay, xem chỉ tay do người Italia, Nhật Bản hiện đại nghiên cứu ra, rất nhiều thứ mới đều thêm vào, nhưng cũng không ra khỏi phạm vi phương pháp xem tướng Trung Quốc. Nhưng người TQ hãy còn một kiểu xem tướng khác, gọi là “thần tướng” hoặc “tâm tướng,” rất thâm sâu khó hiểu.

“Thần tướng,” không phải là dựa trên “hình thái” (dáng vẻ thái độ bên ngoài) để xem, là là xem “thần thái” (tinh thần thể hiện ra); hãy còn một loại “tâm tướng,” là dựa trên cơ sở lập trường văn hóa TQ, tuyệt đối duy tâm (không phải là duy tâm trong triết học phương Tây), do đó có mấy câu danh ngôn: “hữu tâm vô tướng, tướng do tâm biến. Hữu tướng vô tâm, tướng tùy tâm chuyển”(ii) – một người tư tưởng chuyển biến, hình thái cũng sẽ chuyển biến, ví như chúng ta nói một người chuẩn bị nổi nóng, làm thế nào để biết? Bởi vì từ tướng của anh ta có thể nhìn ra được, tâm lý anh ta nổi nóng, thần kinh sẽ khẩn trương, dáng vẻ sẽ thay đổi. Do vậy, xem tướng là khoa học. Có người nói, người có ấn đường rất hẹp thì lòng độ lượng nhất định ít, ấn đường – cự ly giữa hai đầu lông mày – rất rộng thì lòng độ lượng lớn, đây là lý lẽ thế nào? Có người tính cách trời sinh, gặp chút chuyện không như ý, liền chau mày, dần dần da ở ấn đường sẽ nhăn lại, đây là lý lẽ đương nhiên. Còn có người nói người lộ răng cửa thường đoản mệnh, do anh ta lộ răng, khi ngủ miệng không khép được, khi hô hấp các thứ bẩn đều vào cơ thể, đương nhiên sức khỏe sẽ có vấn đề. Còn rất nhiều lý lẽ cùng dạng như thế này, nhưng người xưa xem tướng, chỉ biết đến biểu hiện bên ngoài của sự vật mà không biết đến bản chất nguyên nhân phát sinh ở bên trong(iii). Hỏi họ nguyên nhân là gì, họ nói: là trong sách nói vậy. Trên thực tế, những thứ này là từ kinh nghiệm mà ra.

Có người nói, danh thần Tăng Quốc Phiên thời Thanh trung hưng có mười ba môn học vấn, lưu truyền lại còn mỗi một môn – Tăng Quốc Phiên gia thư, còn lại đều không còn, kỳ thực truyền lại còn hai môn, một môn khác là học vấn xem tướng Tăng Quốc Phiên – bộ sách “Băng Giám.” Bộ này bao gồm cả lý luận xem tướng, không giống với các sách tướng số khác. Tăng Quốc Phiên nói: “功名看器宇” – công danh khán khí vũ, nói đến khí vũ (khí độ, dáng vẻ), rất rắc rối phiền phức. Đây lại nói đến triết học TQ, ở đây liên quan đến văn học, chữ “khí” giải thích thế nào? Chính là các loại sự vật. “Vũ” là đại biểu cho thiên thể (vũ trong vũ trụ – nd). Cái gì gọi là “khí vũ”? Chính là hình thái cấu tạo thiên thể. Miễn cưỡng có thể giải thích như vậy. Sự vật ở TQ, chính là khiến người ta chán ghét như vậy, như người TQ nói: người này phong độ không tồi. Thổi qua là “phong” (gió-nd), đo rộng bao nhiêu dài bao nhiêu là “độ.” Còn về “phong độ” của một người thì không nói cụ thể được, đây là một từ hình dung có tính trừu tượng, nhưng cũng rất khoa học, ví dụ như ở chỗ đông người, mà trong đó có một người, khiến mọi người đều chú ý, người này không nhất định xinh đẹp, biểu hiện bề ngoài cũng không có gì đặc biệt, nhưng anh ta làm cho tâm lý mọi người cảm thấy anh ta không giống với những người khác, đây gọi là “phong độ.”

“功名看器宇” – “Công danh khán khí vũ,” chính là người này có công danh hay không, cần phải xem phong độ của anh ta.

“事业看精神” – “Sự nghiệp khán tinh thần,” điều này là tất nhiên, một người tinh thần không tốt, làm chút việc liền mệt, thì có thể có sự nghiệp tiền đồ gì?

“穷通看指甲” – “Cùng thông khán chỉ giáp,” muốn biết một người có tiền đồ hay không thì xem móng tay, móng tay với tiền đồ của con người có quan hệ như thế nào? Tuyệt đối có quan hệ. Theo sinh lí học, móng tay có thành phần chủ yếu là canxi, canxi không đủ, chính là thể lực kém, thể lực kém thì không có tinh thần cạnh tranh. Có một số người móng tay không như hình viên ngói mà mỏng mỏng, thì biết loại người này thể chất vô cùng yếu, nhiều bệnh.

“寿夭看脚踵” – “Thọ yểu khán cước chủng,” mệnh dài hay ngắn, xem gót chân của anh ta lúc đi lại. Tôi từng có một học sinh, lúc đi lại gót chân không chạm đất, anh ta quả nhiên đoản mệnh. Loại người này một là đoản mệnh, hai là thông minh nóng nảy, việc giao cho anh ta, anh ta làm rất nhanh, nhưng không thiết thực.

“如要看条理,只在言语中”- “Như yếu khán điều lí, chỉ tại ngôn ngữ trung,” một người tư tưởng như thế nào, thì xem anh ta nói năng có mạch lạc không, loại phương pháp xem này rất khoa học.

Loại học vấn này ở Trung Quốc cũng gọi là “hình danh chi học,” từ thời Ngụy Tấn đã lưu hành. Có một bộ sách, “Nhân vật chí,” mọi người có thể thử đọc, sẽ có chỗ hữu ích, do Lưu Thiệu thời Ngụy soạn, Lưu Bỉnh thời Bắc Ngụy chú giải, chuyên bàn luận về con người, nói cách khác là khoa học về “người.” Gần đây lưu hành loại khoa học quản lý nhân sự, phân loại chức nghiệp, các loại này đều xuất phát từ ngoại quốc. Mà “Nhân vật chí” của chúng ta, còn hay hơn,  là “quản lý nhân sự,” “phân loại chức nghiệp” chân chính, chỉ ra những người nào thuộc loại nào. Có những người thuộc loại theo sự nghiệp, có những người tuyệt đối không phải loại theo sự nghiệp, không nên sắp xếp sai, có người có học vấn, không nhất định có tài năng, có người có tài năng không nhất định có phẩm đức, người có học vấn lại có tài năng lại có phẩm đức, là người hạng nhất, loại người này lại không có nhiều.

Trước đây có một người bạn già, đọc sách không nhiều, nhưng từ kinh nghiệm nhân sinh, có được mấy câu, rất có ý nghĩa, ông nói: “người thượng đẳng, có bản sự không có tính nóng; người trung đẳng, có bản sự lại cũng có tính nóng; người mạt đẳng, không có bản sự nhưng tính nóng nhiều.” Đây có thể gọi là danh ngôn, cũng là học vấn của ông. Do vậy mọi người lập thân xử thế, cần biết có người có học vấn, trong nhiều trường hợp sẽ có tính nóng, cần phải bao dung nhẫn nại đối với họ, dùng sở trưởng của họ – học vấn, không tính toán với sở đoản của họ – tính nóng. Anh ta nổi nóng không phải là có ác ý với bạn, mà là bản thân anh ta có tật, vốn là chỗ khiếm khuyết của anh ta, với bạn có quan hệ gì?  Bạn muốn nói về đạo hiếu,  trong đạo quân (đạo làm vua) bạn cần yêu thương anh ta, tôn trọng anh ta […].

Bộ sách thứ hai cần nghiên cứu là bộ nào? Chính là “素书”-“Tố Thư” do Hoàng Thạch Công truyền cho Trương Lương. Bộ sách này rất khó nói có phải là sách làm giả hay không, nhưng  chính xác là kết tinh văn hóa TQ. Đối với đạo lý làm người xử thế nhìn nhận người khác, có rất nhiều kiến giải triết học rất thâm thúy, cũng có thể nói là sách xem tướng, sách này không hề nói về lông mày dài sẽ như thế nào, sống mũi dài sẽ thế nào, sách này không có mấy loại như thế, mà là phương pháp xem tướng chân chính. Lông mày, mũi, mắt, đều không xem, đại khái chỉ xem một người xử thế có thái độ và phương thức thế nào. Mạnh tử cũng thích xem tướng, chẳng qua ông không treo biển hành nghề, ông chú ý vào nhãn thần (thần thái ánh mắt) của người ta, người quang minh chính đại nhãn thần nhất định rất đoan chính; thích hướng lên trên nhất định rất kiêu ngạo; thích nhìn xuống sẽ động tâm tư; thích nhìn xéo, ít nhất là tâm lý có vấn đề. Đây là nhãn thần trong xem tướng, là phương pháp xem tướng của Mạnh tử, cũng có thể gọi là “nhãn khoa” trong xem tướng.

Khổng tử quan sát người khác, giảng về nguyên tắc. “Thị kì sở dĩ” – xem mục đích của anh ta là gì? “Quan kì sở do” – biết nguyên lai, động cơ của anh ta[bỏ một đoạn kể chuyện, nêu ví dụ], xem cả quá trình hành động của anh ta. “Sát kì sở an,” lại xem xem anh ta bình thường an vui quen thuộc với cái gì? Có khả năng an ổn hài lòng với hiện thực không. Ví dụ có một số người rất khó an vui, có một người bạn hơn bảy mươi tuổi, đã đầu tóc đã bạc hết, là người đọc sách, học vấn rất nhiều. Vừa mới nghỉ hưu, vợ mất, trong đời sống hàng ngày đánh mạt chược thì không có hứng thú, thư pháp tốt nhưng không có hứng thú viết chữ, người đọc sách vốn có thế đọc sách, nhưng cầm đến quyển sách, thì muốn ngủ, nằm xuống lại ngủ không được – nói đến đây, mong các bạn trẻ chú ý, người có tuổi rất đáng thương, có mấy việc tương phản: ngồi thì muốn ngủ, nằm xuống thì ngủ không được. Khóc thì không có nước mắt, cười lên lại cười ra nước mắt. Nói chuyện hiện tại, vừa nói vừa quên, đối với chuyện quá khứ, đến chuyện lúc bé cũng nhớ ra. Nói lời hay với họ thì không nghe thấy, mắng thì lập tức nghe thấy. Đây là thảm trạng của người có tuổi – bởi vì ông ấy quá quạnh hưu tịch mịch, việc gì cũng không có hứng thú, tốt nhất là kết bạn với một người bạn nữ, tôi khuyên ông không nhất thiết phải kết hôn. Hoàn cảnh như của ông, chính là người có tuổi mà không có chỗ an, tâm không thể an, đây là người già, nhưng người trẻ cũng như vậy. Đây là vấn đề tâm lý, một người tiến hành tu dưỡng học vấn, nếu bình thường không có một chỗ an ổn, thì rất có vấn đề. Có một số người lúc có việc làm, tinh thần rất tốt; lúc không có việc làm, thì tâm không thể an, có thể thấy để an được tâm là rất khó.

Khổng tử dựa vào ba điều này để quan sát người khác, do vậy ông nói “nhân yên sưu tai! Nhân yên sưu tai!” “Sưu” này là có ý nghĩa trốn tránh. Lấy “thị kì sở dĩ, quan kì sở do, sát kì sở an” ba phương diện trọng yếu này ra quan sát người khác, thì không gì có thể trốn tránh được. Xem bất kỳ người nào làm người xử thế, mục đích của anh ta là gì? phương pháp làm của anh ta như thế nào? (ý trước là thuộc phương diện tư tưởng, ý sau là thuộc phương diện hành vi). Ngoài ra, lại xem hàm dưỡng của anh ta lúc bình thường, anh ta an vui với cái gì? Có người quen tầm lạc, có người quen với cảnh nghèo khó, có người quen với bình đạm. Khó nhất là bình đạm, người an vui với bình đạm, sự nghiệp gì cũng có thể làm. Do anh ta sẽ không bị sự nghiệp vây khốn, câu này là như thế nào? Người an vui với bình đạm, hôm nay phát tài, sẽ không cảm giác bản thân có nhiều tiền khiến cho ngủ không nổi; nếu nghèo, cũng sẽ không cảm giác nghèo, sẽ không cảm thấy tiền đối với anh ta có gì uy hiếp. Do vậy an tâm là khó nhất. Đem ba phương diện quan sát người khác này, đặt trong thiên Vi chính, liền biết trọng điểm của việc khích lệ hay phẩm bình người khác là nằm ở ở đâu.

(i) Tên các loại phương pháp/trường phái xem tướng. Có các sách Ma Y tướng pháp (người đời sau truyền tác giả là Ma Y Đạo giả thời Tống – Ma y có nghĩa là áo gai), Liễu Trang thần tướng (tác giả là Viên Liễu Trang thời Minh), thần tướng Thiết Quan Đao (tác giả khuyết danh, sách từ thời Minh/Thanh).

(ii) Kiểm tra trên mạng, thấy câu chính xác là như này: 有心无相,相随心生;有相无心,相随心灭: hữu tâm vô tướng, tướng tùy tâm sinh; hữu tướng vô tâm, tướng tùy tâm diệt. Mạng giới thiệu là thuật ngữ thường dùng trong Phật giáo, nhưng có nguồn gốc sâu xa từ Quỷ Cốc tử thời Xuân Thu.

(iii) Nguyên văn: 知其然而不知其所以然 – zhī qí rán ér bù zhī qí suǒ yǐ rán – tri kì nhiên nhi bất tri kì sở dĩ nhiên. Câu từ đời Đường.

 

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.9

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2018!!!

 

子曰:“吾与回(1)言,终日不违(2),如愚。退而省其私(3),亦足以发,回也不愚。”

Zǐ yuē: “Wú yǔ Huí yán, zhōng rì bù wéi, rú yú. Tuì ér shěng qí sī, yì zú yǐ fā, Huí yě bù yú.”

Tử viết: “Ngô dữ Hồi(1) ngôn, chung nhật bất vi(2), như ngu. Thoái nhi tỉnh kì tư(3), diệc túc dĩ phát, Hồi dã bất ngu.”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 回 – Huí – Hồi: Họ Nhan tên Hồi, tự Tử Uyên, sinh năm 521 trước công nguyên, nhỏ hơn Khổng tử 30 tuổi, người nước Lỗ, là môn sinh đắc ý của Khổng tử.
  2. 不违 – bù wéi – bất vi: không nêu lên ý kiến hoặc vấn đề tương phản, trái ngược lại.
  3. 退而省其私 – Tuì ér shěng qí sī – thoái nhi tỉnh kì tư: coi xét, quan sát ngôn hành của Nhan Hồi lúc riêng tư thảo luận học vấn với các học sinh khác.

[Diễn dịch câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Ta cả ngày giảng học cho Nhan Hồi, anh ta chưa từng đưa ra ý kiến phản đối hoặc vấn đề nghi vấn nào, giống như người ngu xuẩn. Đợi sau khi anh ta lui ra ngoài, ta xem xét quan sát ngôn luận của anh ta lúc riêng tư, phát hiện anh ta đều đem các nội dung mà ta dạy ra phát huy, có thể thấy Nhan Hồi kì thực không ngu xuẩn chút nào.”

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Chương này nói về tư tưởng và phương pháp giáo dục của Khổng tử. Ông không hài lòng với loại học sinh “chung nhật bất vi,” trước giờ không đưa ra ý kiến hoặc vấn đề tương phản, hy vọng lúc học sinh tiếp thu giáo dục, cần động não, suy xét vấn đề, đối với vấn đề thầy giáo giảng nên có phát huy. Vì vậy, ông cho rằng người không suy xét vấn đề, không đưa ra ý kiến bất đồng, là người ngu xuẩn.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

回 – Hồi: Nhan Hồi, tự Uyên, học sinh từ thời đầu của Khổng tử, rất được Khổng tử thương yêu.

不违如愚 – Bất vi như ngu: Bất vi, ý là bất tương phản, không (làm gì) ngược lại. Có lắng nghe, không biện luận đặt câu hỏi. Như người ngu dốt, là “mặc nhi thức chi”–lặng yên ghi nhớ các kiến thức học được(i).

退而省其私 – Thoái nhi tỉnh kì tư: thoái, rời khỏi chỗ của thầy. Tư, ngôn ngữ hành vi của Nhan tử lúc rời khỏi chỗ của thầy. Có giải thích tư là lúc nhàn cư một mình, có vẻ không thích hợp.

亦足以发 – diệc túc dĩ phát: phát, phát minh (tìm ra được cái mới), phát huy, mở mang trí thức. Từ những lời thầy giảng tìm ra được cái mới nào đó, có thể từ đây cùng với lời của thầy giảng mà phát huy.

回也不愚 – Hồi dã bất ngu: Khổng tử nói không ngu, chính là vô cùng tán thưởng sự thông tuệ của Nhan Hồi.

Chương này chắc là lúc Nhan tử bắt đầu theo học Khổng tử, nên Khổng tử khen ngợi như vậy. Nếu là lúc đã ở cùng lâu rồi, chắc không vì điều này mà khen ngợi.

Tiên sinh nói: “Ta cùng Nhan Hồi đàm luận, cả ngày anh ta không hỏi lại câu nào, như một người ngu dốt đần độn. Đợi lúc anh ta rời đi, ta khảo sát ngôn hành của anh ta lúc không theo ta học, đối với lời ta nói, có thể phát huy rất nhiều. Hồi, thật không hề ngu vậy.”

(i) Nguyên văn: 默而识之 – mo er zhi zhi – mặc nhi thức chi: lặng yên ghi nhớ các kiến thức học được (đây cũng là câu trong Luận ngữ).

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Chúng ta biết, học sinh đắc ký nhất của Khổng tử chính là Nhan Hồi, cũng gọi là Nhan Uyên, bất luận trong lĩnh vực đạo đức hay học tập, đều là nhân vật xuất sắc hàng đầu của Khổng môn(i), do vậy Khổng tử rất hay nhắc đến Nhan Hồi.

[…] Đoạn hội thoại này, đề cập Nhan Hồi. Khổng tử nói, ta cùng Nhan Hồi nói chuyện, có lúc nói cả một ngày, anh ta chưa từng có ý phản đối ta, xem ra như ngốc vậy, nhưng lúc anh ta lui ra ngoài, không ở trước mặt ta, làm người, làm việc đều tự biết kiểm điểm bản thân, kết quả là không những hiểu được ý của ta, mà còn tiến thêm một bước phát huy ý của ta, từ đó có thể thấy Nhan Hồi không hề ngốc.

Vấn đề bây giờ là tại sao lại biên tập đoạn như thế này vào đây? Chính là nói đến thiên Vi chính này, vấn đề hiếu ở hai đoạn trên, đoạn thứ nhất là “kính,” đoạn thứ hai là “sắc nan,” đối với thần đạo, quân đạo (đạo làm tôi, đạo làm vua) đều liên quan. Nay dùng thái độ của Nhan Hồi để nói về đạo làm tôi, trước mặt nói gì đều đáp là “vâng,” đều chỉ là tiếp thu, phục tùng. Nhưng chỉ toàn tiếp thu, phục tùng, có lúc ngược lại có vấn đề, không nhất định là đúng, do đó ngoài tu dưỡng tiếp thu, phục tùng, vẫn còn cần “thoái nhi tỉnh kì tư, diệc túc dĩ phát.” Có thể phát huy thêm, mở rộng phạm vi, làm giàu nội dung(ii), đây mới là cán bộ tốt trong công việc, nhân tài vi chính. Vì vậy đem đoạn về tu dưỡng làm người của Nhan Hồi đặt vào thiên Vi chính này.

(i) Nguyên văn: 首屈一指 – shǒu qū yī zhǐ – thủ khuất nhất chỉ: đứng thứ nhất, hạng nhất, giỏi nhất.

(ii) Nguyên văn: 扩而充之- kuò ér chōng zhī – khoách nhi sung chi: mở rộng phạm vi, làm phong phú nội dung. Câu trong Mạnh tử.

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.8

子夏问孝,子曰:“色难(1)。有事,弟子服其劳(2);有酒食,先生(3)馔(4),曾是以为孝乎?”

Zǐ Xià wèn xiào, Zǐ yuē: “Sè nán. Yǒu shì, dìzǐ fù qí láo; yǒu jiǔ shí, xiānshēng zhuàn, zēng shì yǐwéi xiào hū?.”

Tử Hạ vấn hiếu, Tử viết: “Sắc nan (1). Hữu sự, đệ tử phục kỳ lao (2); hữu tửu thực, tiên sinh (3) soạn (4), tằng thị dĩ vi hiếu hồ?.”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 色难- Sè nán – Sắc nan: Sắc, sắc mặt. Nan, ý là không dễ dàng tùy tiện.
  2. 服劳 – fù láo – phục lao: phục, làm việc, gánh vác phụ trách. Phục lao tức là phục thị – phục vụ chiếu cố quan tâm.
  3. 先生 – xiānshēng – tiên sinh: tiên sinh chỉ trưởng bối hoặc cha mẹ, trước đó nói đệ tử, là chỉ vãn bối, con cái vân vân.
  4. 馔 – zhuàn – soạn: ý là ẩm thực, ăn uống.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Tử Hạ hỏi hiếu là gì, Khổng tử nói: “(làm con cái cần tận hiếu), không dễ dàng nhất là đối với cha mẹ nét mặt hòa nhã vui vẻ (i), còn là khi có việc, con cái muốn thay cha mẹ làm, có đồ ăn đồ uống, mời cha mẹ ăn, lẽ nào cho rằng như thế thì có thể tính là hiếu ư?.”

(i) Nguyên văn: 和颜悦色 – hé yán yuè sè – hòa nhan duyệt sắc. Câu này trong Luận ngữ.

[Bình giải – Chưa rõ là ai]

Chương 5, 6, 7, 8 của thiên này, đều là Khổng tử bàn luận các vấn đề liên quan đến hiếu.  Hiếu mà Khổng tử đề xướng, thể hiện ở mọi phương diện và tầng nấc, phản ảnh nhu cầu của chế độ tông pháp, thích ứng với nhu cầu của xã hội đương thời. Tư tưởng chung là, không chỉ cần theo hình thức, tuân theo nguyên tắc của Chu lễ mà phụng dưỡng cha mẹ, mà còn cần từ đáy lòng chân chính tôn kính cha mẹ.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

色难 – sè nán – sắc nan: có hai cách giải thích. Một cách là, khó ở chỗ dự liệu được sắc mặt của cha mẹ. “Tiểu Đái Ký” (cách gọi khác của Lễ Ký) – “Khúc lễ” có câu: “视於无形,听於无声” – “thị ư vô hình, thính ư vô thanh” – nhìn chỗ vô hình, nghe chỗ vô thanh. Có thể từ chỗ vô hình, vô thanh mà hiểu được ý tứ của cha mẹ, đây là hiếu. Một cách khác là, người con có hiếu phụng sự cha mẹ, khó ở chỗ có thể hòa ngôn duyệt sắc (lời nói hòa nhã nhan sắc vui vẻ). “Tiểu Đái Ký” – “Tế nghĩa” có câu: “孝子之有深爱者,必有和气。有和气者,必有愉色。有愉色者,必有婉容” –  “hiếu tử chi hữu thâm ái giả, tất hữu hòa khí. Hữu hòa khí giả, tất hữu du sắc. Hữu du sắc giả, tất hữu uyển dung” – người có hiếu có tình cảm sâu sắc, tất có hòa khí. Người có hòa khí, tất có sắc mặt hòa nhã vui tươi. Người có sắc mặc hòa nhã vui tươi, tất có diện mạo tốt đẹp. Sắc mặc của con người, là do tình cảm chân thực ở trong nội tâm lộ ra, sắc không tốt chính là do trong lòng không tốt. Cách giải thích đầu là chỉ sắc mặt của cha mẹ, cách sau chỉ sắc mặt của người con có hiếu. Do ở đây là hỏi về hiếu, nên là nói về người con. Nay theo cách giải thích thứ hai.

服其劳 – fù qí láo – phục kỳ lao: phục, làm, thi hành, chấp hành

先生馔 – xiānshēng zhuàn – tiên sinh soạn: tiên sinh hoặc là chỉ phụ huynh, hoặc chỉ trưởng bối, người hơn tuổi. Ở phía trước nói “đệ tử,” không nói “tử đệ,” ở đây chắc là chỉ trưởng bối. Soạn, là ẩm thực, ăn uống. Hoặc có thuyết: soạn, nghĩa là bày, xếp. Có rượu có thức ăn, trước hết bày ra cho trưởng bối. Hai cách giải thích nghĩa tương đương nhau, theo ngữ pháp câu, theo cách giải thích đầu. Đệ tử làm việc cho người lớn tuổi hơn, có lòng tôn kính là được. Tử đệ làm việc cho huynh trưởng, thì kính còn từ lòng yêu thương nữa.

曾是以为孝乎 – zēng shì yǐwéi xiào hū – tằng thị dĩ vi hiếu hồ: tằng, giống “là.” Cho là chỉ như vậy thì có thể nói là hiếu ư?

Bốn chương trên đều hỏi về hiếu, mà Khổng tử trả lời không đáp án nào giống đáp án nào. Hoặc có vẻ là Khổng tử vì giáo dục mọi người, tập trung vào chỗ còn thiếu sót và khuyết điểm của từng người hỏi. Vì vậy có thể là Tử Du có khả năng “dưỡng” nhưng mất đi lòng tôn kính, Tử Hạ thiếu nét mặt ôn hòa đối với cha mẹ, đây đều là suy đoán. Luận ngữ văn từ giản ước, hoặc lúc đó cách hỏi có chỗ không giống nhau, Khổng tử theo từng câu hỏi mà trả lời khác nhau, người ghi chép tường thuật lại lời của Khổng tử, nhưng lại lược câu hỏi của người hỏi, vì vậy mà có vẻ như hỏi giống nhau mà trả lời khác nhau. Người học theo lời văn và suy ra ý nghĩa, biết Khổng tử dạy hiếu đạo có những cách giải thích như thế này, đều có thể được vậy, không phải tìm kiếm thêm ở đâu nữa.

Tử Hạ hỏi: “đạo hiếu là như thế nào?.” Tiên sinh nói: “Chỗ khó là ở sắc mặt của con cái. Nếu gặp lúc có việc, do người trẻ tuổi gánh vác, có đồ ăn đồ uống, để người lớn tuổi ăn trước, đây có phải là hiếu không?”

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Tử Hạ đến hỏi về hiếu, Khổng tử nói “sắc nan.” Cái gì gọi là “sắc nan”? Vấn đề thái độ, câu ở trên nói bất kính mà có thể hiếu thảo, chính là rất khó ở chỗ thái độ. Khổng tử nói: “hữu sự, đệ tử phục kỳ lao.” Lúc có việc, như chúng ta là lớp hậu bối, thấy cha mẹ quét sân, thì nhận lấy chổi tự mình làm. “Hữu tửu thực, tiên sinh soạn.” (tiên sinh là xưng hô chung thời nay, thời cổ đại là cách xưng hô tôn trọng đối với người hơn tuổi.) Có thứ ăn ngon, đưa cho cha mẹ trưởng bối ăn. “Tăng thị dĩ vi hiếu hồ?” (“tăng thị” là có ý giả định), anh cho rằng như thế này thì là hiếu ư? Thay trưởng bối làm việc, mời trưởng bối ăn ngon, không nhất định là hiếu, tại sao vậy? “Sắc nan.” Thái độ rất quan trọng, giống như chúng ta kết thúc giờ làm việc đi về nhà, cảm thấy mệt muốn chết, mà ông bố nằm trên giường, sai rót chén trà để ông uống. Làm con cái, trà thì rót, nhưng lúc bưng qua, mặt nặng xuống, đem chén trà đặt mạnh xuống bàn ở trước giường, dùng ngữ điệu lạnh lùng cứng ngắc nói: “uống đi.” Trước thái độ này của con cái, tâm lý của người làm cha mẹ, so với chết còn khó chịu hơn, điều này là tuyệt không thể được. Vì vậy hiếu đạo đầu tiên là cần tôn kính, đây là thuộc nội tâm; thứ hai là thái độ, sắc diện bên ngoài.

Tại sao hai chương này (chương 2.7 và 2.8) lại đặt ở đây? Đây là bao quát cả đạo quân, đạo thần. Một loại là làm quan trên của người khác, lãnh đạo người khác, một loại là làm người dưới của người khác, phối hợp với người khác. Do vậy chúng ta nói về đạo vi chính, cũng là “sắc nan,” cũng là “bất kính, hà dĩ biệt hồ?.” Chúng ta yêu thương che chở cấp dưới, rất khó ở chỗ thái độ. Vị hoàng đế nổi tiếng trong lịch sử Đường Thái Tông, bản chất rất uy nghiêm, có một ngày ông hỏi Ngụy Trưng, tại sao mấy đại thần này, lúc trước mặt ông đều không nói gì. Ngụy Trưng liền nói cho ông biết – cũng chỉ có mỗi Ngụy Trưng dám như vậy – bệ hạ tự mình không biết, do bệ hạ rất uy nghiêm, chúng đại thần sau khi gặp ngài, tâm lý liền sợ hãi, vì vậy nói ra không nổi. Đường Thái Tông nghe xong lời này, liền đến trước gương học cười, gặp người liền cười, dần dần khiến thái độ của bản thân trở nên hòa ái hơn. Do vậy đạo vi chính, cũng là “sắc nan.” [bỏ một đoạn] Làm lãnh đạo người khác, hay làm cấp dưới người khác, đều “sắc nan”– thái độ không dễ dàng đạt được hòa nhã. Trong nội tâm càng khó hơn. “Kính” – thương yêu người khác thật lòng, không dễ dàng làm được. Do vậy đem hai câu về hiếu đạo này đặt trong thiên Vi chính,  cũng chính là tu dưỡng và thái độ của việc tòng chính (tham dự vào chính trị, làm quan), đây là học vấn chân chính. Anh nói anh đối với cấp dưới yêu thương che chở hết mức, nhưng anh đối với họ cứ mở miệng là mắng, đem bao nhiêu nóng bực đều trút lên người họ, sau khi nổi nóng xong, đối với họ tốt bao nhiêu cũng chẳng có tác dụng gì.

Chương tiếp theo sẽ là hội thoại giữa Khổng tử và Nhan Hồi, bao quát cả phần Tử Du và Tử Hạ hỏi về hiếu đạo ở trên, liên kết với việc đặt vào thiên Vi chính này, là đạo lý của đạo làm thần và đạo làm quân.

Hàn

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.7

子游(1)问孝,子曰:“今之孝者,是谓能养。至于犬马,皆能有养(2),不敬,何以别乎?”

Zǐ Yóu wèn xiào, Zǐ yuē:  “Jīn zhī xiào zhě, shì wèi néng yang. Zhì yú quǎn mǎ, jiē néng yǒu yang, bù jìng, hé yǐ biè hū?”

Tử Du (1) vấn hiếu, Tử viết: “Kim chi hiếu giả, thị vị năng dưỡng. Chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng (2), bất kính, hà dĩ biệt hồ?”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. Tử Du: họ Ngôn tên Yển, tự Tử Du, người Ngô, kém Khổng tử 45 tuổi.
  2. 养, đọc là yàng.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Tử Du hỏi hiếu là gì, Khổng tử nói: “Như hiện nay thứ gọi là hiếu, chỉ là nói có thể nuôi dưỡng cha mẹ đầy đủ là đủ rồi. Nhưng, đến chó ngựa cũng có thể nuôi dưỡng đầy đủ. Nếu không có lòng hiếu kính cha mẹ, như vậy nuôi dưỡng cha mẹ với nuôi dưỡng chó ngựa có gì khác biệt?”

[Bình giải – Chưa rõ là ai]

Thiên này vẫn là bàn luận về vấn đề hiếu. Đối với câu “chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng,” cho đến nay cũng có vài cách giải thích không giống nhau. Có giải thích là chó giữ cửa, ngựa kéo xe các loại con vật chở đồ, cũng có thể hầu hạ chăm sóc con người. Giải thích thứ hai là chó ngựa cũng có thể được con người nuôi dưỡng. Ở đây dùng cách giải thích thứ hai, vì so ra thỏa đáng hơn.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Tử Du: Tên Ngôn Yển tự Tử Du, đệ tử lúc vãn niên của Khổng tử.

是谓能养 – thị vị năng dưỡng: Khổng tử nói thế tục đều cho rằng có thể (nuôi) dưỡng là hiếu.

犬马皆能有养 – câu này có hai cách giải thích: chó giữ nhà, ngựa thay người lao động, đều có khả năng săn sóc phục dịch hầu hạ con người, là khuyển mã cũng có thể phụng dưỡng con người. Cách giải thích khác: Mạnh tử từng nói: “食而弗爱,豕交之也,爱而不敬,兽蓄之也” – “thực nhi phất ái, thỉ giao chi dã, ái nhi bất kính, thú súc chi dã” – nuôi mà không yêu, giống như nuôi heo vậy, yêu mà không kính, như chăm vật nuôi vậy. Là chó, ngựa sẽ được người nuôi dưỡng, có thể thấy chỉ nuôi dưỡng ăn ở vật chất chưa đủ được coi là hiếu. Giải thích đầu dùng từ “dưỡng” kiêm hai nghĩa là ẩm thực (ăn uống), phục thị (hầu hạ), e là đã giải thích không đúng. Chó ngựa do người sai khiến sử dụng, không tự phục vụ hầu hạ con người. Nếu thật là chó ngựa có thể nuôi dưỡng người, có thể trực tiếp viết “khuyển mã giai năng dưỡng”- chó ngựa đều có thể nuôi dưỡng là được rồi, cần gì phải thêm một chữ “hữu” nữa. “Giai năng hữu dưỡng,” chính là đều có thể được con người nuôi dưỡng. Hoặc nghi việc đem quan hệ thân thích so sánh với khuyển mã là không thỏa đáng, thì ở đây chính là có thể thấy rõ mối quan hệ đó không thể đạt được mức hiếu. Mạnh tử đã nói rõ súc vật vật nuôi, giải thích của Mạnh tử về “Luận ngữ” trực tiếp đáng tin. Nay theo cách giải thích thứ hai.

不敬何以別乎 – bất kính hà dĩ biệt hồ: nếu như chỉ biết dưỡng mà không tôn kính, thì không khác gì nuôi dưỡng chó ngựa. Sao có thể nói đến hiếu?

Tử Du hỏi: “Đạo hiếu là như thế nào?.” Tiên sinh nói: “Hiện nay mọi người cho rằng chỉ cần có thể nuôi dưỡng cha mẹ đã tính là hiếu rồi. Nhưng mà chó ngựa cũng có thể được người nuôi dưỡng như vậy. Không có một lòng tôn kính đối với cha mẹ, thì phân biệt ở chỗ nào!.”

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Tử Du là đệ tử của Khổng tử, họ Ngôn tên Yển, Tử Du là tên chữ, kém Khổng tử 45 tuổi. Tử Du hỏi về hiếu, Khổng tử giải thích rất rõ ràng, nói hiện nay mọi người không hiểu về hiếu, cho rằng chỉ cần nuôi dưỡng cha mẹ đầy đủ, có cơm cho họ ăn, giống như ngày nay, mỗi tháng gửi năm chục một trăm đô la Mỹ cho cha mẹ dùng, thì là hiếu rồi. Cũng còn rất nhiều người trẻ tuổi đến năm mươi nguyên cũng không gửi, gửi được đến nơi, lão bà lão ông tuy ở trong nhà cô cô độc độc, “流泪眼观流泪眼,断肠人对断肠人” – lưu lệ nhãn quan lưu lệ nhãn, đoạn trường nhân đối đoạn trường nhân – lệ rơi nhìn lệ rơi, đứt ruột cùng đứt ruột, nhưng khi nhìn thấy năm mươi nguyên liền hoan hoan hỉ hỉ. Do đó người hiện đại, cho rằng nuôi bố mẹ thì tính là hiếu rồi, nhưng “khuyển mã giai năng hữu dưỡng,” chăm nuôi một con chó, một con ngựa cũng cần cho chúng ăn, có người nuôi chó còn cần mua gan lợn cho chó ăn, cho nên loại tâm tình chỉ là có dưỡng mà không có yêu, thì không phải là hiếu chân chính. Hiếu không phải là hình thức, cũng không giống như nuôi chó nuôi mèo.

Ở đây chúng ta có thể thấy được, Khổng tử giảng đạo hiếu cho học sinh so với trả lời người trong chính trường hoàn toàn khác nhau, cho nên chúng ta chứng minh được là hai đoạn hội thoại trước của Khổng tử là có ẩn ý, là dùng ẩn ngữ vậy.

Hàn

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.6

Chương này, ba tiên sinh chọn ba cách giải thích khác nhau, lập luận nào cũng có lý cả. Có lẽ tổng hợp ý của cả ba, mới đủ chăng?

Đoạn giải thích ý nghĩa của chương này trong mối liên kết chặt chẽ với chương trên của Nam Hoài Cẩn rất hay, có thể nói là hình thành nên một cách giải thích thứ tư về đạo hiếu: đối với người làm quan, hiếu không chỉ liên quan đến cha mẹ mình, mà còn là đại hiếu với người thiên hạ, không vi phạm nhân tâm. Khen như vậy, là chấp nhận lập luận cho rằng hai chương này, hoặc là một chương liền mạch, hay tách ra thành hai chương riêng biệt, cũng đều là suy luận của người đời sau cả, không chắc cách nào là đúng, và đúng với ý tưởng nguyên gốc của những người chép nên Luận ngữ.

Ngoài ra, không hiểu Nam Hoài Cẩn có tư thù gì với Khang Hy, mà phải gọi đi gọi lại vị hoàng đế lịch sử này là Khang Ma tử? Căn bản, Khang Hy mặt có rỗ hay không không thấy liên quan gì đến nội dung bình luận ở đây.

Cuối cùng, đọc đến đoạn “…quyền mưu kiểu người Mãn, sách học là Tam Quốc diễn nghĩa, không phải Tam Quốc Chí”, thấy giật cả mình 🙂 Người Việt ta tin Tam Quốc diễn nghĩa sái cổ, cứ cho là thật, mãi đến gần đây mới có người bỏ công ra dịch Tam Quốc chí, mới thấy nền học thuật trì trệ cỡ nào…

 

孟武伯(1)问孝,子曰:“父母唯其疾之忧(2)。”

Mèng Wǔ Bó wèn xiào, zǐ yuē: “fùmǔ wéi qí jí zhī yōu”

Mạnh Võ Bá (1) vấn hiếu, Tử viết: “Phụ mẫu duy kì tật chi ưu (2).”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. Mạnh Võ Bá: Con trai của Mạnh Ý tử, tên Trệ. Võ là thụy hiệu.
  2. 父母唯其疾之忧- Phụ mẫu duy kì tật chi ưu: Kì, đại từ, chỉ cha mẹ. Tật: bệnh.

[Diễn dịch văn – Dương Bá Tuấn]

Mạnh Võ Bá thỉnh giáo Khổng tử về đạo hiếu. Khổng tử nói: “Đối với cha mẹ, cần đặc biệt lo lắng về bệnh tật của họ. (Làm được như thế có thể tính là tận hiếu vậy).”

[Bình giải – Chưa rõ là ai]

Chương này là đáp án của Khổng tử về hiếu cho con trai của Mạnh Ý tử. Đối với lời của Khổng tử rằng “phụ mẫu duy kì tật chi ưu,” cho đến nay có ba cách giải thích: 1) cha mẹ yêu con cái của mình, cái gì cũng có thể làm(i), duy chỉ sợ con cái có bệnh tật, con cái có thể thấu hiểu loại tâm tình này của cha mẹ, trong sinh hoạt ngày thường chỗ nào cũng cẩn thận thận trọng, đây chính là hiếu. 2) Làm con cái, chỉ muốn cha mẹ lo lắng lúc mình có bệnh, nhưng không cần phải lo lắng trong các phương diện khác, thể hiện rõ cái tình của cha mẹ với con cái. 3) Con cái chỉ cần lo lắng về bệnh tật của cha mẹ, còn không cần phải lo lắng về các phương diện khác. Ở đây chọn dùng cách giải thích thứ ba.

(i) Nguyên văn: Vô sở bất chí -无所不至 – wú suǒ bù zhì: không có gì là không đi làm, cái gì cũng có thể làm. Cũng là câu trong Luận ngữ

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

唯其疾之忧- duy kì tật chi ưu: câu này có ba cách giải thích. Thứ nhất, cha mẹ yêu con, không gì không làm (cho con), do vậy thường lo lắng con mình có thể bị bệnh. Con cái có thể đặt mình vào hiểu tấm lòng này, mà trong sinh hoạt hàng ngày thêm phần cẩn thận, tức là hiếu. Hoặc có cách giải thích, con cái thường cẩn thận giữ thân, khiến cho cha mẹ chỉ phải lo lắng lúc bị bệnh, ý là không có gì khác [khiến cha mẹ] phải lo lắng cả. Bệnh của con người, thường không phải tự bản thân có thể khiến cho không có được. Cách giải thích thứ ba, con cái thành tâm hiếu với cha mẹ, có thể dụng tâm quá mức, ngược lại khiến cha mẹ bất an, làm con, chỉ nên lo lắng về bệnh tật của cha mẹ, còn những thứ khác không nên quan tâm quá phận. Mạnh tử nói “phụ tử chi gian bất trách thiện”-giữa cha con không lấy việc tốt ra để làm tiêu chí trách phạt (i),  cũng là ý này. Cả ba cách giải thích đều hợp lý, cách giải thích thứ nhất đối với nguyên văn Luận ngữ có phần vòng vèo hơn, hơn nữa chữ “duy” ngữ khí không sát lắm, thuyết thứ ba là lo lắng duy lúc cha mẹ có bệnh hợp lý hơn. Ở đây theo cách giải thích thứ hai.

Mạnh Võ Bá hỏi: “Đạo hiếu là thế nào?.” Tiên sinh nói: “Để cha mẹ chỉ phải lo lắng lúc ta bị bệnh.”

(i) Nguyên văn: 父子之间不责善 – phụ tử chi gian bất trách thiện. Người sau diễn giải giải thích dài dòng ra, đại loại là cha dạy con làm việc tốt tránh việc xấu, nhưng con chưa chắc có thể làm được ngay, khiến cho kỳ vọng của cha bị tiêu tan, tiếp đó là phẫn nộ, kết quả lại là gây tổn thương cho cảm tình đôi bên….vân vân. Tóm lại là phải suy nghĩ kỹ về cách giáo dục.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Mạnh Võ Bá là người như thế nào? Chính là con trai của người ở trên nhắc đến là Mạnh Ý tử, Mạnh Võ Bá là “thế gia công tử.” Ở đây liên quan đến thế nào là “thế gia,” chế độ cổ đại với hiện đại khác nhau, đặc biệt là thời Xuân Thu, với Ấn Độ, châu Âu cổ đại cũng không giống. Cái gọi là “thế gia” chính là làm quan, đời con cháu đều có chức quan này, tuy nhiên thường là con trưởng kế thừa vị trí quan, chính là thứ gọi là thời đại phong kiến. Tuy nhiên không giống với phong kiến châu Âu, vị trí này không phải là vĩnh viễn, nhà nào không tốt, có thể bị diệt trừ. Ở Trung Quốc loại gia đình được truyền chức xuống này gọi là “thế gia,” con trưởng có quyền kế thừa, con thứ hai cho đến thứ ba, bốn, năm đều ở sang một bên. Mạnh Võ Bá là con trai của Mạnh Ý tử, là thế gia công tử chính thống. Phụ thân vừa hỏi về đạo hiếu (đương nhiên không phải là việc trong cùng một ngày, nhưng người biên tập sách – các học sinh của Khổng tử, đã đem việc này đặt vào một chỗ), con trai Mạnh Võ Bá cũng đến hỏi về hiếu, đáp án của Khổng tử, với đáp án giành cho phụ thân của ông là khác nhau.

Khổng tử nói: “Phụ mẫu duy kì tật chi ưu.” Câu này là nói cha mẹ thấy con cái sinh bệnh, loại lo lắng đau buồn này, sâu đến cỡ nào, con cái cần thấu hiểu loại tâm tình này.

Câu trả lời của Khổng tử hay vô cùng! Câu này, chúng ta cần nói thế này, vấn đề này chỉ có người làm cha mẹ mới có thể chân chính hiểu được [bỏ mấy câu dài dòng và không quan trọng lắm]. Khổng tử đối với Mạnh Võ Bá là nói, đối với cha mẹ cần bỏ ra tâm sức như đối với con mình lúc bị bệnh, quan tâm đến trình độ như thế, mới là đạo hiếu.

Dĩ hiếu trị thiên hạ

Hai đoạn hội thoại này là một chủ đề lớn, bây giờ chúng ta quay ngược lại bàn về điểm thứ nhất. Chúng ta biết văn hóa Trung Quốc rất hay nói đến đạo hiếu, Nho gia càng hay nói về đạo hiếu. Đem Tứ thư Ngũ kinh biên tập lại, thêm “Hiếu kinh,” “Nhĩ nhã” các loại, tập hợp thành một hệ liệt gọi là Thập tam kinh. “Hiếu kinh” là do học sinh của Khổng tử là Tăng tử ghi chép, chúng ta nếu muốn nghiên cứu đạo hiếu, phải xem tư tưởng của Khổng tử đã được hệ thống hóa thành bộ Hiếu kinh này, trong Hiếu kinh nói thế nào mới là hiếu? Không chỉ là đối với cha mẹ cần hiếu, mà còn cần mở rộng ra(i) đại hiếu với thiên hạ, yêu người trong thiên hạ, gọi là đại hiếu.  Người vi chính đem tấm lòng hiếu tử để vi chính, cũng chính là như chúng ta thường nói người làm việc công vụ là công bộc của nhân dân, ở đây là cùng một đạo lý, vì vậy về sau phát triển ra, sau thời Đường, Tống có lập luận rằng “Cầu trung thần tất ư hiếu tử chi môn”- tìm trung thần tất phải tìm từ nhà có con có hiếu. Một người có thể thật sự yêu cha mẹ, yêu gia đình, yêu xã hội, cũng nhất định là trung thần. Do trung thần là phát huy từ một loại tình cảm thương yêu. Giả sử không có trái tim yêu thương cơ bản, bạn nói anh ta có thể tận trung đối với quốc gia dân tộc được không? Ở đây lại có vấn đề. Liên quan đến chữ “trung” có một điểm, là như cổ nhân nói: “Khảng khái quyên khu dị, tòng dung tựu nghĩa nan”(ii). Khảng khái xả thân bỏ mạng so ra dễ dàng hơn, giống như lưu manh đánh nhau, khi đánh rồi, không phải ngươi chết thì là ta chết, nóng lên, thật sự dũng cảm, coi chết như về; giả dụ để cho họ năm phút suy nghĩ xem có nên chết hay không, thì phải cân nhắc, “tòng dung” – chầm chậm, xem họ có thật sự nguyện ý chết không, lúc này rất khó nói. Do đó nói trung thần tất đến từ nhà có con có hiếu, cần người có cảm tình chân thực, nhận thức chân thực, mới có thể đủ để tận trung.

Vì vậy, câu Khổng tử trả lời Mạnh Ý tử không giống (với trả lời Mạnh Võ Bá), Mạnh Ý tử là người theo chính trị, Khổng tử tương đối tôn kính ông ta, câu trả lời so ra tương đối hàm súc (ý tứ kín đáo), chỉ nói “không được vi phạm làm trái,” không được vi phạm cái gì? Ý là không vi phạm làm trái người trong thiên hạ, cần đại hiếu đối với thiên hạ, là đạo lý như vậy. Khổng tử biết câu trả lời như thế này Mạnh Ý tử không nhất định hiểu, kiểu nói như thế này thổ ngữ gọi là歇后语- “hiết hậu ngữ” – lời nói mà phần thứ hai được nói ra sau một lúc ngắt quãng, hoặc hoàn toàn không được nói ra, nhưng mang ý nghĩa của lời được nhắc ở phần một, “ẩn ngữ” […]. Nói suốt nửa ngày, ý nghĩa phần phía sau cần người nghe tự đoán. Tại sao Khổng tử lại trả lời theo kiểu này? Ý nghĩa là nói, anh Mạnh Ý tử thân phận đặc biệt, một khi đã là người theo chính trị, đối với người trong thiên hạ cần phụ trách công đạo, coi người trong thiên hạ như cha mẹ, như vậy mới thật là hiếu, đây là phong độ của bậc đại thần. Vì vậy “vô vi”-không vi phạm, chính là không thể vi phạm nhân tâm.

Khổng tử cũng biết Mạnh Ý tử chưa chắc đã hiểu, do đó đoạn thầy trò đối thoại với Phàn Trì là dụng ý “đánh nha đầu mắng tiểu thư,” biết Phàn Trì cũng nhất định không hiểu, không hiểu thì mặc họ không hiểu, từ từ sẽ truyền giảng, làm công việc giáo dục gián tiếp, do đó đợi lúc học sinh đánh xe mà có đoạn đối thoại này. Loại giáo dục gián tiếp này, so với dạy trực tiếp càng có hiệu quả. Đạo hiếu của một người, có thể làm đến mức như lời nói với Phàn Trì, đã là vô cùng có hiếu; đối với quốc gia đại sự, có thể làm được “vô vi”- “không vi phạm” chính là vị quan vô cùng tốt.

Nhưng Khổng tử đối với câu hỏi về hiếu của vị thế gia công tử Mạnh Võ Bá này, lời đáp rất bất đồng, ông nói đạo hiếu vô cùng đơn giản, chỉ cần nghĩ đến lúc ta bị bệnh, cha mẹ ta lo lắng đến cỡ nào, ta có thể hiểu thế nào là hiếu. Đối với một người mà nói, cái gọi là hiếu là hồi báo tấm lòng yêu thương của cha mẹ, ta chỉ cần nhớ lúc bản thân có chuyện, cha mẹ lo lắng như thế nào, mà dùng tấm lòng y như vậy đối với cha mẹ, chính là hiếu. Nói theo cách khác, anh Mạnh Võ Bá là thế gia công tử, tương lai nhất định sẽ nắm quyền. Chúng ta đọc lịch sử hiểu rõ một câu, chính là sợ nhất thế gia công tử nắm quyền “bất tri nhân gian chi tật khổ” – không hiểu những nỗi thống khổ của nhân gian. Vì vậy đạo lý vi chính, cần biết những nỗi khổ của nhân gian, hiểu rõ nỗi khổ đau của lão bách tính ở các tầng lớp xã hội ở phía dưới là ở chỗ nào. Vì vậy yêu người trong thiên hạ, cần biết sự thống khổ của người trong thiên hạ, cũng giống như cha mẹ hiểu con cái, anh tương lai nắm quyền, tất cần nhớ kỹ đạo lý này. Hai đoạn này đặt vào trong thiên Vi chính, rất là hay.

Đương nhiên thế gia công tử mà không biết nỗi khổ của nhân gian, thường là thất bại, chúng ta thấy Tấn Huệ Đế lúc thiên hạ mất mùa nặng, thái giám nói với ông ta là mọi người không có cơm ăn, ông ta nói: “Sao không ăn thịt?” Ông ta không biết đến cơm còn không có mà ăn, làm sao có được thứ so với cơm còn khó hơn là thịt. Đây chính là không biết nỗi khổ của dân gian. Chúng ta cũng có thể từ lịch sử rút ra một số kết luận, thường các đế vương sáng nghiệp, đều rất tốt, hoàng đế hai ba đời sau “lớn lên ở thâm cung trong tay người hầu thị nữ,” là loại hoàng đế đến gạo từ “cây” nào mọc ra cũng không biết, ta thay họ đặt ra một danh xưng, gọi họ là “hoàng đế chức nghiệp,” họ sinh ra là để làm hoàng đế. Các “hoàng đế chức nghiệp” thường phạm vào một căn bệnh tâm lý – cảm giác tự ti, họ vô cùng tự ti. Do đó các “hoàng đế chức nghiệp” trong lịch sử vô cùng hỏng, đối với quan văn, phản cảm họ học vấn giỏi hơn mình, đối với võ tướng, cũng không thích, cảm giác võ công không được như người ta, vì vậy “hoàng đế chức nghiệp” thường làm ra việc giết trọng thần, bãi chức người làm được việc các loại, khiến cho bản thân họ sẽ thất bại.

Tương tự, ngoài các loại chính trị của đế vương, chúng ta làm bất kỳ một nhiệm vụ gì, đối với các loại công việc lớn nhỏ, đặc biệt đối với các sự vụ thuộc phía dưới, càng không thể mơ hồ.

Sau đó, chúng ta cần thảo luận một vấn đề lớn của đạo hiếu. Văn hóa Trung Quốc, đối với giáo dục gia đình mà nói, thường lấy “trung hiếu truyền đời” để tuyên dương, có thể thấy văn hóa Trung Quốc xem trọng đạo hiếu như thế nào, việc này chúng ta cần hiểu tổng thể văn hóa lịch sử Trung Quốc. Dân tộc, quốc gia Trung Quốc so với các nước Âu Mỹ đều không giống.[…] Quốc gia Trung Quốc, do ảnh hưởng hoàn cảnh địa lý, có thể đạt được “dĩ nông lập quốc”- lấy nông nghiệp để lập quốc, châu Âu không đạt được điều này, đặc biệt là Hy lạp không đạt được điều này, họ muốn sinh tồn, tất phải phát triển thương nghiệp. Lịch sử châu Âu ngày trước, các loại thương nghiệp trên biển, thấy được là làm ăn buôn bán, không thấy được là làm cướp biển, do đó trước thế kỷ 16, phương Tây thiếu tài phú, nghèo nàn một mớ hỗn độn. Sau thế kỷ 16, cướp Ấn Độ, lừa Trung Quốc, tiền vàng mới chảy sang phương Tây, cái gọi là văn hóa, phát triển kinh tế phương Tây vân vân, nguyên lúc đầu đều là như vậy mà thành.

Chúng ta sau khi hiểu văn hóa phương Tây, quay đầu nhìn lại Trung Quốc, Trung Quốc lấy nông nghiệp lập quốc, có một loại văn hóa tinh thần cơ bản bất đồng với phương Tây, chính là xã hội tông pháp (tông trong tông tộc, dòng tộc -nd) Trung Quốc. Sau thời tam đại, do xã hội tông pháp, mới sinh ra phong kiến thời Chu. Phong kiến mà thường được nhắc đến, là hình thức phong kiến phương Tây, không phải phong kiến Trung Quốc, đem hình thái phong kiến Trung Quốc, đặt cùng một chỗ với chế độ nô lệ của văn hóa phong kiến phương Tây, so sánh một chút, có thể thấy hoàn toàn là hai thứ khác nhau, hoàn toàn sai biệt vậy. Phong kiến Trung Quốc, là do tông pháp hình thành nên. Do xã hội tông pháp, tinh thần đạo hiếu, từ trước thời Chu đã kiến lập, sau Tần Hán, do xã hội tông pháp biến thành xã hội gia tộc, cũng là một hình thái xã hội tông pháp, đạo hiếu đối với gia tộc, là phạm vi thu nhỏ lại, nhưng tinh thần vẫn như cũ. Chữ hiếu này, cũng là thứ chúng ta vừa nhắc đến, là mở mang nhân tình thế cố, đem chữ hiếu này của Trung Quốc, thông qua chính trị đề xướng thực hành mà làm rạng rỡ phong khí, là từ khi nào bắt đầu vậy? Là sau Tây Hán, thời Ngụy, Tấn chính thức đề xướng lấy đạo hiếu trị thiên hạ. Chúng ta thấy trong Nhị thập tứ hiếu nổi tiếng có Vương Tường nằm trên băng, ông ta chính là đại thần triều Tấn. Sau triều Tấn, Nam Bắc triều, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh về sau đều là “dĩ hiếu trị thiên hạ.” Chúng ta thấy đại thần các triều đại, mỗi khi vì các vấn đề quan trọng của quốc gia, hoặc các vấn đề yêu thương bảo hộ lão bách tính, trình tấu chương, rất nhiều người đều dùng câu “thánh triều dĩ hiếu trị thiên hạ,” trước hết đem cái mũ to này đội lên đầu hoàng đế, sau đó nên “thế nào thế nào” đưa ra kiến nghị, ở đây chúng ta thấy được các điểm tốt, ưu điểm của việc đề xướng hiếu trong văn hóa Trung Quốc.

Nhưng việc thiên hạ, nói đến chính trị thấy đáng sợ, chúng ta đóng cửa lại nghiên cứu, thấy cũng có người lợi dụng đạo hiếu biến thành thủ đoạn chính trị. Ai đã làm vậy? chính là hoàng đế Khang Hy triều Thanh.

Khang Ma tử dạy hiếu dạy trung

[ý là Khang mặt rỗ, chỉ Khang Hy-nd]

Chúng ta xem lịch sử, thường có thể thấy luật nhân quả, như triều Thanh, cô nhi quả phụ dẫn theo ba trăm vạn người, nhập Trung nguyên, thống trị bốn mươi nghìn vạn dân, đến cuối cùng triều Thanh kết thúc, lại vẫn là cô nhi quả phụ, cắp theo một cái tay nải, quay trở lại quan ngoại. Một giai đoạn lịch sử, bắt đầu như thế nào, cũng kết thúc như vậy, giống như ngớ ngẩn vậy. Lịch sử cổ kim đông tây, cũng gần như hoàn toàn theo luật nhân quả tuần hoàn vãng phục (iii) mà phát triển. Triều thanh cô nhi quả phụ sau khi nhập ải, Thuận Trị còn rất trẻ đã mất, nhưng đây là một đại nghi án của triều Tranh, có thuyết nói Thuận trị không chết, đi xuất gia, đây là một trong các đại nghị án không thể giải quyết trong lịch sử. Tiếp theo Khang Hy là đứa trẻ mới tám tuổi lên làm hoàng đế. Đến 14 tuổi, chính thức tự thân xử lý chính sự. Thành thật mà nói, vào lúc đó nếu như là người tầm thường, phải thống trị một Trung quốc bốn mươi nghìn vạn dân to như vậy, sẽ không có cách nào cả, nhưng đứa trẻ mười bốn tuổi này rất lợi hại, Khang Ma tử – trên mặt Khang Hy có vài vết rỗ đậu mùa – mười bốn tuổi bắt đầu thống trị Trung Quốc mấy chục năm (Khang Hy tám tuổi làm hoàng đế, 14 tuổi thân chính, 69 tuổi mất, tại vị 61 năm). Thiên hạ triều Thanh trong tay ông dần an ổn. Đương thời, trong phần tử tri thức ở Trung Quốc, người phản Thanh phục Minh rất nhiều, như Cố Đình Lâm, Lý Nhị Khúc, Vương Thuyền Sơn, Phó Thanh Chủ những người này đều không đầu hàng, đặc biệt là ở lĩnh vực tư tưởng, học thuyết, công tác phản Thanh phục Minh thực tại rất đáng sợ. Kết quả thế nào? Khang Ma tử lợi dụng chữ “hiếu” của Trung Quốc, đánh hư chiêu một hồi, khiến cho hạt giống phản Thanh thẳng một mạch hai trăm năm sau mới mọc mầm.

Mãn Thanh nhập quan, có ba bộ thư tịch nhất định phải đọc, là ba bộ nào? Binh pháp quyền mưu kiểu người Mãn, sách học là Tam quốc diễn nghĩa, không phải Tam quốc chí, lúc đương thời dường như vương công đại thần đều đọc Tam quốc diễn nghĩa. Bộ thứ hai không đọc công khai, mà đọc bí mật, là Lão tử, lúc đó Khang Hy có một phiên bản Lão tử đặc biệt,  hiện tại đã được xuất bản, chú giải cũng không có điểm nào đặc biệt, nhưng lúc đó mỗi một quan viên triều Thanh, đều cần đọc thuộc “Lão tử”, tìm lời giải cho triết lý chính trị. Một bộ sách khác là “Hiếu kinh.” Nhưng biểu hiện bề ngoài vẫn là tôn Khổng. Nói đến đây, mọi người đọc lịch sử, có thể so sánh với “Văn Cảnh chi trị” (thời trị vì của Hán Văn đế, Hán Cảnh đế) của triều Hán, thiết kế chính trị của “Văn Cảnh chi trị,” trong lịch sử chỉ dùng tám chữ để miêu tả – “Nội dụng Hoàng Lão, ngoại thị Nho thuật” – trong dùng đạo Hoàng, Lão, biểu hiện bên ngoài là Nho. Như thế, Khang Hy đã đề xướng đạo hiếu, biên tập nên một bản ngữ lục – “Thánh dụ,” về sau được gọi là “Thánh dụ bảo huấn” hoặc “Thánh dụ quảng huấn,” tuyên truyền đến tất cả các tổ chức chính trị cao thấp ở địa phương. Trước đây chính trị địa phương được tổ chức như thế nào? Chính là từ đường của xã hội tông pháp, trong từ đường có tộc trưởng, hương trưởng, đều là người tuổi cao đức tốt, học vấn tốt, trong địa phương có có uy tín cao. Mỗi tháng mùng một, ngày rằm, nhất định phải tập trung người trong tộc ở từ đường, tuyên giảng thánh dụ, những lời trong thánh dụ điều nào cũng là đạo lý làm người, làm việc, đưa tư tưởng Nho gia vào, đặc biệt là đề xướng đạo hiếu. Tiến thêm một bước phân tích, Khang Hy hiểu sâu sắc tinh thần hiếu nhưng lại vận dụng mặt trái của nó. Cần biết rằng Khang Hy đem mỗi một người trẻ tuổi huấn luyện thành cái gì cũng nghe lời cha mẹ, như thế đâu có ông lão, bà lão nào muốn con mình đi làm việc giết người tạo phản? Do đó Khang Hy dùng mặt trái [của hiếu], dùng đến hết sức cao minh. Đây là kỳ thứ nhất.

Kỳ thứ hai: lúc đó Lý Nhị Khúc ở Thiểm Tây, giống Cố Đình Lâm, là phần tử tri thức không đầu hàng, ông dạy học ở Quan Trung, do đó về sau mấy người Cố Đình Lâm này, rất hay chạy về Thiểm Tây, ngấm ngầm tổ chức phản Thanh phục Minh. Khang Hy rõ ràng biết hết, hoàng đế ngược lại triệu Lý Nhị Khúc làm quan, tất nhiên Lý Nhị Khúc không làm. Về sau lúc Khang Hy đến Ngũ Đài Sơn cùng tuần sát Thiểm Tây, đặc biệt mệnh lệnh xuống đốc phủ Thiểm Tây, biểu thị tôn sùng tiên sinh Lý Nhị Khúc là nhà đại Nho lúc bấy giờ, là thánh nhân đương thời, nhất định cần tự mình đi bái phỏng Lý Nhị Khúc. Đương nhiên, Lý Nhị Khúc cũng biết đây là Khang Hy chơi một ván cờ cuối cùng, do đó Lý Nhị Khúc nói là bệnh, không thể tiếp giá. Nào biết Khang Hy lại nói không sao cả, vậy thì sẽ đến gần chỗ Lý Nhị Khúc dạy học, đặc biệt nói cần thăm bệnh Lý Nhị Khúc. Như thế này có thể bức Lý Nhị Khúc, nếu Khang Hy đến nhà, Lý Nhị Khúc chỉ cần dập đầu lạy, có thể tính là đầu hàng vậy, đây là vấn đề khí tiết dân tộc của văn hóa Trung Quốc; do đó Lý Nhị Khúc không có cách nào khác phải thể hiện bị bệnh, nằm trên giường, bệnh đến mức không dậy được. Nhưng Khang Hy đến gần chỗ Lý Nhị Khúc, một đội quan viên từ đốc phủ Thiểm Tây trở xuống, đều đi đằng sau hoàng đế, chuẩn bị đi xem bệnh Lý Nhị Khúc. Khang Hy trước hết nghe ngóng một hồi, nói Lý Nhị Khúc thật sự có bệnh, đồng thời, Lý Nhị Khúc cũng không có cách nào khác, đành sai con trai của mình đi gặp Khang Hy, trình bày một hồi. Nhưng Khang Hy rất cao minh, cũng không miễn cưỡng đi Lý gia. Nếu ngược lại, ông nhất định đến Lý gia, Lý Nhị Khúc mắng ông một trận, tất không giết Lý Nhị Khúc không được. Giết rồi, khơi dậy thù ghét dân tộc. Không giết, thì mất sự tôn nghiêm của hoàng đế, không xuống đài được, do đó ông đã không đi. An ủi con trai Lý Nhị Khúc một trận, yêu cầu truyền đạt lại ý tứ của mình, còn giao phó cho quan lại địa phương, cần chiếu cố chăm sóc Lý Nhị Khúc thỏa đáng. Còn nói với họ, vì bản thân là hoàng đế, không thể không quay về kinh thành xử lý triều chính, quan địa phương có thể sớm tối học tập Lý Nhị Khúc, thật là rất có phúc khí. Khang Hy vận dụng lần này, chính là đem mặt tốt của văn hóa Trung Quốc, biến thành quyền thuật của mình. Nhưng việc thật sự làm con người ta cảm khái, là người đời sau, không đem những lỗi này gán vào quyền thuật của Khang Hy, ngược lại đều trút vào người Khổng Mạnh, do đó học thuyết Khổng tử bị đánh đổ, Khổng tử bị mắng chửi, đều quá oan uổng vậy.

Thực sự mà nói, tinh thần đạo hiếu tuyệt đối là đúng, nếu nói lý do đạo hiếu là đúng, thì rất nhiều rất nhiều, hiện tại đang nói về Luận ngữ, không tiếp tục nói ngoài lề quá nhiều, chỉ ở trong phạm vi này mà nêu ra, có thể hiểu “hiếu” có thể trị thiên hạ. Do mỗi người hiếu với cha mẹ mình, mở rộng ra yêu mọi người trong thiên hạ, chính là tinh thần hiếu. Chỗ sâu sắc hơn của tinh thần này, chúng ta xem lại Hiếu kinh, có thể hiểu được.

(i) Nguyên văn: 扩而充之 – kuò ér chōng zhī – khoáng(khoách) nhi sung chi: mở rộng ra phạm vi lớn, làm đầy nội dung. Câu trong sách Mạnh tử.

(ii) Nguyên văn: 慷慨捐躯易,从容就义难

(iii) Nguyên văn: 循环往复 – xún huán wǎng fù – tuần hoàn vãng phục. Sự vật cứ chuyển động một vòng lại một vòng, một lần lại một lần, như không bắt đầu không kết thúc. Câu trong Sử ký

Hàn

 

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.5

孟懿子(1)问孝,子曰:“无违。(2)”樊迟(3)御(4),子告之曰:“孟孙(5)问孝于我, 我对曰无违。”樊迟曰:“何谓也。”子曰:“生,事之以礼;死,葬之以礼,祭之以礼。”

Mèng yì zǐ wèn xiào, Zǐ yuē: “wú wéi”.

Fán chí yù, zǐ gào zhī yuē: “mèng sūn wèn xiào yú wǒ, wǒ duì yuē wú wéi.”

Fán chí yuē: “héwèi yě.” Zǐ yuē: “sheng, shì zhī yǐ lǐ; sǐ, zàng zhī yǐ lǐ, jì zhī yǐ lǐ.”

Mạnh Ý tử (1) vấn hiếu, Tử viết: “Vô vi (2).”

Phàn Trì (3) ngự (4), Tử cáo chi viết: “Mạnh Tôn (5) vấn hiếu ư ngã, ngã đối viết vô vi.”

Phàn Trì viết: “Hà vị dã.” Tử viết: “sinh, sự chi dĩ lễ; tử, táng chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ.”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. Mạnh Ý tử: Đại phu nước Lỗ, thuộc một trong “tam gia” – ba họ tộc lớn (chỉ ba khanh đại phu nước Lỗ họ Quý Tôn, Thúc Tôn, Mạnh Tôn), họ Trọng Tôn, tên Hà Kỵ, “Ý” là thụy hiệu. Phụ thân của ông trước lúc lâm chung yêu cầu ông theo Khổng tử học lễ.
  2. 无违 – vô vi: không nên vi phạm, làm trái.
  3. 樊迟 – Phàn Trì: Họ Phàn tên Tu, tự Tử Trì. Là đệ tử của Khổng tử, nhỏ hơn Khổng tử 46 tuổi. Ông từng cùng Nhiễm Cầu giúp Quý Khang Tử tiến hành cách tân.
  4. 御 – ngự: điều khiển xe ngựa
  5. 孟孙 – Mạnh Tôn: chỉ Mạnh Ý tử.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn ]

Mạnh Ý tử hỏi hiếu là gì, Khổng tử nói: “Hiếu chính là không nên vi phạm, làm trái lễ.” Sau đó Phàn Trì đánh xe ngựa cho Khổng tử, Khổng tử nói với Phàn Trì: “Mạnh Tôn hỏi ta hiếu là gì, ta trả lời là không nên làm trái lễ.” Phàn Trì nói: “không nên làm trái lễ là có nghĩa như thế nào?.” Khổng tử nói: “Khi cha mẹ còn sống, cần theo lễ mà chăm sóc phụng hầu; sau khi cha mẹ mất, cần theo lễ mà mai táng, tế tự.”

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Khổng tử cực kỳ xem trọng hiếu, yêu cầu mọi người tận hiếu đạo đối với bố mẹ của mình, vô luận họ còn sống hay đã mất, đều nên như vậy. Nhưng chỗ trọng yếu ở đây là, lúc tận hiếu không nên làm trái với quy định của lễ, nếu không thì không phải là hiếu chân chính. Có thể thấy, hiếu không phải là chung chung mơ hồ, tùy ý, mà phải theo quy định của lễ, theo lễ mà làm mới là hiếu.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Mạnh Ý tử: Đại phu nước Lỗ, thuộc một trong “tam gia,” họ Trọng Tôn, tên Hà Kỵ. Cha của ông Hy Tử có di mệnh bảo ông học lễ với Khổng tử, là học sinh thời kỳ đầu của Khổng tử. Sau Khổng tử làm chức Tư Khấu ở Lỗ, chủ trương phá thủ phủ của tam gia, Hà Kỵ dẫn đầu kháng lệnh. Người đời sau không liệt Hà Kỵ vào trong các đệ tử của Khổng môn.

无违 – vô vi: Hy tử hiền mà thích lễ, Ý tử chắc rằng không thể tuân thủ cẩn thận sự dạy bảo của phụ thân. Khổng tử dạy theo vô vi – không làm trái, đại loại kỳ vọng [Ý tử] thực hành tốt lệnh của cha, rốt cuộc có thể hoàn thành chí hướng của cha.

樊迟御: Phàn Trì đánh xe cho Khổng tử, Khổng tử đem lời nói với Ý tử nói lại cho Phàn Trì. Không làm trái với lệnh của cha là hiếu, lời này là đặt biệt nói cho Ý tử. Không phải người cha nào cũng hiền, tòng phụ chưa chắc đã  là hiếu. Khổng tử nói lại cho Phàn Trì, đại loại kỳ vọng Phàn Trì có câu hỏi, để có thể giải thích ý nghĩa chưa tận của câu trước.

何谓也 – hà vị dã: Phàn Trì quả nhiên không hiểu rõ mà hỏi lại. Khổng tử liền nói vô vi, [là] không vi phạm vào lễ, có khả năng lấy lễ phụng sự phụ mẫu, đây là hiếu. Cha mẹ có chỗ không hợp lễ, con cái thuận theo sự sai trái của họ là không thỏa đáng, nhất định phải dựa vào sự hợp lễ mà phụng sự phụ mẫu, thì đối với cha mẹ mới là tôn kính hết mức, đây mới là hiếu. Nếu như thuận theo sự phi lễ của cha mẹ, là để cho cha mẹ không đủ tốt, lại tự để bản thân rơi vào phi lễ, đây là nghịch lại cha mẹ vô cùng. Cho nên dạy “vô vi” – không vi phạm lời cha dạy là hiếu, là lời giành riêng cho Ý tử. Không vi phạm lễ là hiếu, là lời giành cho mọi người trong thiên hạ nói chung. Nếu người cha quả thật là hiền, con không vi phạm ý cha, cũng chính là không vi phạm lễ. Khổng tử nói hai lần, ý nghĩa tương thông. Hoặc có thuyết, ở vào thời ba họ tộc lớn tiếm lễ, cho nên Khổng tử đem việc không vi phạm lễ để nhắc nhở Ý tử, hy vọng Phàn Trì truyền đạt lại. Nhưng Khổng tử tại sao lại không nói trực tiếp, mà nhất định phải đợi Phàn Trì hỏi lại mởi chuyển lời truyền đạt? Việc này thường được cắt nghĩa sai đi. Nếu Ý tử có thể không vi phạm lời cha dặn là phải học lễ, thì đã nằm trong số những người cảnh báo việc ba họ lớn tiếm quyền, không phải phiền đến Phàn Trì truyền đạt lại.

Mạnh Ý tử hỏi: “Hiếu đạo là như thế nào?.” Tiên sinh nói: “Không được vi nghịch.” Một ngày, Phàn Trì đánh xe cho tiên sinh, Tiên sinh kể cho Phàn Trì: “Mạnh Tôn hỏi ta về hiếu đạo, ta trả lời là không được vi nghịch.” Phàn trì nói: “Như thế ý là gì?” Tiên sinh nói: “Lúc cha mẹ còn sống, theo lễ mà phụng sự cha mẹ. Lúc cha mẹ mất đi, theo lễ để mai táng, theo lễ để tế tự.”  

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]   

Như phần này, chúng ta không cần theo phân chia của Tống Nho như thế này, mà đem bỏ đi cho rồi. Đây là hậu nhân phân chia ra , là không đúng, trên chia ra 1 lần, dưới lại chia ra thêm 1 lần nữa, kết quả biến thành giáo điều. Kỳ thực là ở đây là đoạn nối liền thông suốt, cũng chính là phát triển ý của “vi chính dĩ đức” ở phía trước, đem tinh thần đạo hiếu của văn hóa Trung Quốc, mở rộng ra lĩnh vực đối nhân xử thế, Trung Quốc từ cổ đến nay, các nhà đại chính trị trong nhà ngoài ngõ đều giữ một lòng không cẩu thả, chính là từ xuất phát điểm này mà bồi dưỡng nên.

Trước hết chúng ta giải thích câu chữ. Mạnh Ý Tử không nhất định là học trò của Khổng tử, mà là mối quan hệ ở giữa học trò và bạn bè, ông là đại phu nước Lỗ. “Đại phu” lúc đương thời, là một cấp bậc quan tương đối cao. Miễn cưỡng so sánh, như cấp thành viên nội các hiện nay, đều gọi là “đại phu.” Đại phu là cấp (bậc)  quan, không phải chức quan. Các loại cấp bậc chức vụ quan của Trung Quốc, qua các thời đều có biến động. Nếu chúng ta muốn hiểu các biến đổi hình thái chính trị qua các thời đại, cần đọc “Thập Thông” hoặc “Tam Thông” – thông chí, thông hiến, thông khảo. Nội dung không chỉ bao quát các diễn biến chế độ chính trị, quan chức, và mọi diễn biến khác của Trung Quốc, thậm chí nghiên cứu tư tưởng chủ nghĩa tam dân hiện đại, quốc phụ [Tôn Trung Sơn] tại sao lại chọn dùng chế độ ngũ quyền phân lập, đều có mối quan hệ sâu sắc với văn hóa “Tam Thông”, “Thập Thông.” Ở đây đang nói về chức vụ địa vị của Mạnh Ý tử, thuận tiện kể ra.

Nếu Mạnh Ý tử đã là nhân vật như vậy, theo lập trường lúc bấy giờ của Khổng tử mà nói, đoạn hội thoại này, rốt cuộc là Khổng tử trước khi làm Tư Khấu của nước Lỗ, hay sau khi làm nói, rất khó để khảo chứng. Địa vị của Khổng tử lúc đương thời ở trường quốc tế – tức là giữa các chư hầu, rất đặc thù, là một nhân vật kiệt xuất. Cho nên Mạnh Ý tử đến hỏi Khổng tứ hiếu là gì, Khổng tử chỉ nói  “không được vi phạm làm trái.” Nếu như theo câu này mà xem xét, Khổng tử nói lời vô cùng giảo hoạt không thành thật. Không được vi phạm làm trái cái gì? Không có phần tiếp theo. Đây là một lời đáp rất kỳ lạ, tiếp phía sau, lại là một màn đối thoại hình thức ngắn gọn. Chúng ta đọc Luận ngữ, đi sâu vào, rất thú vị, như đọc tiểu thuyết, không nhất thiết phải dùng thái độ nghiêm trọng để đọc.

“Phàn Trì ngự” – Phàn Trì là học trò của Khổng tử, tên là Phàn Tu, tự Tử Trì, nhỏ hơn Khổng tử 36 tuổi, là lứa thanh niên. “Ngự” là điều khiển xe. Mạnh Ý tử vừa mới đến bái phỏng Khổng tử, thỉnh giáo vấn đề đạo hiếu là gì, Khổng tử nói “không được vi phạm làm trái,” chỉ có mộ một câu như vậy. Qua một lúc Khổng tử đi ra ngoài […], do học trò trẻ là Phàn Trì đánh xe [bỏ mấy câu dông dài].

“Tử cáo chi viết” là miêu tả Khổng tử ở trên xe đặc biệt kể cho Phàn Trì một việc: “Mạnh Tôn hỏi ta về hiếu, ta trả lời: không vi phạm.” Mạnh Tôn là hiệu của Mạnh Ý tử, do ông là người có địa vị tương đối cao trong triều đình, nên trong chính giới đương thời mà nói, cũng tính là một nhân vật vai vế, do đó Khổng tử đối với ông tương đối tôn kính, nên chỉ gọi ông bằng tên hiệu. Khổng tử nói, Mạnh Tôn hỏi ta hiếu là gì, ta trả lời là “vô vi – không được vi phạm làm trái.” [Lại bỏ một phần dông dài và không quan trọng lắm].

Không được vi phạm làm trái, ý nghĩa rất đơn giản. “Sinh, sự chi dĩ lễ.” Chữ “sự” là cổ nhân dùng khi người dưới nói về người trên. Khổng tử nói, khi cha mẹ còn sống, chúng ta cần phải hiếu kính họ. Làm việc dĩ lễ là như thế nào? Rất khó nói, lễ này không phải là gặp bố mẹ liền hành lễ là hiếu. Lễ này là bao quát mọi yêu thương, chăm sóc trong đời sống. (Đạo lý này, về sau chúng ta sẽ có cơ hội nói riêng về lễ, ở đây tạm không nói đến.) Lại nói: “tử, táng chi dĩ lễ.” Do đó lễ là một khái niệm cơ bản vô cùng quan trọng trong văn hóa Trung Quốc, thấy chữ lễ này, tuyệt không thể dùng nghĩa hẹp là lễ mạo để giải thích. Sau khi mất lại phải “tế chi dĩ lễ.” Chúng ta nghiên cứu đoạn này, dường như không có gì đáng ngạc nhiên, nhưng ghi lại đoạn hội thoại này vào trong Luận ngữ, đến cuối cùng là có ý nghĩa gì? Đối với Vi chính có quan hệ như thế nào?

Chúng ta trước hết hãy đặt các vấn đề này sang một bên, xem tiếp đến đoạn sau, về sau mới tổng hợp lại để nghiên cứu.

Hàn

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Rie's Bento & Cooking

in healthy way with Love

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: