Mỗi ngày một kiến thức: Nguồn gốc chữ “Thị” trong họ tên

Trong một quyển sách tên là 取名宝典 – ‘Thủ danh bảo điển’ của  巨天中 – Cự Thiên Trung, Nhà xuất bản Nam Văn Bác Nhã, giải thích về chữ Thị – 氏 như sau:

Thị là một chi nhánh, ngành họ của Họ, chỉ tồn tại độc lập trong thời gian trước nhà Hán. Họ là tộc hiệu của một thị tộc, thành viên của thị tộc đều lấy tộc hiệu này làm Họ của bản thân. Nhưng về sau con cháu ngày càng đông đúc, phân thành rất nhiều chi, nhánh, dần dần phân tán ra sống ở các nơi, quan hệ cũng ngày càng xa, do vậy mỗi phân chi lại tự xác định cho mình thêm một danh xưng, danh xưng này gọi là Thị. Như vậy, mỗi một thành viên của một phân chi có một Họ, lại có thêm một Thị. Ví dụ như người tộc Thương họ là “Tử,” về sau lại phân thành các Thị “Ân,” “Thời,” “Lai,” “Tống,” vân vân, những người này đều là người tộc Thương, nhưng sống tại các địa điểm khác nhau.

Người xưa đặt Thị như thế nào? Do hạn chế của điều kiện văn hóa lịch sử lúc bấy giờ, rất nhiều bộ tộc khi lựa chọn Thị cho mình, đều xuất phát từ “vật tổ” (những thứ người xưa cho là linh thiêng, đại diện cho thần linh). Có bộ tộc lấy thực vật làm Thị của mình, có bộ tộc lấy động vật làm Thị của mình. [….] Thành viên của thị tộc mà có cùng “vật tổ” không được lấy nhau, vật tổ trở thành tiêu chí để giới hạn hôn nhân. Thị tộc thời kỳ đầu có: Lang Thị (sói), Hùng Thị (gấu), Quy Thị (rùa), Lộc Thị (hươu), Toại Nhân Thị, Hữu SàoThị (sào là tổ, ổ), Tây Lăng Thị, Thần Nông Thị, Thục Sơn thị, Kim Thiên Thị….

Sau thời đại Chiến Quốc, Họ và Thị cơ bản hợp thành một, hầu hết mọi người đều chỉ xưng Họ mà không xưng Thị, chữ “Thị” này liền mất đi ý nghĩa gốc, Thị dần dần đi liền sau họ, dùng để chỉ thành viên gia tộc của một Họ. Ví dụ “Trương thị huynh đệ,” “Vương thị huynh đệ,” “Lưu thị huynh đệ”… là chỉ anh em họ Trương, anh em họ Vương, anh em họ Lưu…

Và ở Việt Nam….?

Phía trên đây là nguồn gốc chữ Thị từ thời xa rất xa.

Ở Việt Nam, tên Nguyễn Thị A, Hoàng Thị B, khi viết bằng tiếng Hán, đều là chữ Thị này (chứ không phải như tưởng tượng phong phú của một số người, thị có nghĩa là chợ, thị có nghĩa là nhìn). Nếu giải thích ngheo nghĩa gốc, thì sẽ hiểu là người tên A của dòng họ Nguyễn, người tên B của dòng họ Hoàng.

Nhưng chưa tìm hiểu, tập tục “nam Văn nữ Thị” từ khi nào mà có?

HS

Tây Sơn thuật lược

Thấy bài này hay hay (có mấy chỗ khá funny) cho nên share về đây. Nhưng ko nhấn nút share link mà copy paste cho chắc, để đề phòng nhỡ link trang nguồn bị hỏng hay bị mất.

Vi ảnh số 5/VAH4 của Viện Khảo cổ Saigon.
( nguyên bản của Société asiatique Paris số HM 2178 Legs H. Maspéro )

Bản dịch của TẠ QUANG PHÁT
Chuyên viên Hán học, Viện Khảo cổ Saigon.

QuangTrung

Bài TÂY SƠN THUẬT LƯỢC này bằng chữ Hán, tác giả không biết là ai, có đăng cả trong Nam Phong số 148, phần chữ Hán, trang 27-39. Tuy về sử liệu có nhiều điểm sai, nhưng lại có mấy truyện nho, có thể gọi là giai thoại về thời Tây Sơn, về Nguyễn Huệ rất ngộ nghĩnh, chưa thấy sử sách nào nói đến. Vì vậy chúng tôi xin đăng đây bản dịch của ông Tạ Quang Phát. Về những điểm sai với sử, chúng tôi xin chú giải ở dưới. Một điều quan trọng hơn nữa là tài liệu này chắc chắn được viết dưới triều Nguyễn nên cách lập luận và dùng chữ bênh vực, tuyên dương vua Gia Long rất rõ.

Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc, tổ tiên là người huyện Nghi xuân, tỉnh Nghệ an. Niên hiệu Dương Ðức triều Lê chiếm giữ được bảy huyện ( của Chiêm Thành ? ) bèn dời dân vào đấy. Từ đó mới sinh ra Nhạc. Nhạc xưa vốn làm Biện lại ở tuần Vân Ðồn, vì thiếu tiền của quan mới trốn làm trộm cướp, thủ hạ có trên trăm người, cướp phá châu ấp, tướng quân trấn thủ không đàn áp được. Nhạc tự xưng là Thiên Vương, tiếm xưng niên hiệu là Thái Ðức, lén chiếm giữ thành Qui Nhơn.

Năm Ðinh Dậu (Cảnh Hưng thứ 38), Nguyễn Văn Nhạc với em là Huệ cử binh đánh kinh đô Phú Xuân (1). Vua Hiếu Ðịnh đi biển vào thành Gia Ðịnh tuần thú (2). Hoàng đế triều ta (Nguyễn) cùng ở chung với Nhạc. Tháng 9 năm ấy Nguyễn Văn Nhạc xúc phạm đến vua, và vua Hiếu Ðịnh băng (3). Hoàng đế Nguyễn Ánh triều ta bèn sang Xiêm La mà ở (4). Nhạc có những vùng từ Ải Vân trở về Nam.Năm Nhâm Dần, Nhạc thu nạp bầy tôi của chúa Trịnh đã bỏ trốn là Nguyễn Hữu Chỉnh, lúc ấy Nhạc vốn có chí thôn tính đất Thuận hóa (5), nhưng không có ai mưu tính công việc ấy, đến lúc ấy được Chỉnh chạy vào, Nhạc mừng lắm bèn thu dụng.

Năm Bính Ngọ (Cảnh Hưng thứ 47) tháng 3, Nguyễn Hữu Chỉnh trình bày với Nhạc cơ hội thích nghi để lấy Thuận hoá, xin phát binh đánh lấy Phú xuân, Nhạc nghe theo.

Tháng 4, Nhạc sai em là Huệ, tiết chế các quân thủy và bộ, rể là Vũ Văn Nhậm làm Tả quân Ðô đốc, Chỉnh là Hữu quân, nhắm kinh Phú xuân tiến phát.

Tháng 5, quân của Nhạc đánh và lấy được Phú xuân. Chỉnh nhân thế khuyên Huệ thừa thắng lấy kinh đô Thăng Long.

Tháng 6, Huệ tiến phạm kinh đô, chúa Trịnh Ðoan Nam vương là Tùng đánh thua mà chết.

Tháng 7, Huệ giả vờ tôn hoàng đế nhà Lê ở điện Kính Thiên và làm lễ triều yết. Trong tháng ấy vua Hiến tông Vĩnh Hoàng đế băng.

Tháng 8, Nguyễn Văn Nhạc và Huệ trở về Nam, Chỉnh chạy theo Nhạc đến biển đông, Nhạc không cho Chỉnh trở về Nam, mới cho lưu lại ở Nghệ an. Nhạc và Huệ từ Thăng Long đến, thì Huệ ở lại thành Phú xuân, tiếm xưng là Bắc Bình vương. Cháu đầu của vua Lê là Duy Kỳ lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Chiêu Thống.

Năm Ðinh Vị (năm đầu Chiêu Thống), Nguyễn Hữu Chỉnh lấy binh Nghệ an đánh đuổi Án Ðô vương Trịnh Bồng.

Vua Lê thì dùng Nguyễn Hữu Chỉnh coi giúp việc nước, phong tước cho Chỉnh làm Bằng Quận công. Mùa đông năm ấy vua Lê sai Ngô Nho (người ở Tri Chỉ), Trần Công Xán (người ở Yên Vĩ, cũng gọi là Lượng) đem lễ vật địa phương cùng quốc thư cho Huệ, nói rằng Nam và Bắc mỗi bên đều giữ lấy cương thổ của mình, không đặng vượt khỏi bổn phận (6). Huệ giân lắm, truyền mật lệnh ném bọn Nho và Công Xán xuống biển, lại khiến Tiết chế Nhậm đốc suất bộ quân, Thái úy Ðiều đốc suất thủy quân, Ðô đốc Ðặng Giản làm tiên phong, nhắm kinh Thăng Long tiến phát.

Lúc ấy quân Ngụy qua Nghệ an, triều đình được thông báo, đầu tiên ở khúc sông quanh khe Vân sàng bày súng và chiến thuyền để chuẩn bị. Ðặng Giản giả vờ không dám tiến lên chỉ theo ven bờ biển ngày đêm giương cờ đánh trống. Quan triều đình thấy thế khinh dể. Ðặng Giản mới ra lịnh cho chặt cây ở rừng ven sông, ném xuống sông cho ngăn giòng nước mà xuống, lại sai những người lặn lội giỏi, thừa ban đêm theo những bè gỗ ấy qua sông, rình cho quân triều đình ngủ say, mới kéo hết thuyền về phía Bắc, trong đồn ngụy lại phát hiệu lịnh độ quân qua sông mà đánh giết, thuyền giặc lại nổ súng bắn vào quân triều đình. Quân triều đình tan vỡ mà chạy trốn.

Năm Mậu Thân ( Chiêu Thống năm thứ hai – Thái Ðức năm thứ 10 ), tháng giêng, quân Tây Sơn tiến phạm kinh thành Thăng Long. Vua Lê chạy đi Hải dương, quân Tây Sơn rượt theo, cha con Hữu Chỉnh đều bị bắt. Huệ cho Vũ Văm Nhậm trấn Thăng Long, đặng Giản trấn Thanh hóa ( Giản là người ở Lương xá, dòng dõi của Ðặng Nghĩa Huấn ).

Vua Lê sai Lê Quýnh, Trần Danh Án phò Hoàng thái hậu sang nhà Thanh bên Tàu để xin binh tiếp viện.

Mùa hạ, Huệ giết kẻ bầy tôi là Vũ Văn Nhậm, lúc ấy Nhậm tại trấn, có kẻ tố giác rằng Nhậm lộng quyền. Huệ mượn cớ là đi tuần đất Bắc, Nhậm ra lạy chào Huệ bèn bắt mà giết đi.

Huệ cho quan Ðại tư không Ngô Văn Sở, quan Nội hầu Lân trấn Thăng Long, Huệ từ Thăng Long trở về.

Mùa thu, tiến sĩ nhà Lê là Ngô Thì Nhậm (người ở Tả Thanh oai hiệu là Hy Doãn), Nguyễn Gia Phiền (người ở An Lũng), Phan Huy Ích (người ở Thu Hoạch), hương cống Ngô vi Quý (người ở Tả Thanh oai), Ðoàn Nguyên Tuấn (người ở Hải an) cùng đến Phú xuân yết kiến Huệ.

Huệ khiến Nhậm giữ tư lịnh (từ nay những thư trát gửi sang Thanh đều do Ngô Thì Nhậm viết ra) khiến Phiền và Ích làm Ðiện trung thị Ngự sử, khiến Quý và Tuấn sung Hàn lâm viện.

Ðoàn Nguyên Tuấn là con của Thúc, ở trong làng, gác nhà lên cao mà ở trong vườn hoa, gọi là Phong Nguyệt sào (ổ gió trăng) để ngâm vịnh ở đấy, tự gọi là Sào Ông, dường như cho mình là Sào Phủ vậy. Nay lại quên tình vườn cũ, lại cong gối mà qùy lạy ở triều đình của giặc, không gợi hứng với cỏ hoa, lại dựa thân vào Hàn lâm viện, không còn nhàn rảnh nữa để ngâm vịnh với gió trăng, mà lại nhập vào bộ sứ thần. Tưởng lại tấm thân của Tuấn chưa từng được một ngày nào yên nghỉ ở cái ổ gió trăng của ông ta vậy, thì làm sao mà chẳng phụ lời hẹn ước trước kia. Ông Thụy Nham tặng thơ có câu rằng :

Hoa ổ phi cư phụ cố sào
Nghĩa là:
” Vườn hoa chẳng ở thì phụ ổ gió trăng “
Mùa đông tháng 11, Huệ tự xưng Hoàng đế, cải nguyên là Quang Trung. Tháng ấy vua Lê dùng quân Mãn Thanh lấy lại kinh thành Thăng Long. Năm Kỷ Dậu (Nguyễn Huệ niên hiệu Quang Trung thứ hai) tháng giêng, Huệ cả phá quân của Tôn Sĩ Nghị nhà Thanh ở Thăng Long. Vua Lê đi lên phương Bắc.

Huệ dùng mưu kế của Ngô Thì Nhậm, khiến Nhậm sang nhà Thanh hối lộ với các vương thân quan ở nội các của triều Thanh để ngăn việc tiếp viện và vội ra lịnh cho cả thiên hạ thần dân phải suy tôn Huệ làm vua. lấy lời suy tôn ấy, kèm vào tờ biểu để tâu lên vua nhà Thanh. Lúc ấy viên Tham tụng xưa là Bùi Huy Bích mượn cớ có bịnh mù mà không chịu ký tên vào, Huệ khiến ép bức buộc phải lăn dấu tay.

Huệ đặt ở các huyện quan tả hữu quản lý, lại dùng người giàu có và thế lực ở địa phương làm huyện trưởng khiền đốc xuất việc lương thực cho quân đội. Quan Tả quân thì coi về việc thưa kiện, quan Hữu quân thì coi về cơ đội binh lính. Vì thế mà cơ binh trong hạt được đóng đồn ngay trong hạt, mỗi tổng đều có sai một vệ binh đi tuần thám ban đêm, vì thế mà đạo tặc đều yên, cửa làng khỏi phải đóng. (7)

Nạn đói to, có người vợ dân phải bán mình để lấy tiền nuôi gia đình. Ðời kể lại rằng ở Hải dương có người vợ khá có nhan sắc, quen gần với đồn Tây Sơn, viên đồn trưởng thấy nàng mà đẹp lòng. Người vợ ấy bèn nói với chồng rằng : Nay vì nạn đói kém, trên thì có cha mẹ, dưới thì có đàn con, không có gì đủ để nuôi dưỡng, thiếp xin chàng nhận làm anh thiếp để đem thiếp bán cho viên đồn trưởng. Người chồng bằng lòng, bán vợ được một trăm quan mà mang về, còn vợ thì tự thắt cổ ở trong phòng. Viên đồn trưởng kinh hãi hỏi người chồng, người chồng mới thật tình thưa, viên đồn trưởng bảo đi chôn cất và cho luôn số tiền ấy không đòi lại.

Lời phê bình – Năm đói kém đã khiến người ta đến thế ru ! Tuy nhiên, người vợ thà chịu cho thân mình chết chớ không nhẫn cho gia đình mình chết. Ôi! Cũng gọi là người vợ hiền vậy. Sánh với kẻ có trách nhiệm lo việc trường tồn của quốc gia thì khác xa nhau một trời một vực. Mùa hạ Ngô Thì Nhậm từ nhà Thanh bên Tàu trở về.

Huệ phát thẻ tín bài là theo kế sách của Ngô Thì Nhậm. Tín bài ấy làm bằng gỗ ngoài có viền bông hoa, trong biên tên họ của người dân lãnh thẻ cùng với tuổi và quê quán, có ký tên đóng dấu, khiến dân lãnh tín bài ấy ở quan nha. Những kẻ ra đi buôn bán phải đeo cái thẻ tín bài ấy ở dưới cổ làm bằng, nếu không có tín bài thì là bọn tà đảng không đặng thông thành. Việc thi hành phép ấy thật do Ngô Thì Nhậm.

Lúc ấy nhân dân sợ oai dữ của Huệ, cùng đưa nhau ra lãnh tín bài, số dân đinh có hư tăng để nhà nước khống ngự, nhưng ở Tả Thanh oai lại khiến dân càng khốn khổ.

Mùa thu, sứ nhà Thanh là bọn Vương Phủ Ðường sang sách phong cho Huệ làm An Nam quốc vương. Huệ sai bọn Phan Huy Ích đi tiếp sứ nhà Thanh, Nguyễn Nhạc người con lên nối ngôi, ấy là Tiểu triều.

Mùa đông, Huệ sai Ngô Vi Quý sung vào sứ bộ sang tạ ơn nhà Thanh. Năm Canh Tuất (Nguyễn Huệ niên hiệu Quang Trung thứ ba), mùa xuân Huệ thăng Ngô Thời Dụng làm Bộ binh Thượng thư với tước là Tinh phái hầu. Mùa hạ, Huệ sai Ðiện trung Thị Ngự sử Phan Huy Ích, công bộ đãi chiếu Thượng thư Vũ Duy Tấn (đỗ hương cống triều Lê, người ở Mộ Trạch) và Hàn lâm học sĩ Ðoàn Nguyễn Tuấn cùng với Ðô đốc Nguyễn Hữu Chẩn sang nhà Thanh, lúc ấy vua Càn Long đã 80 tuổi. Lúc trước vua nhà Thanh có bảo Huệ phải thân hành sang chúc phúc, Huệ cố từ. Bọn Phan Huy Ích tâu với Huệ xin quyền biến, Huệ mới giả mạo sai Chẩn đi thay cho mình, và khiến bọn Phan Huy Ích đi theo để yết kiến.

Huệ sai Ngô Thì Nhậm quản lãnh việc đi sứ, rồi lại gia thêm bực Dực vận công thần, chuyển sang làm Thị trung Ðại Học sĩ giám tư kinh đô Thăng Long.

Mùa hạ, Ngô Vi Quý từ Yên kinh trở về. Lúc ấy những tiến sĩ của nhà Lê cũ thường thường lấy văn học mà vang tiếng trong đời. Ngô Thì Nhậm muốn khiến các vị ấy đều ô nhục như hắn, mới thưa với Huệ nhử các vị ấy bằng quan tước, vị nào không đến thì đem binh mà bắt. Bùi Huy Bích ở Thịch Liệt thác bịnh mà từ khước, Ngô Thì Nhậm lại lấy thơ gọi Trần Danh Án ở Bảo Triện. Trần Danh Án thơ dùng tiếng chó heo mà từ khước với Nhậm. Nhậm thẹn không dám gửi thơ đến nữa.

Lê Huy Trâm ở Bối Khê (làm Cần chính Ðại học sĩ của quốc triều lãnh chức Ðốc học các vùng Bắc ninh, Cao bằng và Lạng sơn), Phạm Qúy Thích ở Hoa Ðường (làm Thị trung Ðại học sĩ của quốc triều), Nguyễn Ðường ở Trung Cần (làm Ðốc học Sơn tây), Ngô Viện ở La Khê, Nguyễn Du ở Văn Xá, Nguyễn Diên Dương ở Bảo từ (làm Hiệp trấn ở Hưng hóa của quốc triều), Trần Bá Lãm ở Vân Canh (làm Ðốc học Bắc thành), Nguyễn Gia Cát ở Xuân cầu (Cát về sau ứng nghĩa quân yết kiến đức Cao hoàng Gia Long ở Gia định, làm Lễ bộ Tả Tham tri, phụng sứ thăng chức Thượng thư, về sau có xảy ra việc mà phạm tội), Bùi Dương Lịch ở An Toàn (làm Ðốc học ở Nghệ an), Lê Trọng Dĩnh ở Ða Sĩ đều thấy trước mà trốn đi. Quý Thích phú thi có câu:

Tái thiên giao thê lệ
Tỵ địa các trầm phù
Nghĩa là:
” Ðầy trời đều nước mắt nước mũi giao hòa
Ở đất thì đều trốn tránh kẻ chìm người nổi “
Huy Trâm thường tự thề rằng: “Nếu không chết thì lẩn trốn trong núi rừng, quyết không chịu làm bầy tôi cho Tây Sơn”. Viện và Trọng Dĩnh về sau đều bị bắt. Viện phải đem con ra làm tin mới được thả. Còn Dĩnh thì bất đắc dĩ phải ra làm Ðốc học ở Vị Hoàng vài tháng rồi lại thác bịnh mà từ khước. Những người còn lại như Hoàng Bình Chính ở Thỏ Hoàng, Nguyễn Nha ở Hữu Thanh Oai, Nguyễn Quí Ban ở Nhơn mục, đều nhận mạng lịnh của Tây Sơn làm quan vinh hiển. Chỉ có Nguyễn Ðăng Sở ở Hương Triện thì xin làm tri huyện. Sở vốn khi trước có cưới một người thiếp của vua Lê, việc gì cũng do nàng ấy sai khiến. Một ngày nọ, vợ của Sở đi ra hỏi ông thầy tướng: “Như tôi phải phối với bậc quan nào?” Ông thầy tướng nói rằng: “Bà phải làm vợ của quan tri huyện, nếu không thế thì bà sẽ chết yểu”. Vợ của Sở về nói lại với Sở, cho nên Sở cố làm cho được chức tri huyện ấy.

Huệ từ Thăng Long trở về.

Huệ cho quan Ðại tư mã Ngô Văn Sở, quan Nội hầu Lân cùng với người con thứ là Thùy trấn giữ Thăng Long, cho Tuyên trấn giữ Thanh hóa, cho Ðặng Giản làm Ðại Ðô đốc, coi giữ Ðại thiên hùng binh, sai làm thuốc súng. Tháng 7, bọn Chẩn đến Yên kinh, lúc ấy vua nhà Thanh đi tuần phương Bắc để tránh nóng, cấp báo cho Chẩn và các quan theo hầu phải đến hành cung ở Nhiệt hà yết kiến. Vua nhà Thanh ban cho thơ có câu rằng:

Y cổ vị văn lai tượng khuyết
Thăng triều vãng sự bỉ kim nhân
Nghĩa là:
Từ xưa chưa nghe nói vua nuớc phương Nam đến cửa tượng khuyết lạy chầu. Ðối với việc đã qua của triều Minh đã mất thì đáng khinh việc đòi cống người bằng vàng.

Huy Ích có phụng họa, vua nhà Thanh có phê thơ cũng cho là ổn thỏa, có ban thưởng rất hậu, đến khi về Tây Uyển ở Yên kinh, thì được vào yết kiến luôn mấy mươi ngày, đến ngày trở về nước, thì vua Thanh có tuyên triệu Huy Ích và Duy Tấn vào Quang Minh Chính đại điện, khiến đứng ở một bên mà xem ở thềm ngọc, rồi rót rượu cho uống, tin rằng đó là sứ bộ vinh hạnh bực nhất (do ở bài Tinh sà Kỷ hành).

Tháng chạp, bọn Chẩn từ Yên kinh trở về, đến cầu doanh Huy Ích nhân té mà bị thương ở chân, bèn dâng biểu cho Huệ xin miễn triều yết, tạm ở lại để điều dưỡng.

Năm Tân Hợi (Nguyễn Huệ niên hiệu Quang Trung thứ 4), quan Nội hầu Lân bắt được Tụ là em của vua Lê ở Bảo Lạc, và giết luôn cả nhà Diễn quận công. Khi trước Tụ dựa vào Diễn châu để lo bề khôi phục. Có kẻ đi tố cáo với Tư mã Sở. Tư mã Sở khiến Nội hầu dạy Diễn quận công bắt Tu mà giết đi. Nội hầu Lân bèn thác việc mở tiệc rượu. Cha con Diễn quận công cả thảy năm người đều được ban cho áo cẩm hoa bào và khăn là lụa hồng, đều ngồi mà yến ẩm, khi rượu đã say, Nội hầu Lân làm rớt cái mâm đồng làm hiệu, quân Tây Sơn bèn bắt cha con Diễn quận công mà chém. Nhân thế mới đặt trấn Hà Dương ngay ở đất ấy, để Ðô đốc Viên với 500 binh sĩ trấn giữ rồi trở về.

Ðồn Hà Dương đều bị giết sạch vì Tề. Trước thời tai nạn của Diễn quận công xảy ra, em của Diễn quận công là Tề ở ngoài cho nên được thoát, đến lúc ấy Tề họp các binh lính địa phương vây chặt đồn của Tây Sơn bắt hết binh lính mà giết sạch, chỉ có Ðô đốc một mình được chạy về, đến khi quân Tây Sơn đến bắt Tề thì Tề đã chạy đi đâu không biết.

Huệ đặt quan bí thư, mỗi tháng 6 lần chầu để giảng giải kinh sử. Huệ không có học cho nên không biết thư sách. Một ngày nọ Huệ hỏi quan bí thư rằng: “Trong sách có chép quá nhiều việc thế?” Quan bí thư thưa rằng: “Sách sử chép sự tích thiện ác của đế vương và lý do hưng phế để đời sau biết mà soi xét răn dè.” Huệ nói rằng: “Như thế thì từ xưa có ai nói đánh Tàu không?” Thưa rằng: “Nước ta có Trần Hưng Ðạo đánh quân Tàu ở sông Bạch Ðằng, Lê Thái tổ đánh quân Tàu ở thành Ðông quan, nhưng mà đều là đánh chúng tiến sang, chớ chưa có tiến sang Tàu mà đánh chúng.” Huệ nói rằng: “Ta nay sẽ đánh Tàu để ngươi xem”, (quan bí thư là người ở Ngọc Ðông, tỉnh Thanh hóa, tên họ chưa khảo ra).

Huệ xuống sắc lệnh cho Công viện vá lại chiến y, rồi lại gửi cho gia thiếp của các đại thần cất giữ, hẹn đủ hai mươi vạn chiếc áo để ban cấp cho quân sĩ thì ngày ấy sẽ đánh Quảng Tây mà cướp phá. Lúc ấy Huệ vừa vào trong viện để xem xét, thì có người thiếp của Thái úy Ðiều, họ Hoàng, giả vờ không biết có Huệ ở đấy, nói với đồng bọn rằng : “Nay quen thắng mà đánh Tàu, nhưng Tàu thì to mà ta thì bé, nếu rủi không thắng thì mới làm sao? Chẳng bằng cứ trị dân mà hưởng nước, việc gì phải đi tìm ở xa.” Huệ nghe được hét lên nói rằng: “Người kia là ai mà dám cản trở việc quân của ta ?” Liền sai đem người thiếp họ Hoàng ấy ném xuống biển. Thế rồi ngài lại hối hận mà nói rằng : “Người kia nói cũng hợp lý.” Huệ liền ra lịnh tha cho. Việc cướp phá nước Tàu bèn dừng lại. ( Người thiếp họ Hoàng là dòng dõi của viên đại tướng nhà Lê, Hoàng Nghĩa Giao ).

Lời phê bình – Nói một lời mà bãi được việc binh, cũng là người nhơn đức thay!

Năm Nhâm Tý (Nguyễn Huệ niên hiệu Quang Trung thứ 5) lúc ấy vợ chính của Nguyễn Huệ đã chết. Huệ sai Ngô Thì Nhậm đưa thơ sang Tổng đốc Quảng Tây để khiến cầu hôn với vua nhà Thanh.

Năm ấy Nguyễn Huệ mất. Tóc của Huệ thì quăn, mặt thì đầy nụt, có một con mắt nhỏ, nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, thì ánh sáng từ con mắt soi sáng cả chiếu, lúc lâm trận thì chế thắng, uy anh hùng lẫm liệt, cho nên mới bình định phương Bắc và dẹp yên phương Nam, hướng tới đâu thì không ai hơn được, tiếm vị làm vua được 5 năm, không lập pháp lịnh điều ước, việc thưa kiện đều do miệng ngài phân xử, tội tù thì phần nhiều dùng đòn mà đánh để trừng trị (đòn tục gọi là đùi).

Bầy tôi ở trong hay ở ngoài đều sợ oai của ngài, không dám can tội hối lộ. Thường ngày Huệ hay sợ đức Cao hoàng Gia Long ta, lúc đau nguy cấp, Huệ nói với kẻ bầy tôi rằng: ” Hắn sẽ phục quốc được “. Hoặc có kẻ thưa rằng: “Nếu hắn ra thì bọn hạ thần xin đánh”. Huệ nói rằng: “Ngươi chớ cho lời ta là nói láo, nếu hôm nay ta chết, thì ngày mai hắn ắt ra, nếu mai ta chết thì ngày sau hắn ắt ra. Ngươi còn sống, ngươi xem”. Nói thế Huệ liền mất. Con là Trát nối ngôi, đại xá tội phạm và cải nguyên (Trát môi trớt, răng to).

Luận rằng: Với tư chất nhỏ bé yếu đuối và đương tình thế nguy hại ấy, trong thì có Khang công và Tuyên công, nhu nhược một hai người lẻ loi non nớt, ngoài thì có Tư đồ (tên Dũng) và Thiếu phó (tên Diệu) dũng mãnh năm sáu vị vũ phu, Trát lại tranh thắng với Cao hoàng Gia Long ta, thì chắc hắn sẽ bị trói ngay trước mặt mà làm tù thì đáng lắm.

Năm Quý Sửu (Trát, niên hiệu Cảnh Thịnh năm đầu). Trát đến Thăng Long để nhận cho nhà Thanh sách phong, lúc ấy sứ giả nhà Thanh xin đến Phú xuân, Trát giả mạo xây cung mộ ở xã Hạ Hồi rồi nói dối là đường đi từ sơn Tây mà đi thì phải một tháng. Ði được nửa đường, sứ nhà Thanh nói rằng: “Ðây là đi về phía Tây, sao lại dối ta”. Bèn trở về Thăng Long làm lễ phong điếu.

Trát trở về Nam, tấn công thành Quy Nhơn bắt Tiểu triều và giết ngay trong ngày hôm ấy.

Năm Giáp Dần (Trát niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 2), Cao hoàng Gia Long đem quân Hà Lang trở về đánh phủ Diên khánh và thắng được. Tướng giữ thành của Trát là Quyền quận công đem đội thủy quân đầu bên ta, rồi phóng lửa đốt thủy đồn Tây Sơn. Cao hoàng thừa thắng lấy thành Quy Nhơn và thành Hoàng đế.

Có kẻ hỏi rằng: Vua Lê dùng quân nhà Thanh, còn Cao Hoàng đế ta thì dùng quân người Âu, đều là dựa vào sự giúp đỡ của nước ngoài, mà Lê thì mất mà ta thì hưng, thì chẳng phải là lời sấm rằng: Tiên đồng đã trở về Bắc, đất nghiệm đã an bài, bảy đời thì trở về kinh đô, sách trời đã định trước, mạng trời đã khiến như thế hay sao? Rằng phế hay hưng vốn ở Trời, nhưng hơn hết là ở người. Vua Lê kia khen theo và hỏi nồi, thì chẳng phải là khí tượng đế vương thì làm sao mà đem so sánh với Cao hoàng Gia Long ta được thay! Thế là lý do thành bại của hai bên khác nhau vậy.

Quân doanh của Tôn Sĩ Nghị, tướng nhà Thanh, ở Bồ Ðề, vua Chiêu Thống đến đấy yết kiến Tôn Sĩ Nghị. Tôn Sĩ Nghị sai người đưa vua về cung, vua đi ngay qua chợ thấy một con heo to và một cái nồi đồng lớn, mới hỏi rồi đi. Khi người được sai đi đưa trở về thì Nghị hỏi rằng: “Ngươi thấy quốc vương cử động ra sao?” Người ấy kể lại đủ mọi việc đã thấy như thế. Tôn Sĩ Nghị mới than rằng: “Khen heo, hỏi nồi, chẳng phải là khí tượng của đế vương, thì bọn ta sẽ nguy mất.”

Tây Sơn từ năm Canh Tuất trở lại, thì mùa lúa so sánh có trúng hơn, trong nước bình yên (thóc một quan tiền được 100 đấu, dân chúng đều có chứa trữ, tiếng sáo lời ca có được nghe đó đây). Nhưng ở Bắc kỳ thì dân trí thức đều chán ghét triều Tây Sơn, mong được vì chân chúa. Từ sau khi Gia định đã dẹp yên rồi, mỗi lần gió nồm thổi, thì người ngoài đều nói rằng đó là gió của ông Chủng (Gia Long) vậy.

Lời bình luận: Lòng người quay về ai thì mạng trời ở đấy. Xem lòng người như thế thì Tây Sơn muốn không mất đi, và ta muốn không hưng lên thì có được chăng?

Trát đặt ở các xã huấn khoa để giữ việc thưa kiện trong xã.

Trát giết Lê Thái sư. Con của Lê Thái sư là Ðô đốc Lê Tôn Chất làm phản và đầu hàng bên ta.

Trát sai người đem mật chiếu đến Thăng long để giết quan Ðại đổng lý. Năm Kỷ Tỵ (Trát niên hiệu Cảnh Hưng thứ 7), vua Càn Long nhà Thanh băng, Trát sai người sang lễ hương, tờ biểu có viết rằng :

“Viên Tản sơn thanh Lô thủy bích, vọng cùng thần quốc chi yên lam, đẩu xu tinh chuyển Nữ tu hàn, cảm động thiên gia chi vân vật (Ngô Thì Nhậm chi từ dã)”.
Nghĩa là :

“Núi Tản viên xanh, sông Lô biếc, trông ra xa cùng khỏi màn sương khói của nưoớc chúng tôi, thì thấy sao Bắc đẩu đã dời, sao Nữ đã mờ lạnh, mà cảm động cho cảnh vật của nước thiên triều phải ảm đạm vì có quốc tang (lời của Ngô Thì Nhậm)”.

Ðài Chân Vũ ở Thăng long có cây dung ngã chết mà lộc dựng lên, lúc ấy nuớc Ðại Man có sai sứ đến xem có nói rằng: “Thứ này nước phương Tây chúng tôi không có”.Lời bình luận: Cây dung là vật nhỏ nhen, thì làm sao ghi được một việc gì. Quốc gia sắp hưng thịnh thì ắt có điềm lành báo trước.

Khi vua Hiếu Tuyên trung hưng, thì có cây liễu đã chết ở Thượng lâm bỗng mọc đứng lên mà sống. Thế thì cây dung ấy mọc đứng lên mà sống là điềm lành ứng vào quốc triều hưng thịnh lại chăng, cho nên kính cẩn ghi chép. Năm Canh Thân (Trát niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 8) mùa xuân, Phan Huy Ích vào yết kiến Trát, được Trát cho làm Lễ bộ Thượng thư, tước là Ðoan nham hầu.

Kho thuốc súng của Trát ở Thăng Long cháy.

Trát sai tướng Tư đồ và Thiếu phó đến vây thành Hoàng đế.

Năm Tân Dậu (Trát niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 9) tháng 5, đại quân của ta lấy lại Phú xuân. Trát chạy ra ở Thăng long. Lúc ấy Trát đã mất sào huyệt, nhưng vẫn hay khoe khoang để trấn áp lòng người.

Tháng 6, Trát tế ở đàn Tây hồ, lại cải niên hiệu là Bảo Hưng nguyên niên.

Quan Hộ bộ Tả thị lang Nguyễn Lượng có dâng lên bài Tây Hồ cảnh tụng, dùng quốc âm, lời rất thanh nhã, Trát mừng vui lắm (Lượng là người ở Phú thị, đỗ Hương cống triều Lê xưa).

Mùa đông Trát thi khóa sinh.

Tháng 11, Trát tế ở đàn Xạ đôi phố.

Năm Nhâm Tuất (Trát, Bảo Hưng năm thứ 2) tháng giêng, Trát dẫn Tuyên công, Khang công và các tướng đánh Hoàng sơn quan. Trát để Tư mã Ngoại và Ðại đô đốc Phong giữ Thăng long. Ngày mùng năm tháng hai, Tùng Lĩnh tướng quân là Nguyễn Chí (người ở Tây Ðảm) và Mai lĩnh hầu (người ở …tú, không rõ tên) cùng đánh Thăng long, mà không thắng. Tùng lĩnh tướng quân chết. Lúc trước hai ông là bầy tôi của nhà Lê. Nhà Lê mất, thầm có chí phục thù, Tùng lĩnh có tài hơn người, nhà giàu có, thường bị người ta khống chế, bị giam một năm ở quan Tư mã của Tây Sơn mới được thả ra.

Mai lĩnh hầu thông hiểu tinh tường toán số và binh lược, việc thường biết trước, được người ta gọi là tiểu Khổng Minh, mở quán ở Thanh Oai, cùng qua lại với Tùng lĩnh tướng quân, âm thầm kết giao với khách hào kiệt được 10 năm. Mai lĩnh hầu thường dùng cỏ thi mà bói để biết Tây Sơn hưng hay vong. Ðến khi quốc triều ra mật dụ cho các hào kiệt ở Bắc kỳ phải khởi nghĩa để tiêu diệt Tây Sơn, thì Tùng lĩnh tướng quân nói với Mai lĩnh hầu rằng phải khởi sự.

Mai lĩnh hầu nói rằng: “Tây Sơn sẽ mất vào năm Nhâm Tuất, trong khoảng mùa hạ mùa thu, khi phương Nam khí vượng lên thì tôi sẽ đánh lấy trước rồi sẽ quay về chầu Cao hoàng Gia Long cũng chẳng muộn. Nếu chẳng như thế thì quân đội phương Nam ra đoạt đầu công của ta”. Lúc ấy nhân Trát đi về Nam, bèn sang mật kế với Ðô đốc Tú để làm nội ứng, viết thơ hiệu triệu các hào kiệt trong bốn phương, hẹm đêm mồng 2 tháng hai giờ Tý đều dẫn binh đánh giết vào thành Thăng long.

Lúc ấy các đạo đã đến trước nhưng không thấy phát hiệu, đều tản ra đi mất, thì quân ở Tây Ðảm mới đến, Ðô đốc Tú nghe hiệu binh, bèn mở cửa thành ngoài. Tú cưỡi ngựa đi trước hai vị Tùng lĩnh, Mai lĩnh theo sau. Tú hô gấp lên rằng: “Giặc đến dưới thành, xin mở cửa ra đánh”. Tướng giữ thành đáp rằng: “Giặc đến thì chém đầu ngươi, cửa thành ban đêm không được mở”. Tùng lĩnh không thể làm sao được nữa, bèn đem lửa đốt phố xá trong thành rối loạn.

Tướng Tây Sơn muốn bỏ thành mà chạy, lúc ấy sắc trời đã sáng. Trên thành trông xuống chỉ thấy mươi người đi theo Tùng lĩnh, bèn phát binh ra đánh. Tùng công đã thoát thân đi trong đường phố. Có một viên giữ ngục nhận biết, cho nên Tùng lĩnh bị hại. Còn Mai lĩnh thì từ đấy ẩn dật dấu tông tích ở chốn chòi tranh, quên chí hồ thỉ tang bồng. Trong niên hiệu Gia Long, Mai lĩnh chết ở gia đình. Còn Tùng lĩnh về sau được quốc triều khen tặng. Có thơ khen rằng:

Âm :
Tối ái Mai Tùng
Lẫm liệt hàn đông
Nhất thời cộng sự
Thiên cổ văn phong
Công nan bất tựu
Nhân xưng kỳ trung
Mạc tương thành bại
Lệ luận anh hùng

Dịch:
Thương cây mai cây tùng
Chịu đựng mùa đông lạnh
Chỉ cộng sự một lần
Ngàn xưa lưu danh tánh
Tuy công khó chưa xong
Người người khen trung tín
Chớ thành bại xét công
Ðem anh hùng luận sách.

Tháng tư năm ấy, quân của Trát lén vào đồn Ðộng hải mà không thắng trận, thua to chạy trốn, quân ta thừa thắng đuổi dài. Quan Tư mã và quan Thiếu phó từ đường Quy nhơn chạy về đến Nghệ an đều bị bắt.

Tháng 6, xa giá của Cao hoàng Gia Long đến Thăng long. Khang công tự treo cổ, Trát và Tuyên công chạy về phương Bắc đến sông Xương giang đều bị quân ta bắt được (tháng ấy sương bay đầy trời), nhà Tây Sơn mất.

PHỤ CHÚ:

(1) Ðiểm này sai. Kinh đô Phú xuân đã bị Hoàng Ngũ Phúc chiếm từ năm Giáp Ngọ, Lê Cảnh Hưng thứ 35 (1774). Năm Ðinh Dậu, Cảnh Hưng thứ 38 (1777), Nguyễn Văn Nhạc xin Hoàng Ngũ Phúc được trấn Quảng nam, Nguyễn Văn Huệ đánh Gia định, giết Tân Chính vương và chúa Duệ Tông, chớ Tây Sơn chưa đánh kinh đô Phú xuân.

(2) Ðiểm này sai. Vua Hiếu Ðịnh, tức Duệ Tông đi đường biển vào Gia định năm Ất Vị (1775) chứ không phải năm Ðinh Dậu.

(3) Ðiểm này sai. Hoàng đế triều Nguyễn không có lần nào ở chung với Nhạc, và không có lần nào bị Nhạc xúc phạm.

(4) Ðiểm này sai. Mãi đến năm Giáp Thìn (1784) Nguyễn vương Ánh mới đi Xiêm, chứ không phải đi năm Ðinh Dậu (1777).

(5) Nói là Huệ có chí thôn tính Thuận hóa thì đúng hơn, chứ Nhạc không dám đánh Thuận hóa.
Trịnh Khải chứ không phải Trịnh Tùng, Tùng đã chết năm Quí Hợi (1623).

(6) Phái bộ Trần Công Xán, do Nguyễn Hữu Chỉnh đề nghị phái vào Phú xuân để xin Nguyễn Huệ trả lại đất Nghệ an cho nhà Lê, vì thế Nguyễn Huệ mới giận.

(7) Theo sử liệu hiện có, chúng ta chỉ biết “Ở mỗi huyện, vua Quang Trung đặt một Văn phân trị, một Võ phân suất, một Tả quản lý, một Hữu quản lý. Công việc của quan văn là trưng đốc binh lương, xét xử từ tụng; công việc của quan võ là cai quản và thao diễn quân lính”, còn Tả, Hữu quản lý thì ta không biết làm việc gì. Nếu đoạn này đúng với sự thật “Dùng người giàu có và thế lực ở địa phương làm huyện trưởng, khiến đốc suất lương thực cho quân đội…, cơ binh trong hạt được đóng đồn trong hạt…, mỗi tổng có sai một vệ binh đi tuần thám ban đêm”, thì ấy cũng là sáng kiến hay của vua Quang Trung để trị an trong thời loạn lạc.

Ðặc san TÂY SƠN – Xuân Bính Tý 1996

Còn ai quan tâm đến vụ Giàn khoan… ???

Thế là cuối cùng cũng đã xong World Cup. 1 tháng trời ăn ngủ ko theo quỹ đạo, ngày ngủ đêm thức, đầu óc đã mụ mị nay càng trì độn, cân nặng vốn đã khiêm tốn nay đã đủ trình xếp vào diện suy dinh dưỡng theo chuẩn BMI, nhan sắc vốn đã chẳng có bao nhiêu, nay càng tàn tạ… Ấy nhưng mà, tưởng rằng sở thích xem bóng đã tàn phai sau bao năm, hóa ra nó vẫn luôn tiềm ẩn trong con người ta. Thế mới biết, mặc dù bản tính cả thèm chóng chán, nhưng hình như ta cũng có khả năng duy trì dc 1 số niềm yêu thích bền vững, vẫn có những thói quen khó bỏ… mặc dù trạng thái thì on off thất thường 😀 (hì hì nghĩa là sự hời hợt của mình cũng có mức độ thôi? Nếu dc vậy thì relieved quá)

Lan man dài dòng, đại khái là sáng nay, à nhầm, chiều nay dậy muộn, đau đầu nhưng vẫn tinh thần phấn khích vs trận đấu hôm qua, ta lên mạng xem các bạn bình loạn thế nào (thể nào cũng có war giữa fans và antifans)… Xem chán trên fb thì vào thử voz forum xem các bạn chửi nhau vui không… (Ngoài lề thì voz vốn là 1 trang về các vấn đề máy tính, phần mềm phần cứng này nọ, các loại thiết bị điện tử, công nghệ linh tinh… nhưng nó có 1 chỗ để cho các thanh niên và trẻ trâu vào xả stress, nói chung khá là bựa… chửi nhau như nghóe, nói tục chửi thề như điên, nhưng cũng có nhiều topic buồn cười, như đọc truyện hài, và các threads truyện ma thì nói chung khá hay – ta chủ yếu vào đây hóng mấy topic biến thái kiểu như thế). Đáng tiếc là cái thread về World Cup hình như do chửi nhau ác chiến quá, đã bị khóa, tìm ko có thấy 😥

Rỗi việc ko có j làm, ngó mấy thread bên canh, thấy cái này (Hỏi thật lòng) – Còn ai quan tâm vụ giàn khoan HD-981 không?

Tò mò chết con mèo con, click vào xem… Kết quả là hầu như các bạn đều trả lời là chán rồi, ko thèm quan tâm nữa… Cũng ko có j mới mẻ, thông tin đi đi lại lại, có nhiều vấn đề khác cần quan tâm hơn (cơm áo gạo tiền, giá xăng, liên minh, gái gú blha blah, và nhất là worldcup – ta đang tự hỏi liệu có phải TQ cố ý chọn năm có WC để ra tay??? vì thực tình thì bản thân ta cũng bị cái WC này nó distract), có bạn thậm chí hễ gặp kênh nào có biển đảo là chuyển kênh 😦

Dĩ nhiên, cái survey trên voz nó ko thể nào minh họa cho cả 1 cộng đồng 90tr được, và vẫn sẽ luôn tồn tại 1 nhóm người nào đó luôn quan tâm và trăn trở về tình cảnh quốc gia, nỗi niềm đất nước. Nhưng mà voz có thể cho thấy 1 cái nhìn kha khá về quần chúng, vì trang này tập hợp nhiều thanh niên trai (thực tình thì mặc dù khá là gender-biased, nhưng mà cũng phải thừa nhận là ở vn thì đa phần các chị em cũng chưa quan tâm các vấn đề kiểu thời sự như này cho lắm. Chả đi đâu xa, khi ta than ế lăn ế lóc và thỉnh giáo kinh nghiệm thoát ế, ta nhận dc kha khá lời góp ý – đàn bà con gái mà cứ suốt ngày chính chị chính em như thế, ế là phãi!!!). Các thanh niên voz có nhiều access đến các phương tiện thông tin hơn, so với mặt bằng dân cư (laptop, tablet, smartphone mỗi bạn sở hữu chắc vài ba chiếc), lại đang ở cái tuổi “trẻ trâu” muốn chứng tỏ bản thân, việc ko biết, ko quan tâm tới 1 vấn đề hot như BĐ là hơi ko-thể-chấp-nhận-dc, ít ra thì đi tán gái, lâu lâu chém gió vài câu về BĐ cũng có khả năng ghi thêm vài điểm, vd, yêu nước này, có kiến thức xh  này, có tinh thần hảo hán nam nhi này (lại bất bình đẳng giới :P)… Các thanh niên này thời gian và thông tin dư dả mà còn ko care nữa, nói gì đến các bác nông dân, các anh xe ôm, các chị nội trợ quần quật lao động ko ngẩng đầu lên được. Có lẽ có 2 tầng lớp chăm theo dõi các thể loại tin tức thời sự nhất, đó là thanh niên và hưu trí…

Hôm trước đọc ở đâu trên mạng, thấy có 1 bài, đại khái viết về sự bão hòa thông tin về vụ GK, hình như đưa tin nhiều, tràn lan, trùng lặp quá nên người đọc cũng chán, không muốn đọc, hoặc ko quan tâm nữa. Thực ra mà nói thì ta nghĩ căn nguyên là ở chỗ: nx bài viết, nx thông tin trên truyền thông đã tạo cho quần chúng 1 niềm tin mãnh liệt rằng thì là dân ta “có 1 lòng nồng nàn yêu nước” đoàn kết 1 lòng để đấu tranh, chúng ta là bên chính nghĩa, và chúng ta được cả thế giới ủng hộ => vs nx thứ đó chúng ta sẽ gây sức ép dc lên TQ…

Nhưng thực tế thì quá phũ, chúng ta biểu tình, đốt xác, tự thiêu (thiêu mình và thiêu cả nhà máy công ty luôn), các cháu sinh viên ra biển mặc áo đỏ in cờ chụp ảnh cho đẹp, các trường học bắt các cháu xếp hình chữ S chụp ảnh cho đẹp, các ca sĩ, nghệ sĩ và các tầng lớp dân chúng cùng nhau hát bài hát về biển đảo, quay phim cho đẹp, các họa sĩ nhiếp ảnh gia thì làm triển lãm về biển đảo cho đẹp… rộ lên các phong trào cho đẹp… cuối cùng thì GK vẫn ở đó. Quốc tế cũng vậy, họ phản đối xong, ý kiến xong thì để đó. Không có hành động gì thiết thực gì cả… Gk vẫn ở đó. Nói 1 cách phũ phàng thì, chó cứ sủa và đoàn người cứ đi (Ờ, cũng ko có ý gì với cái câu này, nếu bạn nào cảm thấy từ “chó” nó sỉ nhục quá thì mình đổi câu này thành, người cứ chửi mắng và chó cứ cắn nhé. Đại khái là 1 bên cứ phản đối và bên kia thì bình chân như vại)

Tình cảnh này làm ta nhớ lại series bài viết về “thói xấu của người Việt” dc tiền bối Vương sưu tập (và nhiều phen đã bị dân tình ném đá tan tác)

Cái sự up down on off của tinh thần yêu nước này có phải là vì:
Thói hư tật xấu của người Việt: Dân khí bạc nhược, ra vẻ ái quốc, …

Lúc mới xảy ra chuyện, toàn dân cứ gọi là sôi sùng sục, kêu gọi nhau như toàn quốc kháng chiến đến nơi, nhiều khi rất manh động, tự phát, “bột phát hồn nhiên”
Vương Trí Nhàn: ‘Dân tộc Việt là khối tự phát khổng lồ’ (nhờ bài này mà bác Vương bị ném đá te tua :P)

Đến khi chan chán, hoặc là do có thú vui mới, niềm quan tâm mới, hay là nản nản vì chưa thấy kết quả rõ ràng, thì bỏ luôn, ko thèm care nữa. Ăn xổi ở thì, cả thèm chóng chán, suy nghĩ nông nổi, tính khí thất thường.

Thực tình thì truyền thông khiến người dân tin tưởng và lạc quan về niềm tin chiến thắng, làm ai cũng hừng hực gào lên “đi kiện!”, “bắt tay vs Mỹ đi”, “đoàn kết vs Asean đi”… làm như nx việc này rất dễ dàng. Đến lúc đó, truyền thông lại phải cuống quýt với các thể loại, tại sao khó kiện dc TQ, sự mất đoàn kết giữa asean, Mỹ đang đương đầu vs khó khăn j blah blah. Thế là mất hứng, chán.

Sau một hồi quẩy tung lên, thì cuối cùng người ta rút ra được 1 bài học khôn ngoan: thôi, đại sự cứ để Đảng và Nhà nước lo. Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình.

Thế là đâu lại vào đấy. Đi xem WC với đánh game đã…

Các cụ ngày xưa nhận xét thế mà chuẫn: Đào kia chưa thắm đã phai, thoang thoảng hoa nhài mà lại thơm lâu. Tình cảm cứ cuồng nhiệt hừng hực thì lại càng nhanh tan biến 😀

(Ngoài lề, bài này cứ như để PR loạt bài của bác Nhàn ý nhỉ, haizzz :P)

Mỗi ngày một kiến thức: về vua Tự Đức (1829-1883)

Thôi xong, trước hết là phải than một câu thôi xong đã.

Tự nhiên hôm nay, mở máy tính ra, trò chơi điện tử thì không muốn chơi, bật lên rồi lại tắt đi. Tin lá cải và tin nhảm nhỉ cũng không buồn đọc, mở mấy mục giải trí, văn hóa, tình yêu giới tính tâm sự này nọ ra, rồi cũng lại tắt (tuy nhiên đã kịp lướt qua mấy cái tiêu đề vô cùng bắt mắt đại loại như khổ sở vì ngực to, hay vì chồng phản bội mà tôi thành người sát trai vân vân và vân vân).

Đến điện tử cũng không muốn chơi, tin lá cải cũng không buồn đọc, là sắp đến lúc tự kỷ nặng lắm rồi đấy.

Phản ứng đầu tiên là, vào wordpress than thở một câu cho hả… ấy nhưng mà, xét cái blog này gần đây đầy rẫy các loại tâm sự chán đời, nghiện ngập, nếu lại than nữa (mặc dù đang… hehe) thì thật là không có lợi cho không khí thi đua cách mạng nói chung, cho nên chép lại một đoạn thú vị sau về vua Tự Đức làm quà vậy.

Đoạn này nằm trong quyển Lịch sử Tư tưởng Việt Nam của tác giả Lê Sỹ Thắng, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1997, trang 38-39:

‘Trong lịch sử nước ta trước triều Nguyễn, có Lê Thánh Tông tổ chức ra “Tao đàn nhị thập bát tú” để vua tôi xướng họa thơ và biện luận với nhau. Trước và sau ông không có hiện tượng như vậy. Đến triều Nguyễn thì có Tự Đức thường vời các văn thần vào cung, ra những đầu đề luận văn có tính chất học thuật hoặc có liên hệ đến tư tưởng chỉ đạo các chính sách cần phải thi hành trước đòi hòi của thực tiễn. Bản thân nhà vua cũng viết hoặc phát biểu ý kiến của mình. Vua tôi thảo luận với nhau. Những bài luận văn được tập hợp trong “Văn tập ngự chế” của Tự Đức cho chúng ta một ý niệm về những đầu đề đã được nêu và thảo luận: “Đạo biện”, “Nhân luận”, “Trung, thứ, nhân luận”, “Lập chính lâm dân luận”, “Thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhân hòa hấp hệ luận”, v v… Trong di sản sáng tác của một số văn thần đã tham gia các cuộc thảo luận trên, cũng còn giữ lại được một số bài viết về một số trong các chủ đề kể trên […]. Như vậy, Tự Đức xứng đáng được coi là người đầu tiên trong lịch sử nước ta sáng tạo ra hình thức mà ngày nay chúng ta gọi là “sinh hoạt học thuật” ở nước ta. Các cuộc sinh hoạt học thuật dưới thời Tự Đức, ngoài các ý nghĩa khác, đã thể hiện khuynh hướng và khả năng tư duy Việt Nam đương thời trong việc xác định dấu ấn của mình khi nghiên cứu kinh điển Nho giáo và thực tiễn đất nước.’ (in nghiêng trong nguyên văn).

Lời bàn: như thế này thì, các viện nghiên cứu ở Việt Nam hiện giờ có lẽ nên lập bàn thờ vua Tự Đức. Với tư cách là những người làm nghề nghiên cứu, chúng ta cũng nên kính cẩn nghiêng mình chứ hả? 🙂

Lời than: bao giờ lịch sử chính quy và phổ thông mới ghi nhận cho đúng về một số danh nhân lịch sử, trong đó bao gồm các vua nhà Nguyễn đây…

Hoa Sinh

Lại bàn về bài Cáo tật thị chúng của Mãn Giác thiền sư

Hồi trước từng có một cuộc nói chuyện rôm rả với con Chim về bài Cáo tật thị chúng, nhưng quá lười để viết lại, nay nhân dịp bài này được xới lên, ngứa miệng lại tán vài câu vậy (người nhà này, cái gì cũng nửa vời, ngay cả tu tâm dưỡng tính cũng nửa vời, khi nào im miệng đi còn đỡ, đã “ngứa miệng lên” là lại chém gió ra đủ vấn đề không giống ai, khiến cho khối người, có tình cờ đi ngang qua và đọc, phải “khi tựa gối, khi cúi đầu, khi vò chín khúc khi chau đôi mày” :-P).

Bình luận thì không dám bình luận, vì ta đây tự cho là không đủ trình để bình văn/thơ/từ/kệ vân vân và vân vân. Cắt nghĩa Phật pháp này nọ thì cũng không dám, vì ta đây cũng không phải cao tăng đắc đạo hay có kiến thức thâm uyên về Phật giáo gì cả. Ta đây chỉ dám đưa ra một vài nhận xét mang tính vô cùng chủ quan thôi.

CÁO TẬT THỊ CHÚNG

Xuân khứ bách hoa lạc,

Xuân đáo bách hoa khai.

Sự trục nhãn tiền quá,

Lão tùng đầu thượng lai.

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tân,

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

(Mãn Giác Thiền Sư)

Dịch:

CÓ BỆNH BẢO MỌI NGƯỜI

Xuân đi trăm hoa rụng,

Xuân đến trăm hoa cười.

Trước mắt việc đi mãi,

Trên đầu già đến rồi.

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,

Đêm qua sân trước một cành mai.

Bài này được coi là kinh điển của dòng thơ Thiền/ Phật thời Lý- Trần ở Việt Nam. Bởi vì tác giả là một cao tăng đặc biệt có tiếng, nên quy ra là bài thơ mang ý tứ Thiền/ Phật cao xa là điều xem chừng rất hiển nhiên.

Nếu đã dùng đến thân thế và sự nghiệp của tác giả để minh chứng cho ý nghĩa của bài thơ, thì phải chú thích thêm là trước khi trở thành nhà sư, tác giả “thông cả Nho- Thích” (theo như bài trên wiki, và vì quá lười mà ta đây bỏ qua công đoạn tìm nguồn uy tín cao hơn để trích dẫn), và sống vào thời mà Nho- Đạo- Phật đã hòa trộn vào nhau lắm rồi, đến mức đôi khi khó phân biệt đâu là Nho, đâu là Đạo, đâu là Phật (mặc dù ở Việt Nam, theo như nghiên cứu của các nhà lịch sử/ văn hóa, ảnh hưởng của Phật giáo đậm nét hơn).

Tất nhiên là với cái sự nửa vời của ta đây, Phật đã không thông, mà Nho – Đạo cũng láng máng, nên không thể đưa ra phát hiện tôn giáo/ triết học mới nào so với những phân tích, cảm nghĩ rất xuất sắc, sáng tạo cũng như uyên thâm của mọi người. Ta chỉ thấy là, Mãn Giác thiền sư, để diễn tả những ý vạn vật tuần hoàn, thời gian trôi đi này nọ như mọi người phân tích, cũng dùng những hình ảnh ước lệ “xuân đến xuân đi”, “hoa nở hoa tàn”, “tuổi già tóc bạc” mà không hiếm thấy trong thơ từ cổ [Trung Quốc], do những thi nhân thường được gọi là “nhà Nho” làm  (mặc dù nhiều trong số họ cũng có xu hướng Phật/ Đạo). Ví dụ chứng minh chắc phải hỏi con Chim, có khi đưa ra được cả rổ. Tự hỏi, không hiểu mấy bài thơ từ cổ do các nhà Nho làm, mà cũng nhắc đến xuân đi hoa tàn, tuổi già tóc bạc này nọ, đã có ai phân tích dưới góc độ Phật giáo và coi đó là tổng kết uyên thâm về triết lý đạo Phật chưa? Và tự hỏi, những ý đại loại như vật đổi sao dời, thương hải tang điền, thời gian trôi đi mãi, hoa nở hoa tàn kiểu như trên, là đặc sản của Phật giáo, hay là sản phẩm chung của tôn giáo/ triết học/triết lý/ văn hóa phương Đông, mà hòa quyện cả Nho- Đạo-Phật?

Đặc biệt hai câu cuối, ta từng thắc mắc, tại sao lại là “nhất chi mai”??? có thể lý giải như sau: (i) mai là hoa đặc trưng của mùa đông, mùa xuân gì đó, đang nói về mùa xuân thì đương nhiên phải là hoa mai, chẳng nhẽ lại là “nhất chi liên”- một nhành sen :-P; (ii) về mặt thi vận, ngoài “mai” ra không còn hoa nào khác, vì chỉ có “mai” mới vần với mấy chữ “khai”, “lai” ở trên; (iii) hoa gì không quan trọng, có thể là mai, có thể là hoa khác, quan trọng là ý tứ của câu thơ/kệ muốn chuyển tải.

Tuy nhiên thì: (i) Việt Nam vào thời Lý chỉ bao gồm miền Bắc Việt Nam, mà ở miền Bắc hình như không có hoa mai, chỉ có hoa đào. Tất nhiên không loại trừ khả năng vào thời đó hoa đào được gọi là hoa mai (điều này ta chưa nghiên cứu). Tuy nhiên, khả năng cao hơn là hình ảnh hoa mai cũng được lấy từ hệ thống ước lệ trong thơ từ cổ [Trung Quốc]; (ii) với kiến thức hạn hẹp của ta, chưa đọc được ở đâu hoa mai có ý nghĩa Phật giáo gì, nhưng trong hệ thống ước lệ thơ từ cổ, ta biết là hoa mai có ý nghĩa lớn đấy (tham khảo thêm ở đây).

Hiển nhiên, việc sử dụng hệ thống ước lệ thơ văn đang thống trị trong xã hội lúc bấy giờ là điều không tránh khỏi. Bản thân Phật giáo nói chung, khi du nhập vào Đông Á, là khi hệ thống diễn ngôn (ngôn ngữ/ tư tưởng) đậm nét “Nho giáo” đã thiết lập vị trí độc tôn, cũng đã phải mượn rất nhiều ngôn từ, ý tứ đã có sẵn trong xã hội để chuyển tải tư tưởng của mình (Gọi là hệ thống diễn ngôn “đậm nét Nho giáo”, bởi vì những người kiến tạo nên hệ thống diễn ngôn đó được xã hội gắn mác nhà Nho hơn là nhà sư hay đạo sỹ).

Chỉ ra những thứ như ở trên không nhằm chứng minh là bài thơ/ kệ mang ý nghĩa tư tưởng Nho giáo, hay phản bác những phân tích đáng quý cho rằng bài này mang triết lý Thiền sâu xa. Ta chỉ đơn giản cho rằng, như đã từng nói đùa với con Chim, nếu đặt giả thiết, tác giả của bài thơ/kệ không phải là Mãn Giác thiền sư, mà là một ai đó khác, thì thế hệ hậu bối chúng ta sau này, hoàn toàn có thể diễn giải bài thơ theo một cách khác.

Ví dụ như, nếu tác giả là Nguyễn Trãi, có thể phân tích rằng, thời gian vô tình trôi, hoặc là thiên nhiên cứ tuần hoàn vô tình, trước mắt bao việc trôi qua, nhưng chưa cứu được nước, chưa thực hiện được bao ý định dang dở, mà tuổi già đã đến rồi. Tuy nhiên không vì thế mà mất hy vọng, dù là xuân tàn hoa rơi hết, nhưng vẫn còn một cành mai nở rộ – cành mai đại diện cho ý chí kiên cường bất khuất không chùn bước trước khó khăn gian khổ, cho niềm tin quyết thắng vào cuộc đấu tranh giành độc lập chính nghĩa của dân tộc (đúng với ý nghĩa của hoa mai nhé :)).

Lại ví dụ nữa, nếu tác giả là Nguyễn Du, hay ai đó khác, như Nguyễn Bỉnh Khiêm chẳng hạn, có thể phân tích rằng, thời gian tuần hoàn, hoa nở rồi hoa tàn, rồi lại nở, rồi lại tàn, chỉ có đối  với con người là vô tình lãnh khốc, những việc đã qua không bao giờ quay lại nữa, tuổi già bỗng chốc mà đến, hay là thế sự thay đổi không ngừng, chỉ ngồi nhìn thế sự trôi qua trước mắt mà bỗng chốc tuổi già đã đến. Tuy nhiên dù thời cuộc có chao đảo chừng nào, hoàn cảnh sống có bần cùng thế nào, vẫn thấy một cành mai nở rộ- cành mai đại diện cho phẩm chất thanh cao bất diệt của người quân tử.

Thế nào, nghe cũng được đấy chứ hả? 😛

Qua đây để cho thấy, nếu tách bài thơ/kệ ra khỏi Mãn Giác thiền sư với chức danh là “cao tăng”, thì bản thân bài thơ/kệ không có gì là triết lý Thiền/ Phật quá cao siêu cả. Thiền là do cách hậu bối chúng ta cảm nhận ra mà thôi. Lại phải khẳng định thêm một lần nữa, những dòng viết này không hề phủ định những phân tích về tính Thiền/ Phật của bài thơ/kệ. Xét đến thân thế và sự nghiệp của tác giả, ta cũng cho rằng suy luận về ý Thiền/ Phật của bài thơ/kệ là thuyết phục. Nhưng ta muốn nêu lên ý kiến rằng, đã là cảm nhận, thì có thể có nhiều cách cảm nhận khác nhau, tùy theo góc độ của từng người, và không nhất thiết cảm nhận nào là sai, là không hiểu gì về “nhất chi mai” của Mãn Giác thiền sư (thật ra nói cho đến cùng, chỉ có duy nhất Mãn Giác thiền sư mới hiểu ý nghĩa của nhất chi mai thôi).

Xã hội phải có bách hoa đồng phóng,bách gia tranh minh – trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng, mới có tiến bộ chứ hả? 😀

 —

Hoa Sinh

Người Việt hung hãn?

Sáng hnay TV thấy tường thuật trực tiếp lễ hội Chọi trâu ở Đồ Sơn, Hải phòng. Đây là di sản văn hóa (ko biết là cấp gì rồi, nhưng nói chung là đối với bạn thì thấy ko có j ấn tượng lắm, vì bây giờ, làng nào xã nào chả có 1 cái di sản gì đó). Lúc bạn mở tv ra thì chiếu sắp hết rồi, đại khái là bán kết chung kết gì đó. Nhìn phấn khích quá nên bạn xem 1 lúc, bình luận viên thì hào hứng như là tường thuật bóng đá (cả bình luận viên trên sân lẫn bình luận viên của nhà đài), khán giả xem đông đen, khách du lịch rất nhiều, phấn khởi đến mức cứ đến pha gay cấn là há hốc miệng, quên cả đánh trống (vì lúc bình thường thấy đánh trống đùng đùng rộn rã lắm).

Theo như thuyết minh bình luận về di sản phi vật thể này thì, hội chọi trâu là hoạt động mang đầy tính nhân văn, thể hiện tinh thần thượng võ, rồi thì thể hiện khát khao chiến thắng thiên nhiên – theo bình luận của nhà đài (bạn tò mò mãi ko hiểu con người thắng j dc thiên nhiên qua cái vụ này, hay là thắng ở chỗ “dạy” dc con trâu chọi nhau??? Thế thì đá gà, đá cá này nọ có lẽ cũng thể hiện khát khao chinh phục thiên nhiên)

Cứ đến đoạn 2 con trâu lao vào nhau hoặc lấy sừng móc cổ móc họng nhau là đoàn người gào rú lên phấn khích làm mình rùng hết cả rợn. Mình bình luận là bày trò cho mấy con trâu này chọi nhau để xem đúng là dã man con ngan (bạn AC rỗi hơi có 1 thời là fan của phong trào animal rights activism), mọi người  phản ứng lại là con người ko bày ra thì trâu nó cũng cứ chọi (!!! :P)… Đây là lý do mà hầu như mọi người đều có thể dẫn ra, haizzz. Dĩ nhiên, với 1 người rỗi việc và hay lý sự (cùn) thì bạn nghĩ việc xem con trâu nó tự chọi nhau ngoài đồng về bản chất thì khác hẳn việc mua con trâu về, huấn luyện cho nó, cổ vũ nó, khiêu khích nó (ko biết có dùng thuốc lắc cho nó uống ko) để nó đánh nhau xem cho phấn khởi. Đây, công cuộc chuẩn bị cho lễ chọi trâu ở đây

Sau khi các con trâu đấu xong, tất cả đều dc vinh dự hóa kiếp để cúng, đặc biệt “ông trâu” thắng cuộc thì nghe bảo còn có thêm vinh dự được chặt đầu để tế thần >_<

Nói thực ra là xem chọi trâu mình chưa phản cảm về cái trò này mấy (vì 2 con cứ húc đầu nhau, rồi đến khi con nào mệt thì bỏ chạy té khói, em kia đuổi theo rồi bị người nhà giữ lại, thế là xong trận, chứ 2 con ko thấy máu me bê bết là mấy. Do cái sừng trâu nó cong vào chứ ko nhọn hoắt thẳng ra nên ko đâm nhau dc). Cơ mà đến hết các trận đấu thì các ông trâu bị làm thịt!!! Ác vãi! >_<  Mọi người khác lại phản bác, gớm, trâu thì chả để ăn thịt thế để làm gì. Cô giỏi cô đừng ăn thịt trâu thịt bò thịt gà…. Mình thì chưa cao cấp đến mức chỉ ăn rau như ai kia, cho nên cũng đành im mồm. Vì ở VN ta, cái ý tưởng rằng việc hành hạ các con vật, bày trò giải trí cho con người trước khi giết làm thịt là 1 viêc vô nhân đạo, thậm chí là vi phạm súc vật quyền 😛 nó chưa dc phổ biến. Thế mới biết các bạn Hồi giáo, thế mà “tiến bộ” vượt bậc trong lĩnh vực bảo vệ súc vật quyền phết – giết con vật là chỉ được dùng 1 nhát dao để giết, để nó chết ngay ko kịp đau… Nghĩ lại VN, còn có cả lễ hội đâm trâu – cả làng mỗi người 1 con dao nhào vô thi nhau đâm con trâu cho tới chết – hình như cũng di sản thì phải >_<???!!! ~!~

Vừa xem xong lúc sáng, lúc chiều lên mạng lại thấy hàng tít bắt mắt Người Việt hung hãn  😛 Cơ mà cũng lười nên chưa đọc bài. Cơ mà người Việt hung hãn thì bằng chứng ngời ngời trước mắt rồi… bao nhiêu vụ, ngày nào cũng lên báo, lên tv…

Ko biết hung hãn là do thấm đẫm tinh thần “thượng võ” và “khát khao chinh phục thiên nhiên” từ truyền thống ngàn năm hay là do ăn nhiều  thịt chó nữa… haizzzz

anhca

Tối độc phụ nhân tâm và thể loại phim/truyện cung đấu

Tiếp bài của con Điểu nhi về thể loại phim/truyện cung đấu với Asian values versus Western values, bài này cũng về cung đấu, nhưng từ góc độ feminism.

Gần đây cung đấu là mảnh đất màu mỡ cho các nhà viết truyện/ làm phim TQ tha hồ khai thác. Có thể là do khai thác mãi đề tài đàn ông, chán rồi, nên xoay sang khai thác đàn bà cho vui.

Với cả, xét bối cảnh xã hội, đang có sự gia tăng ngày càng nhiều về số lượng  các em gái xinh tươi, giỏi giang, thông thái, kiếm tiền không kém ai ở Trung Quốc nói riêng và ở Đông Á nói chung. Mà như tiền bối Marx đã phát biểu một cách vô cùng đúng đắn rằng, cái gì đó, mà sự thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất … cho nên sự gia tăng số lượng gái giỏi đã góp phần làm tăng vị thế của phụ nữ nói chung trong tương quan lực lượng xã hội. Mà lại như tiền bối Marx  đã phát biểu vô cùng đúng đắn rằng, cái gì đó, mà vật chất quyết định ý thức, nên vị thế tăng lên của phụ nữ đã điều chỉnh lại ý thức xã hội về chủ thể “phụ nữ”. Đại loại là, không thể, và không còn có khả năng lờ đi phụ nữ cũng như tình cảm, tình yêu, sở thích, nhu cầu và thói quen của họ. Chuyện, họ giờ có tiền có thế rồi, là “rising power”, muốn lờ có phải là lờ được đâu, cũng như thế giới có muốn cũng không lờ một rising China được 😀 (khiếp thế chứ lại gắn chủ đề phụ nữ vào thuyết “sự trỗi dậy của cường quốc” của Chính trị quốc tế, chắc tại nhà này có một người hàng ngày theo dõi Hoàn Cầu thời báo nên mình cũng phải ra cái tý vẻ chính chị chính em cho lên blog được thơm mặt bằng bạn, mát mặt bằng người :-P). Hay dùng ngôn ngữ thị trường, phụ nữ bây giờ đã là nhóm “khách hàng tiềm năng”, là “thị trường vàng” (có tiền mà), dại gì mà lờ, kẻ thức thời mới là trang tuấn kiệt :-D. Cho nên, thể hiện ra trong lĩnh vực phim ảnh, thay vì hầu như chỉ lấy nam là nhân vật trung tâm như trước kia, giờ đây nữ cũng được đưa thành trung tâm của câu chuyện. Cuộc đời, thân thế, sự nghiệp, tình yêu, tình cảm, quá trình đấu tranh cách mạng, thế giới quan, nhân sinh quan, sở thích, nhu cầu của phụ nữ đều được “chăm sóc” tận tình (Mà nhân tiện đây, thành thật xin lỗi tổ quốc, nhân dân, mái trường đại học xhcn thân yêu, thầy cô kính mến, cùng họ hàng thân tộc, bạn bè gần xa, bà con lối xóm vì mớ kiến thức triết học Marx-Lenin thủng lỗ chỗ và áp dụng lung tung ở trên – cái bệnh đã dốt còn thích nói chữ nó khổ thế). ===> chà vận dụng ngay lý luận mác xít lê nin nít vào đời sống hàng ngày nhỉ, quán triệt quá 😛

Thế cho nên là, ngày càng có nhiều đề tài phim ảnh lấy phụ nữ làm trung tâm cũng phản ảnh xu thế ‘quan tâm phụ nữ’, ‘ghi nhận vai trò của phụ nữ’ đáng phấn khởi hả? Nói là nói thế, chứ chưa có gì đáng mừng lắm đâu. Chị em tuy có góp tý gió, nhưng còn lâu mới thành bão. Căn bản là cho đến giờ xã hội mới chỉ có hiện tượng tự phát, chứ chưa có đầy đủ ý thức tự giác cách mạng 😛 (xã hội ở đây là chỉ toàn xã hội nói chung chứ không riêng gì phái nữ). Ví như ở nhà này có một người đấy, mở miệng ra là sặc mùi “chủ nghĩa nữ quyền”, đại loại như, “bạn vốn không thích xem các loại tranh đấu giữa các phi tần, mà căn nguyên là do ko thik cái chế độ đa thê” (xem bài trước, link ở trên), hay “btw, .. bị coi như “1 mụ đàn bà” là 1 nỗi sĩ nhục của đàn ông, hài thế đấy, vì mình feminist nên mình sẽ ko nói như vậy ” (ở phần comment của bài này). Chưa kể là họ đã được trang bị khá đầy đủ bằng những lý luận sắc bén của chủ nghĩa nữ quyền :-). Nhưng, người này vẫn một hai khẳng định ta đây bàng quan ơ hờ, tuy có “quan ngại sâu sắc” nhưng không rảnh mà đi biến đau thương thành hành động cách mạng: “Mặc dù bản thân em là fan của feminism nhưng mà chỉ dám coi nó là 1 đồ chơi trong tủ kính, lâu lâu ngắm nghía săm soi cho vui, chứ chưa bao giờ cho rằng nó sẽ làm dc cái gì “ra tấm ra món”, ở Tây còn bị nhạo báng kịch liệt, huống j là ở VN… :((“ (trích nguyên văn ở facebook nhé). Đấy, quạt còn một hai không chịu giác ngộ, huống gì là ai, hì hì. ===> Hơ, có giác ngộ mà, chỉ là “lực bất tòng tâm” + “biết mình biết người trăm trận trăm thắng” cho nên ko manh động 😀

Chưa kể, như người này đã nhận xét rất chính xác rằng, “cơ mà thực tình thì đa số phụ nữ lại anti-feminism – thật là nghịch lý đáng yêu :))” (ta là ta ngưỡng mộ khả năng tầm chương trích cú của mình nha). Hay sử dụng một ngôn ngữ mang tính học thuật hơn để diễn đạt, chính những người phụ nữ cũng góp phần không nhỏ vào cái quá trình kiến tạo trật tự và tư duy “nam trọng nữ khinh” trong xã hội (bởi vì họ cũng là sản phẩm của cái trật tự và tư duy đó rồi, nên khó mà nghĩ thoát khỏi khuôn khổ nhận thức hiện hành được). Lấy ngay ví dụ từ cái câu phát ngôn của đồng chí “người này” trích ở trên, có bao nhiêu người phụ nữ ở VN là chưa từng nói qua câu, “thằng A B C đàn bà lắm”,  “tính như đàn bà”, “cư xử như đàn bà” với hàm ý chê bai, khinh thường, sỉ nhục?. “Đàn bà” kia hay được xã hội gắn cho đủ thứ tính chất xấu xa như thiếu rộng lượng, nhỏ nhen, lắm lời, vân vân và vân vân. Chẳng thấy mấy ai đặt câu hỏi liệu quan niệm như thế có đúng không… hầu như tất cả đều chấp nhận như đúng rồi, là sự thật không phải bàn cãi, và hết thế hệ này đến thế hệ khác cứ nói theo một cách rất “có tinh thần xây dựng” (tại gia đình , trường lớp, xã hội, sách vở đều dạy thế, bản thân mình cũng “cảm” thấy thế, “nhận” thấy thế, chẳng nhẽ lại sai???). Cũng chưa thấy ai nói, anh A B C tính như đàn bà, với hàm ý ca ngợi, là nhân từ, vị tha, biết yêu thương, chung thủy và cư xử mềm mại cả. Còn đàn ông mà thù dai nhỏ nhen á, nếu chê thì “bị” gọi là đàn bà, còn nếu khen thì “được” gọi là “quân tử trả thù mười năm chưa muộn”, “quân tử có thù tất báo” (Sợ thế !!!). Cho nên, đợi đến khi hiện tượng tự phát biến thành dòng thác cách mạng (nếu có), đưa công cuộc bình đẳng giới đi đến thắng lợi cuối cùng, chắc cũng lâu ngang bằng đợi đến khi có xã hội cộng sản :-P. (Không biết là lần thứ bao nhiêu, nhưng ở nhà này một lần nữa phải khẳng định chủ nghĩa nữ quyền, bình đẳng giới  không có nghĩa là đòi phụ nữ giống như đàn ông tất tần tật mọi thứ trên đời, đặc biệt là với thái độ hằn học, như thiên hạ vẫn hay lầm tưởng. Ngoài ra, bạn có thấy không, hôm nay ta rất chi là Marxist đấy :-D).

 

Tối độc phụ nhân tâm???

Lan man tán nhảm một hồi, giờ quay lại mục đích chính của bài viết này. Đấy là, bàn mấy câu về hình tượng phụ nữ được kiến tạo qua các phim/ truyện cung đấu.Theo một góc độ, sẽ thấy thể loại phim/truyện này là tiếng nói cảm thông với số phận bi thảm của người phụ nữ trong xã hội phong kiến nói riêng và phụ nữ nói chung (rất có tính phê phán, rất có tính cách mạng, same old story nhỉ :-), lại mời đọc lại bài trước của con Điểu nhi). Nhưng theo một góc độ khác, cũng sẽ nhận thấy hình tượng phụ nữ trong phim/truyện vẫn được xây dựng dựa trên những gì xã hội Đông Á chúng ta từng nhìn nhận về phụ nữ từ xa xưa cho đến nay, mà theo đó, phụ nữ xấu tính và thiển cận hơn đàn ông trên mọi phương diện – phụ nữ và tiểu nhân vốn được xếp ngang nhau. ===> Mỗi ngày 1 thành ngữ – Tử viết: Duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dã! 😛

Thậm chí, trên đời này còn tồn tại một thứ nhận thức gọi là “Tối độc phụ nhân tâm – độc nhất là lòng dạ đàn bà”. Đây là một câu nói vô cùng nực cười. Xét lịch sử, giết người không gớm tay, phụ tình, phũ tình, đều không phải hành vi phụ nữ hay làm hoặc có khả năng và điều kiện làm. Thế mà câu này tồn tại không biết bao nhiêu trăm năm, nhờ được thiên hạ liên tục đem ra làm mới và hâm nóng. Phim/truyện cung đấu ngày nay cũng góp phần không nhỏ.

“Đấu” –  phụ nữ đã không đấu thì thôi, không tranh thì thôi, chứ đã đấu đã tranh là cũng trời long đất lở. Điều này chắc ai cũng ngầm thừa nhận hả. Ở vào cái thời buổi kinh tế thị trường này, hầu hết mọi khía cạnh của cuộc sống đều được quy định bởi mấy chữ “cạnh tranh”, “đấu đá”. Ý thức hệ “cạnh tranh” thẩm thấu vào não chúng ta đến nỗi chúng ta không thể tưởng tượng được trong cuộc sống mà lại không có tranh, có ai đó mà lại không tranh, kể cả ai đó sống cách đây cả vài trăm năm. Căn nguyên của sự bùng nổ của các thể loại phim/truyện cung đấu cũng là đây. Đừng tưởng phụ nữ ngày xưa là hiền lương thục đức, tam tòng tứ đức. Đặt vào trong hoàn cảnh tranh đấu, cũng không kém cạnh gì ai, bản năng nó thế rồi. Tạm chấp nhận tiền đề này đi (trong lịch sử, có bao nhiêu vụ đấu đá thực sự xảy ra???), nhưng phụ nữ đấu vì cái gì và đấu như thế nào?

Cũng giống như đàn ông, phụ nữ tranh đấu không ngoài mấy thứ như quyền lực, tiền bạc, tình yêu này nọ. Khác nhau mỗi chỗ là, hành động tranh đấu của đàn ông thường được cộng thêm ý nghĩa vì dân vì nước, vì chính nghĩa đạo đức này kia.  Còn hành động tranh đấu của phụ nữ  ít được tô vẽ bằng mấy thứ giá trị cao cả đó, thay vào đó là sự tự tư tự lợi. Đàn bà đấu vì muốn chồng yêu riêng mình, còn đàn bà khác vì thế mà thiệt thòi, đau khổ thì đành chịu thôi. Đàn bà đấu để mình được chưởng quản lục cung, mẫu nghi thiên hạ, hay rộng hơn tý nữa là dòng họ mình được giàu sang vinh hiển, vì leo lên quyền lực mà giẫm đạp lên bao nhiêu mạng người. Đàn bà đấu để con mình tương lai rộng mở, không ngần ngại hại con người khác chết nhăn răng, thủ đoạn yêu thích là đập chết ăn thịt ngay từ trong trứng nước (phim nào cũng có vài vụ cho nhau sảy thai/ mất khả năng sinh con này kia).

Sở dĩ có thể khái quát ra như thế này,  bởi vì trong phim/truyện nam đấu, thường là số lượng đàn ông vì dân vì nước, hoặc hy sinh bản thân vì nghĩa nhớn khá nhiều, và thường nhiều hơn đàn ông xấu. Mô hình phổ biến là tự dưng có một thằng cha phản động tà ác nào đó nhảy ra gây rối mù tang tít, làm mất đoàn kết nội bộ, khiến các lực lượng chân chính phải tụ họp xung quanh ngọn cờ chính nghĩa để diệt trừ. Hoặc là hai bên chính tà cân bằng lực lượng, rồi chính thanh trừng tà để làm trong sạch quần chúng :-P. Còn trong cung đấu, trừ một em nhân vật chính+ một hai tay chân ra, còn lại toàn là đàn bà tự tư tự lợi, ganh ghét, giả dối, nham hiểm, và đổi phe như chảo chớp (tiện nhân tựu thị kiểu tình – 😀 vừa học được từ bài của con Điểu nhi). Đặc biệt là tình bạn của đàn bà không hề đáng tin, xã hội người ta còn kết luận là không có tình bạn thực sự tồn tại giữa đàn bà cơ đấy (tình tiết từ chị em tốt biến thành thù địch rất được ưa chuộng). Chưa kể, trong khi đàn ông có khí tiết vững vàng , khó khăn gian khổ nhưng tấm lòng son vẫn chói lóa cùng sử xanh :-P, thì mấy em nhân vật chính trong cung đấu có nguy cơ đổi mầu rất cao, gần mực là đen ngay,  từ ngây thơ trong sáng biến thành âm hiểm thủ đoạn. Tóm lại, đàn bà, phần đông là xấu và dễ thoái hóa biến chất cả???.

[===> Hehe, thật may là mình và bạn YL chưa bao giờ nhận nhau bạn bè tốt (hì, sau này có đâm sau lưng cũng ko bị phỉ báng, nhĩ – áp dụng nhuẫn nhuyễn và thành thục hedging policy :P)]

Tất nhiên là khi phim/truyện cung đấu tập trung khai thác, nhấn mạnh các khía cạnh tiêu cực như trên, những thứ không hoặc hiếm khi được nhắc đến,  là khả năng bảo tồn và phát huy các giá trị “tu thân”, “trị quốc” của giới nữ (trong số nhiều các giá trị khác). Chẳng nhẽ phụ nữ vì tranh giành mà bất chấp nhân nghĩa, hoặc những giá trị tam tòng tứ đức mà người ta hay dạy cho họ?  Chẳng nhẽ phụ nữ không biết thế nào là trượng nghĩa, vì bảo vệ công lý mà đấu tranh? Phụ nữ tranh mà không nghĩ mảy may đến “dân”, “nước”, “đại cục”? Phụ nữ nhẫn tâm giết con của chồng? Trong phân tích diễn ngôn  những thứ này được gọi là “sự quên lãng” hay “im lặng” trong hệ nhận thức(silences – hic không biết tiếng Việt dùng thuật ngữ gì). Tức là không phải chúng không tồn tại hoặc không có khả năng tồn tại, mà là người ta phớt lờ chúng một cách có hệ thống (chính quy và chuyên nghiệp là đây :-P). Hay nói chính xác hơn, chúng không nằm trong cái hiểu biết vốn được dạy dỗ cũng như tưởng tượng của người ta về phụ nữ. Nói đàn bà vì ghen tuông mà hãm hại lẫn nhau, thì anh hiểu, tôi hiểu, trời hiểu, đất hiểu hả, còn bảo đàn bà quyết không tranh giành vì kiên định mục tiêu  tam cương ngũ thường, hay đàn bà có thể giết, chứ không thể làm nhục, hay “đàn bà chi giao đạm như thủy” – quan hệ của đàn bà nhạt như nước lã :-P, hay đàn bà vì tri kỷ mà chết, hay lại ôm mối “tiên ưu hậu lạc” – lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ, nghe nó buồn cười và thiếu “hiện thực phê phán” hả? (haizzz, cho ai tình cờ đọc đoạn này, có mấy câu thành ngữ TQ nguyên gốc như sau: sĩ khả sát, bất khả nhục; quân tử chi giao đạm như thủy; sĩ vi tri kỷ giả tử; tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc, vào trang này đều có giải thích).

Nói đến đấu nhau thế nào, như trên đã nêu, đòn ưa thích là cho nhau sẩy thai/ vĩnh viễn không thể đẻ con/ hại chết con của nhau. Độc là độc ở cái chỗ này đây. Đến trẻ con cũng không tha (lại phải đặt câu hỏi nghi vấn, trong lịch sử thật xảy ra bao nhiêu vụ thế này, mà nay chúng ta xem cứ như là đương nhiên vậy ???). Nhưng, thêm một cái nhưng, nếu làm phép so sánh, thì số người chết do đàn ông đấu nhau chắc phải lớn hơn nhiều. Tuy nhiên, sự tinh vi nó nằm ở chỗ là, số người chết đó thường được xếp trong một hạng mục chung chung là “kẻ thù” – che khuất thực tế là trong cái đám đông kẻ thù đó có thể có người già, phụ nữ và trẻ em. Với cả, giết kẻ thù có lý do rất chính đáng là vì nước vì dân.  Tất nhiên rồi, hình tượng anh hùng hảo hán, chính nhân quân tử, vua hiền tôi giỏi làm gương cho xã hội thì không thể để liên quan trực tiếp đến việc giết hại dã man một cá thể vô tội nào đó được. Ngoài ra thì, đàn bà hay sử dụng các chiêu trò ngậm máu phun người, ném đã giấu tay, chọc gậy bánh xe, vừa ăn cướp vừa la làng, còn đàn ông họ xử lý nhau trên sa trường bằng gươm giáo, hoặc trên triều đình bằng các công cụ luật pháp, rất ư là quang minh lỗi lạc. Cũng chỉ có phe xấu, tiểu nhân âm hiểm (mà như trên nói, không nhiều) mới sử dụng các chiêu thức ám muội mà thôi.

 Nếu như ai đó nói, cái gì đó mà lịch sử là tấm gương soi của hiện tại, hay có lẽ chính xác hơn, là những gì chúng ta nhận định và tô vẽ về lịch sử phản ảnh tư duy của chúng ta ở hiện tại, thì quan niệm của xã hội hiện đại về đàn bà, thật sự khác được bao nhiêu so với ngày xưa?

 

… Và vài dòng về truyện ngôn tình

Con Điểu nhi lần trước hỏi ta, có viết về truyện ngôn tình nữa không…

Truyện ngôn tình có rất nhiều điểm hay và hấp dẫn, nhưng ở khía cạnh “nữ quyền”, cũng là một cái nôi bảo tồn và phát huy cao độ tư tưởng trọng nam khinh nữ, minh chứng hùng hồn cho câu phát biểu của đồng chí “người này” ở trên.

Đây có lẽ là một trong những điểm gây ấn tượng sâu sắc nhất khi đọc ngôn tình cả cổ đại, xuyên không lẫn hiện đại, đô thị. Mấy anh vương gia, tổng tài, nhân phẩm của các anh rất có vấn đề. Mặc dù các anh yêu và sủng mấy chị nữ chính, nhưng các anh đối xử siêu tàn nhẫn vô nhân đạo với mấy em khác (mấy em này hay được gắn mác tham tiền, hám của để bao biện cho cách hành xử của các anh là “đúng người đúng tội”, không có gì sai). Tham tiền thì sao, hám của thì sao, chỉ làm tình nhân của anh vì tư lợi thì sao? chẳng nhẽ vì thế mà có thể đối xử với con người ta như với súc vật? Một số anh đối với chị nữ chính thậm chí còn hiếp trước yêu sau. Thế nhưng chị em chúng ta không những dễ dàng bỏ qua,  có khi còn tôn các anh lên thành hình tượng đáng mơ ước.

[Ngoài lề: Đã nói đến những điểm gây ấn tượng sâu sắc của truyện ngôn tình, thì nói cho chót. Có một điểm hài hước nhưng cũng đáng buồn, đấy là sự kiến tạo trật tự Eurocentric, chính người châu Á chúng ta làm. Châu Âu cái gì cũng đẹp, cũng sang, cũng đáng mơ ước, là chuẩn mực của sự sang trọng và vẻ đẹp thanh lịch quý phái, mấy nhân vật chính thì trưng đầy người toàn hàng hiệu châu Âu, cho thiên hạ tha hồ suýt xoa lác mắt :-)].

 

Kết luận

Tất cả những ghi chép ở trên, là để cho thấy chúng ta hay ngộ nhận là chúng ta suy nghĩ văn minh lắm, tiến bộ lắm so với “xã hội phong kiến thối nát”, nhưng thực ra, thứ gọi là văn hóa, thay đổi chậm hơn nhiều so với chúng ta tưởng tượng. Lịch sử cũng chứng mình rằng, đến một cuộc cách mạng hào hùng với hai cuộc chiến tranh thần thánh chấn động địa cầu, vang dội năm châu, cũng chẳng xóa được là bao những “tàn dư” của chế độ cũ :-P, như cái phong trào điểm mặt chỉ tên những thói hư tật xấu của người Việt nêu ra một đống đấy, thì nói gì đến công cuộc mà gặp thập diện mai phục như bình đẳng giới.

 

Tái bút

Hôm qua nói chuyện với con Điểu nhi, nàng ta bảo đấu tranh cho chủ nghĩa nữ quyền là con dao hai lưỡi. Nếu ai xinh đẹp còn có thế, chứ nếu thiếu xinh đẹp thì “thiên hạ” ném đá cho te tua. Ta bảo, thật, như chúng ta vừa thiếu xinh đẹp vừa ế, thiên hạ lại kết luận ngay là con này không có thằng nào thèm lấy, cay cú mới đấu tranh. Chính vì thế, con Điểu nhi nhà này đã kết luận rất thông thái rằng, vì chúng ta hèn nhỉ, nên chúng ta chỉ thấy bất bình đẳng thì tường thuật, ai tin thì tin, không tin thì thôi (già rồi tim yếu chân run, nhỡ đấu tranh vũ trang, thiên hạ ném đá, chạy không kịp lại hứng mấy hòn đá vào đầu, thành “nữ thạc sỹ nhập viện tâm thần vì ế chồng”). Bài này viết theo tinh thần như vậy. 🙂

 

Bonus

Mời xem Vũ Linh – Kim Tử Long hát trích đoạn Hồ Quảng “Phàn Lê Huê”. Nhân vật nữ thì không chuyên nghiệp lắm.

Phút thứ 18: 40 Tiết Đinh San (Vũ Linh) có hát một câu vọng cổ có nhắc “tối độc phụ nhân tâm”, rất là mỉa mai…

Và ở clip này, phải ca ngơi anh Kim Tử Long – vai Tiết Ứng Luông, vì hát rất hay và vũ đạo rất đẹp (thần tượng của ta cũng khỏi chê).

Ngoài ra lời thoại vô cùng hay.

Và không hiểu sao các kép cải lương, quăng chén quẳng quạt rất ư là điệu nghệ 🙂

Hoa Sinh

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: