Chuyện Bé Chăm

Đây là một câu chuyện đc học ở cấp 1 mà mình rất nhớ và rất thích, vì nó rất giống bản thân mình hehehe.

    Bé Chăm rất chăm làm nhưng cũng mau chán việc. Làm việc này chưa xong, em lại bỏ dở để làm việc khác.

Mới quét xong nửa cái sân, em lại lấy sách ra đọc. Bài học thuộc lòng mới thuộc nửa chừng, em lại lấy vở ra để tập chép.

Bố em thường khuyên răn em, nhưng bé Chăm vẫn chưa sửa chữa được.

Một hôm, bố dẫn Chăm đến bác thợ may ở trong làng để may một bộ quần áo mới. Chăm thích quá vì sắp có bộ quần áo đẹp để mặc Tết. Một ngày, hai ngày và ngày thứ ba, Chăm đến lấy quần áo mới. Nhưng bác thợ may chỉ may xong nửa cái áo và nửa cái quần. Bác bảo Chăm cứ thế mặc vào xem sao.

Chăm mặc thử bộ quần áo làm cho mọi người bò lăn ra cười. Chăm bực tức nói:

– Thế bác hãy may xong cái áo cho cháu đã có được không? Bác làm thế thành ra chẳng cái nào xong hẳn cả!

Bác thợ nghiêm trang bảo: “Cháu nói đúng, làm việc gì cũng phải làm đến nơi đến chốn mới khỏi phí công vô ích”.

TRÚC MAI kể

Advertisements

Phim review: Như Ý Truyện

Vốn không có định xem phim cung đấu, nhất là thời Thanh, mà dạo này cũng chan chán phim dài tập lê thê… Nhưng chắc do tính háo thắng nên quyết phải xem (và phải bênh) Như Ý Truyện, vì thấy thiên hạ tung hê Diên hy công lược gì đó quá xá.

(Ngoài lề: Về Diên hy công lược, xem dc đâu tầm chục tập lúc mới chiếu, vừa xem vừa kéo, mới đầu ko thấy ghét gì, nhưng xem 1 lát thì thấy nhàm chán, và đúng kiểu phong cách phim thím Vu: trang phục qua quít, ngày xưa thì màu mè mù mắt người ta, giờ thì giả vờ đơn sơ trang nhã, nhưng nhìn rẻ quá nên ko ưng; lại thêm vụ filter xam xám cho nó nghiêm túc mới ghê; nội dung thì k bàn, vì ko xem, nhưng thấy buff hoàng hậu như thiên thần (các loại slow motion, đặc tả này nọ lung linh cả lên), buff em nô tì như chiến thần (bạ ai cũng đấu, bạ ai cũng cãi nhem nhẽm, ko biết sợ là gì, hỗn hào kinh lên được!!!!)… thấy điêu điêu. Mà nghe nói còn đạo cốt truyện của Như Ý (và cải biên ngược lại) nên càng ko quan tâm; về nhan sắc, trừ mỗi bà hoàng hậu thì thấy còn ok, còn thì xấu cả dàn – nhất là em quý phi, em nữ chính, và chị Xa thi mạn, nhìn như thái hậu…; diễn xuất thì có 1 từ thôi, gọi là over-act, nói chung là phong cách phim hành động, mọi thứ đều mạnh bạo (hehe trừ chị hoàng hậu thiên thần, giơ tay nhấc chân đều như slow motion 😛 )

Nói đến Như Ý Truyện, thú thực là ta cũng tò mò nó từ ngày nó mới lên form, chọn danh sách diễn viên, cũng quan tâm các đợt tung posters này nọ…

Xong là chiếu dc vài tập thì bị anti chê rầm trời, nào là lòe loẹt, nào là Châu Tấn già như bà nội, nào là diễn biến chậm chạp nhàm chán…  Thế nên quyết định xem thử…

Xem tập 1: ok, c Tấn nhìn hơi botox 1 tẹo, nhưng cũng ko già lắm, nét mặt xinh… mấy chị em nữ phụ xinh

Tâp 2 tập 3 gì đó: cảnh đám cưới: lúc này mới thấy nổi trội cái sự già của c Tấn – cái màn váy đỏ động phòng, èo ơi, k biết ai làm phục trang makeup mà xấu điên người + cái giọng trầm như bà cố nội của c Tấn thỏ thẻ trong đêm, tụt mood kinh khủng. Nhất là trong bối cảnh chị Đổng Khiết già nhưng ko quá lộ, vì nét khá xinh, và em họ Cao bản sao Chương Tử Di xinh lung linh, đẹp số 1 số 2 của phim luôn, cái sự già của c Tấn nó lại càng nổi bần bật…

Cố xem thêm một vài tập nữa… hihi lạ lùng là, dần dần mấy tập sau lại thấy c Tấn xinh ra (ko biết là do c ấy xinh hơn thật, hay là do ảo giác tự kỷ ám thị), nhất là những khi chị ấy makeup nhẹ nhàng đơn giản, giọng nói cũng ko chướng tai, nghe bình thường lại. Chị Tấn diễn xuất thì đúng là quá hay luôn, tự nhiên tự tại, diễn mà như không diễn. Thôi nói thế thui, ai hứng thú thì xem để cảm nhận.

Điểm gút mắc nhất của phim là nhan sắc và giọng nói của chị Tấn cuối cùng ta cũng vượt qua được… Cẩn thận xem kỹ cái phim này, quả thực quá nhiều điều để khen luôn, cảm thấy phim này bị thiệt khi Diên Hy chiếu trước, giành 1 lượng fan lớn nên rất nhiều khán giả tự động có cái nhìn không thiện cảm với Như Ý Truyện (chưa kể các techniq anti dìm hàng của thím Vu hehe, làm phim đấu đá hậu cung riết hồi quen luôn mấy tiểu xảo đấu đá nhau). Mặc dù hiện tại ta đã phải ngừng ở tập 20, chỉ xem ảnh và review, để giành nó dài dài rùi xem 1 thể, chứ không lại bị lên cơn nghiện giữa chừng mà k có thuốc thì lại dễ đứt T_T.

Ở đây xin điểm qua một vài điểm tâm đắc của cái phim này:

  • Về nội dung: chưa xem, chưa đọc truyện nên k biết như nào, nhưng với việc tác giả kịch bản/tiểu thuyết chính là của Chân Hoàn đình đám một thời + nội dung rất tốt trong mấy chục tập đầu => ta có lòng tin rất lớn về nội dung của truyện cả về tính hấp dẫn và tính logic.
  • Về trang phục và đạo cụ: phải nói là các anti đã làm quá tốt công tác dìm hàng – chửi phim dành nhiều tiền trả cat-sê và làm công tác đạo cụ sơ sài, dẫn đến 1 loạt các lời chê từ người xem. Hơi buồn một chút, những người chê, thực tình, đều có thể xếp vào loại không xem nhưng cứ chê cho sướng miệng, hoặc có xem nhưng dễ bị dao động, thấy ngta chê thì mình đành tặc lưỡi chê. Ta đã cất công đi mò ảnh ọt, xem lại các phim khác của thời thanh, từ các loại “chính kịch” hoặc được đầu tư xịn như Chân Hoàn, Bộ Bộ, hoặc các phim màu mè của Vu Chính (Cung series), các phim thời cũ đình đám, thậm chí các phim 3 xu, thì thấy quả thực càng ngày người ta làm trang phục phim thời Thanh càng đẹp. Diên Hy làm khá độc đáo (chỉ phải cái hơi đơn sơ nghèo nàn, vài bộ thấy hơi rẻ tiền, fake), Bộ Bộ đẹp trang nhã, Chân Hoàn đẹp sáng sủa (nhưng hơi màu mè). Sang đến Như Ý, quả thực hơi màu mè nhưng ko bằng Chân Hoàn, có nhã nhặn nhưng không bằng Bộ Bộ, có điều hơn cả 2 bộ phim này ở mức độ chỉn chu: áo quần, thêu thùa, các loại trang sức đội đầu, các style ăn mặc… tất cả đều cho thấy sự nghiên cứu công phu và đầu tư nghiêm chỉnh. Tất nhiên là chắc chắn là trang phục của phim sẽ không giống hệt lịch sử rồi, vì thời nay làm thì sure là đẹp hơn, tinh xảo hơn… cho nên cả phim toát lên cái sự giàu có xa xỉ của triều đình 😛 (ko biết có khoa trương quá không, hồi ý có giàu sang ghê gớm như thế ko, mà thôi kệ, đẹp là xem thôi)… Người làm trang phục là 1 sư phụ kêu là Trương Thúc Bình, ông này làm bao phim, bao đẹp, chê ông này nữa thì ko biết là còn khen ai bây giờ!!!
  • Đấy, đạo cụ còn chưa nói đến, mọi thứ đều rất tinh xảo, nhìn là thấy tốn kém!!! . Cảnh trong nhà, cảnh ngoài trời đều tinh vi, chỉn chu, hoặc hoành tráng đúng tầm, hợp cảnh hợp tình. Hix, thấy họ đầu tư thế, mà nếu flop cũng thấy tội, mà flop vì nội dung phim dở thì còn ok, chứ bị chê vì phim thiếu đầu tư thì đúng là nhắm mắt chê bừa. (Trong bối cảnh này, xin có lời chia buồn với phim Hoàng Quyền – định xem mà lười nên chưa xem, xem ảnh và các đoạn trích thì thấy đây cũng là một phim đầu tư chỉn chu đến từng chi tiết, mà nghe nói nội dung cũng rất hóc búa, hix hix thế mà lại bị flop dập mặt… haizzz quả thực thời nay, dân số trẻ trâu chiếm đa số, chắc là khán giả chỉ muốn xem phim ngôn tình yêu đương là chính, mấy cái phim nghiêm túc, khó nhằn này hơi kén ngwoif xem)
  • Về diễn xuất: về cơ bản là ko cảm giác bị sạn, bị khó chịu. Cả dàn diễn viên diễn mượt mà, đều đặn. Đặc biệt không có tình trạng bị overact như một số phim (ví dụ Diên Hy có em nữ chính, em Cao, em Hoàng hậu, và cả ông vua, đóng đôi khi cứ làm quá mọi thứ lên, xem thấy mệt mệt).

Phim này có anh Hoắc bị chê là đơ 😛 hihi anh này hình như phim nào cũng bị chê là đơ thì phải (mặc dù ta ít khi xem ảnh đóng, tại thấy k đẹp ý). Đến nay thì vẫn thấy tạm ổn, chấp nhận dc, thậm chí là khá hợp vai, vì mặt anh này toát lên cái sự gian xảo và bạc tình 😛 rất phù hợp với nhân vật Càn Long ở trong phim này. Đúng kiểu gặp em nào cũng thị tẩm được, ko có kén chọn, mà thực ra lại ko yêu em nào cả 😛Lác mắt với phục trang cầu kỳ của NhÆ° Ý truyện: Những ai chê Châu Tấn - Hoắc Kiến Hoa mặc xấu phải nghÄ© lại!  - Ảnh 5.

  • Chị Chân Hoàn thì đúng là toát lên cái sự cục súc, nhỏ nhen và xấu tính hahaha ko biết trong phim cũ thì như nào nữa, nhưng phim này c ấy xấu tính quá (đúng kiểu xuất thân từ nhà thường dân hay sao ý, tính tình hay so đo nhỏ nhặt kinh khủng). Chị Chân Hoàn hút thuốc phiện 😛

Đừng tìm Chân Hoàn trong Như Ý Truyện nữa, vì Chân Hoàn ngày xưa chết rồi! - Ảnh 1.

Chị Như Ý: xinh (mặc dù đôi khi mặt hơi botox và bị lộ sự già huhuhu, nhất là hai tập đầu lại nhìn già nhất, nên đã đuổi đi một cơ số lớn người xem 😛 ), diễn hay,  tính cách nhân vật ổn (ý là phù hợp với xuất thân và thời đại của chị ấy), trước mắt chưa có gì chê, mà giang hồ cũng chỉ chê dc cái sự già của chị ấy, chứ cũng k chê dc gì hơn. Nói đến đây mới thấy hài – chị Xa Thi mạn thì ko ai chê một chữ, trong khi nhìn chị Xa như lớp thái hậu thái phi trong dàn phi tần!!! Chính ra chị Tấn tuy thấy nếp nhăn nhưng nét mặt lại nhỏ, nhìn ko bị thô như chị Xa.

Ảnh chị Tấn cropped trong phim, đại khái nó hơi bụp bụp thế, trang điểm nhạt thì xinh hơn (lên poster thường là pts nhẵn rùi)

Như Ý - Châu Tấn đụng độ Chân Hoàn: Cặp mẹ chồng - con dâu ghê gớm ai cũng chào thua  - Ảnh 8.

Image result for châu tấn như ý

Chị Xa Thi Mạn trong Diên hy, nhìn như mẹ của các phi tần luôn (lên phim còn filter đi rồi)

Image result for xa thi mạn diên hy

Related image

Image result for xa thi mạn diên hy

  • Một điểm đặc biệt đáng yêu của phim là thế quái nào mà hầu như các nhân vật “ác” đều đáng yêu 😛 (mà chị Tấn sau này cũng “ác” thì phải). Ko nói tới em Hải Lan (“ác” của phe chị Tấn nên tự động được đặc cách là “chính diện”), em Tuệ phi mang danh sủng phi, đẹp hoàn hảo không góc chết (nhìn như Chương tử di lúc trẻ), phong cách xa hoa, tính tình lanh chanh kiêu căng nhưng lại rất cute và ngu ngơ (được chiều quá nên tính tình giản đơn) (ẻm chết làm bao nhiêu fan sùi sụt); em Gia phi đến từ Triều Tiên cũng gần không góc chết (chọn 1 chị nhìn rất Hàn xẻng), vừa đẹp, vừa có cái điệu diễn xuất “điêu” ơi là điêu, nhìn mấy ẻm làm ác mà cứ thấy cute cute, ko thể ghét được. Chị hoàng hậu Đổng Khiết thì đúng kiểu khẩu phật tâm xà, mặt mày tròn trịa đúng bậc mẫu nghi, hành vi thì lơ đãng toát lên sự nhỏ nhen, nhưng đoạn con chết diễn hay 😛 Mấy chị em trong hậu cung mỗi người một vẻ, một tính cách đặc biệt của mình… Dĩ nhiên là có mấy em sẽ khiến ng xem ác cảm, đóng rất đạt, em A Rùa, em Mai tần… em Lệnh phi sau này sẽ do 1 em chuyên trị vai phản diện đóng, cho nên ko thể ko mong đợi.

 

Làm nhiều điều ác, vì sao Cao Quý phi của Như Ý Truyện và Diên Hi Công Lược vẫn được khán giả yêu mến? - Ảnh 4.

Đỏ mặt với màn nhảy múa quyến rũ Hoắc Kiến Hoa của chị gái bán sâm - mỹ nữ đẹp nhất Tử Cấm Thành  - Ảnh 1.

Lệnh Phi Ngụy Yến Uyển à, nàng sống thế nào mà hết Phú Sát Lang Hoa hành hạ rồi đến Gia Phi cho ăn hành như này chứ? - Ảnh 1.

Phim cũng khắc họa cuộc sống khá cute trong phim, hằng ngày đi vấn an cấp trên tiện thể chửi nhau rôm rả, vấn an xong thì chia phe tụm 5 tụm 3 đi về từng hang ổ, cắn hạt dưa hoặc ăn vặt, thanh cao hơn thì vẽ vời thư pháp đồ, vừa ăn/vẽ vừa tính kế âm mưu dương mưu…

Về cái theme của bộ phim, thú thực là cũng chưa đọc truyện nên cũng ko biết như nào, cơ mà đọc tóm tắt thì thấy có vẻ phim cũng như Chân Hoàn, nói về hoàn cảnh và cuộc sống phái nữ thời phong kiến, ko có tình yêu, hoặc có thì cũng sớm muộn bị hiện thực làm cho sáng mắt, chỉ có đấu tranh, quyền lực, tính kế cho đến giây phút cuối cùng, thậm chí lấy cái chết để mà tính kế đối thủ. Phim không có couple, nên anh Hoàng thượng xấu bụng diễn đơ cũng ko ai tiếc, nữ chính không happy ending với nam chính mọi người cũng không hụt hẫng.

Nói chung, đây là một phim tốt xem để luyện trí óc, ngắm nghía các thành tựu văn hóa, ghi nhận thêm 1 vài giả thiết đối với lịch sử lúc đó, hoặc ai trình cao hơn, suy ngẫm này nọ về nữ quyền về nhân quyền thì cũng khá ổn.

Trước mắt thấy ưng, đánh giá 8.5/10 điểm hihihi. Hy vọng ko bị đầu voi đuôi chuột 😛

 

Anh ca

 

Ghi lại đôi dòng nhân Kỷ niệm 6 năm thành lập blog

Blog này được dựng lên khi các chủ nhà mỗi người một phương trời, đeo đuổi một số thứ phù phiếm và hại não. Vì cái hoàn cảnh éo le đấy, mà những lần kỷ niệm blog lần thứ nhất, thứ hai, thứ ba, đã diễn ra trong không khí vô cùng hoài niệm và trang nhã, ví dụ như dịch 1 bài thơ, viết một bài bình để kỷ niệm (ở hậu trường thì cũng có hò hét, ép uổng, nhắc nhở, giở quẻ. Haiz, in defence các công tác hậu trường, ai bảo một vị chủ nhà này là 1 con vẹt họ Hứa làm chi).

Đến năm nay, trong không khí tưng bừng của kế hoạch nghỉ lễ 30/4- 1/5 ở quê nhà, trong tâm trạng phấn khởi vì blog ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, bất chấp 6 năm sóng gió điên đảo, chịu đựng cảnh khi vồ vập khi ghẻ lạnh, khi ôm ấp khi hững hờ của các chủ nhà mắc chứng bipolar disorder, multi-personality disorder  vân vân và vân vân… các chủ nhà đã có một buổi kỷ niệm vô cùng nhiệt huyết, vô cùng hào hứng, và vô cùng xôi thịt ở quán cơm gà Hải Nam-  một món ăn mà theo phân tích process-tracing của một vị là có nguồn gốc từ đảo Hải Nam TQ, được truyền sang và thành phổ biến ở Malay, nhưng thế quái nào lại về tay các bạn Sing.

Nhân dịp 6 năm, mặc dù vẫn hoan nghênh tinh thần Hứa, Hứa nữa, Hứa mãi của Hứa thị nhưng cũng hy vọng là những ai kia sẽ thực hiện lời hứa hihihi.

Hàn

Mỗi ngày một kiến thức: Nguồn gốc chữ “Thị” trong họ tên

Trong một quyển sách tên là 取名宝典 – ‘Thủ danh bảo điển’ của  巨天中 – Cự Thiên Trung, Nhà xuất bản Nam Văn Bác Nhã, giải thích về chữ Thị – 氏 như sau:

Thị là một chi nhánh, ngành họ của Họ, chỉ tồn tại độc lập trong thời gian trước nhà Hán. Họ là tộc hiệu của một thị tộc, thành viên của thị tộc đều lấy tộc hiệu này làm Họ của bản thân. Nhưng về sau con cháu ngày càng đông đúc, phân thành rất nhiều chi, nhánh, dần dần phân tán ra sống ở các nơi, quan hệ cũng ngày càng xa, do vậy mỗi phân chi lại tự xác định cho mình thêm một danh xưng, danh xưng này gọi là Thị. Như vậy, mỗi một thành viên của một phân chi có một Họ, lại có thêm một Thị. Ví dụ như người tộc Thương họ là “Tử,” về sau lại phân thành các Thị “Ân,” “Thời,” “Lai,” “Tống,” vân vân, những người này đều là người tộc Thương, nhưng sống tại các địa điểm khác nhau.

Người xưa đặt Thị như thế nào? Do hạn chế của điều kiện văn hóa lịch sử lúc bấy giờ, rất nhiều bộ tộc khi lựa chọn Thị cho mình, đều xuất phát từ “vật tổ” (những thứ người xưa cho là linh thiêng, đại diện cho thần linh). Có bộ tộc lấy thực vật làm Thị của mình, có bộ tộc lấy động vật làm Thị của mình. [….] Thành viên của thị tộc mà có cùng “vật tổ” không được lấy nhau, vật tổ trở thành tiêu chí để giới hạn hôn nhân. Thị tộc thời kỳ đầu có: Lang Thị (sói), Hùng Thị (gấu), Quy Thị (rùa), Lộc Thị (hươu), Toại Nhân Thị, Hữu SàoThị (sào là tổ, ổ), Tây Lăng Thị, Thần Nông Thị, Thục Sơn thị, Kim Thiên Thị….

Sau thời đại Chiến Quốc, Họ và Thị cơ bản hợp thành một, hầu hết mọi người đều chỉ xưng Họ mà không xưng Thị, chữ “Thị” này liền mất đi ý nghĩa gốc, Thị dần dần đi liền sau họ, dùng để chỉ thành viên gia tộc của một Họ. Ví dụ “Trương thị huynh đệ,” “Vương thị huynh đệ,” “Lưu thị huynh đệ”… là chỉ anh em họ Trương, anh em họ Vương, anh em họ Lưu…

Và ở Việt Nam….?

Phía trên đây là nguồn gốc chữ Thị từ thời xa rất xa.

Ở Việt Nam, tên Nguyễn Thị A, Hoàng Thị B, khi viết bằng tiếng Hán, đều là chữ Thị này (chứ không phải như tưởng tượng phong phú của một số người, thị có nghĩa là chợ, thị có nghĩa là nhìn). Nếu giải thích ngheo nghĩa gốc, thì sẽ hiểu là người tên A của dòng họ Nguyễn, người tên B của dòng họ Hoàng.

Nhưng chưa tìm hiểu, tập tục “nam Văn nữ Thị” từ khi nào mà có?

HS

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.10

*Chương này có phần phân tích bình luận của Nam Hoài Cẩn rất hay, mở rộng ra nhiều kiến thức bổ ích. Ta mất hơn 2 tuần để cố gắng dịch cho hết. Mọi người cố đọc 🙂

Thiên 1: học nhi. Chương 1.10

子禽问于子贡曰:“夫子至于是邦也,必闻其政,求之与,抑与之与?”子贡曰:“夫子温、良、恭、俭、让以得之。夫子之求之也,其诸异乎人之求之与?”

Zǐ Qín wèn yú Zǐ Gòng yuē :“fū zǐ zhì yú shì bāng yě ,bì wén qí zhèng ,qiú zhī yǔ, yì yǔ zhī yǔ ?” Zǐ Gòng yuē :“fū zǐ wēn 、liáng 、gōng 、jiǎn 、ràng yǐ de zhī 。Fū zǐ zhī qiú zhī yě ,qí zhū yì hū rén zhī qiú zhī yǔ ?”

Tử Cầm (1) vấn ư Tử Cống (2) viết: “Phu tử (3) chí ư thị bang dã, tất văn kì chính, cầu chi dư, ức dữ chi dư?”
Tử Cống viết: “Phu tử ôn, lương, cung, kiệm, nhượng dĩ đắc chi. Phu tử chi cầu chi dã, kì chư (4) dị hồ nhân chi cầu chi dư?”

[Dịch câu – Dương Bá Tuấn]
Tử Cầm hỏi Tử Cống: “thầy đi đến nước nào, đều nghe đến chính sự nước đó, là thầy tự cầu, hay là người khác tự động nói với thầy?”
Tử Cống nói: “Thầy dựa vào ôn hòa, thiện lương, nghiêm túc, tiết kiệm, khiêm tốt mà có được. Phương pháp đạt được của thầy, với phương pháp của người khác, không giống nhau chăng?”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]
1. Tử Cầm: Trần Kháng tự Tử Cầm. Từ những việc ghi chép trong thiên Tử Trương, e là không phải học sinh của Khổng tử. “Trọng Ni đệ tử liệt truyện” trong Sử Ký cũng không ghi về người này. Nhưng chú thích của Trịnh Huyền trong Luận Ngữ và Đàn Cung đều nói đây là học sinh của Khổng Tử, không hiểu là có cơ sở nào không.
2. Tử Cống – 子贡 – Zǐ Gòng: học sinh Khổng tử, họ Đoan Mộc, tên Tứ, tự Tử Cống, nhỏ hơn Khổng tử 31 tuổi.
3. Phu tử – 夫子 – fū zǐ: đây là một cách tôn xưng thời cổ đại, những người từng làm chức đại phu đều có thể được tôn xưng như thế này. Khổng tử từng làm Tư Khâu nước Lỗ, do đó học sinh của ông đều gọi ông là phu tử, về sau cứ noi theo nếp này mà gọi. Trong trường hợp nhất định, dùng để đặc biệt chỉ Khổng tử.
4. Kì chư – 其诸: (lược các thể loại ví dụ), biểu thị ngữ khí không khẳng định.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Ôn, lương, cung, kiệm, nhượng: năm loại thái độ biểu lộ ở bên ngoài, có thể từ đó mà suy ra tu dưỡng đạo đức chứa đựng trong con người. Khổng tử vì có tu dưỡng đạo đức này, ánh sáng lan ra người khác, có thể không lời nào mà khiến người khác cảm thấy hòa lạc, do đó mà đạt được sự kính trọng tin tưởng của người khác, họ tự đem việc chính sự của họ ra hỏi […].

Tử Cống giỏi trong việc nói về thánh nhân, chương này đưa ra  ôn, lương, cung, kiệm, nhượng, tổng cộng năm từ, mà tấm lòng, khí chất, thái độ của Khổng tử, sống động như tận mắt chứng kiến. Người học cẩn thận nghiền ngẫm, có thể bất giác mà giảm đi tính hung ác kiêu căng ngạo mạn.  Lại biết trong nhân gian tự có đạo không cầu mà được. Điều này so với hành vi xảo ngôn lệnh sắc (i), thật cách xa nhau […].

Câu này diễn giải là,

Tử Cầm hỏi Tử Cống: Thầy của chúng ta mỗi lần đến nước nào, đều dự nghe chính sự nước đó, đây là do có lòng cầu được việc này, hay do người ta tự nguyện cho thầy? Tử Cống nói: Thầy của chúng ta là dùng trái tim ôn hòa, lương thiện, cung trang (cung kính nghiêm trang), tiết chế, khiêm nhượng mà đạt được. Cái cầu của thầy chúng ta, chắc phải luôn khác biệt so với phương pháp cầu của người khác.

(i) xem lại Thiên 1. Chương 1.3

[Luận ngữ biệt tài Nam Hoài Cẩn]

“Ôn” là tuyệt đối ôn hòa, dùng từ ngữ hiện đại nói thì là bình hòa. “Lương” là thiện lương, đạo đức. “Cung” là cung kính, cũng là nghiêm túc. “Kiệm” là không lãng phí. “Nhượng” là luôn khiêm nhượng hữu hảo, lý trí (rational – YL), đặt mình ở cuối cùng. Năm chữ này, cũng có thể gọi là năm điều kiện. Miêu tả phong độ, tính cách và tu dưỡng của Khổng tử, năm chữ này bao hàm rất nhiều ý nghĩa, cũng là những thứ mà Nho gia Trung Quốc dạy con người ta làm người, do đó cần bỏ công nghiên cứu kỹ về năm chữ này.

Nói đến ôn, lương, cung, kiệm, nhượng năm chữ này, thì dính dáng đến toàn thể căn nguyên của văn hóa Trung Quốc. Vì lý do này, chúng ta trước hết cần nghiên cứu một quyển sách – Lễ Ký. Lễ Ký là một kho tàng bảo vật của văn hóa Trung Quốc. Tư tưởng “đại đồng” của chúng ta, chính là một phần của thiên 礼运 – “Lễ Vận” trong Lễ Ký. Muốn hiểu cơ sở triết học của tư tưởng “đại đồng,” cần phải nghiên cứu rõ toàn bộ thiên “Lễ Vận” này. Do đó Lễ Ký là bảo khố của văn hóa chúng ta, cũng là nơi chứa tinh thần hiến pháp của hàng nghìn năm từ quá khứ đến nay, ở trong bao gồm cả học vấn hiện đại: chính trị, kinh tế, triết học, giáo dục, xã hội, khoa học, cái gì cũng có, thậm trí cả thuốc chữa bệnh, vệ sinh, bất kỳ quan niệm khoa học nào của người Trung Quốc xưa, đều có cả. Do đó nếu muốn hiểu căn nguyên của văn hóa Trung Quốc, không thể không nghiên cứu Lễ Ký. Không chỉ riêng Lễ Ký, nói một câu khác, muốn hiểu văn hóa Trung Quốc, hiểu tư tưởng Khổng Mạnh, hiểu căn nguyên  của Nghiêu, Thuấn, Vũ Thang, Văn, Võ, Chu công, Khổng tử đến nay, tất phải hiểu Ngũ Kinh của họ.

Nói đến Ngũ Kinh, trong Lễ Ký có một thiên 经解 –  “Kinh Giải,” là tổng kết của  Ngũ Kinh. Tại sao lại nói như vậy? Từ quan niệm hiện đại mà nói, thiên này chính là giới thiệu một cách đơn giản các điểm quan trọng của Ngũ Kinh: đối với mỗi quyển Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân Thu đều tổng kết lại trong một hai câu. Thiên “Kinh Giải” nói: “孔子曰:入其国,其教可知也。”- “Khổng tử viết: nhập kì quốc, kì giáo khả tri dã” – ý nghĩa là, đến một nơi nào, quan sát phong tục lề thói xã hội, thì có thể biết văn hóa giáo dục tư tưởng của nơi đó.

Thiên “Kinh Giải” viết tiếp: “其为人也,温柔敦厚,诗教也” – “Kì vi nhân dã, ôn nhu  đôn hậu, Thi giáo dã ” – Nếu làm người, [mà] ôn nhu đôn hậu,  [là do] Thi dạy vậy. Cái gọi là giáo dục “thi” – thơ, chính là để bồi dưỡng thành người ôn nhu đôn hậu. Nói đến chữ “ôn” trong ôn, lương, cung, kiệm, nhượng, cần chú ý đến tinh thần “thi giáo”- dạy thơ mà Khổng tử nói đến (hiện tại chưa phải lúc chúng ta đi sâu vào phương diện này, tạm thời chỉ nêu ra đây để tham khảo).  

“疏通知远,书教也” – “Sơ thông tri viễn, Thư giáo dã” – Thông đạt (sự lý), hiểu biết xa rộng, [do] Thư dạy vậy.    书经 – “Thư Kinh” còn gọi là 尚书 – “Thượng Thư,” là bộ lịch sử đầu tiên của Trung Quốc, cũng không chỉ nói về lịch sử, mà còn là bộ tư liệu đầu tiên về lịch sử văn hiến Trung Quốc. Hiện tại người phương Tây học lịch sử, (hiện tại phương pháp nghiên cứu lịch sử của chúng ta, đa phần là theo quan niệm của phương Tây), như đi vào ngõ hẹp của môn sử học vậy (i), chỉ chuyên môn nghiên cứu kiến thức lịch sử, có phương pháp lịch sử, chú thích lịch sử, ảnh hưởng của lịch sử đến mỗi một thời đại. Ở Trung Quốc trong quá khứ, không phân rõ nhà học thuật và nhà văn học, cũng không phân rõ nhà học thuật và và nhà triết học. Người Trung Quốc trong quá khứ đọc lịch sử với mục đích là để hiểu nhân sinh, hiểu chính trị, hiểu quá khứ mà biết đường dẫn dắt tương lai, do đó cần chúng ta “sơ thông tri viễn.” Người học lịch sử, cần thông đạt, thông hiểu thấu triệt nhân tình thế thái, hiểu biết xa rộng. Đạo lý “xa rộng” này, ta có thể một câu chuyện để thuyết minh: ta có một người bạn làm ngoại giao phải ra nước ngoài nhận nhiệm vụ, ta tặng bạn một đối liễn, chép lại một câu của cổ nhân:  “世事正须高著眼,宦情不厌少低头” – Thế sự chính tu cao trước nhãn,Hoạn tình bất yếm thiểu đê đầu. Ai cũng nên như thế này, người làm ngoại giao càng nên vận dụng tốt câu này. Đối với thế cục biến hóa, bước phát triển của tương lai, cần có nhãn quang (tầm nhìn),  cần nhìn xa trông rộng. “Hoạn tình” là tình thái (tình trạng, thái độ, thần thái) của người làm quan, cần có nhân cách, đặc biệt là người làm ngoại giao, đại diện cho  “quốc cách” (nhân cách của quốc gia), đại diện cho nhân cách của toàn dân, cần có cốt khí,  có thể đứng thẳng, ít cúi đầu, không hề sợ “thiểu đê đầu.” Không có khả năng miễn cưỡng thích ứng với người khác, thì làm thế nào mới làm được? Chính là hiểu được lịch sử, sơ thông tri viễn,  đây là tinh thần giáo dục của “Thư Kinh.”

“广博易良,乐教也。” – “Quảng bác dị lương, Nhạc giáo dã” – Quảng bác bình dị thiện lương, [do] Nhạc dạy vậy. Nhạc/lạc bao gồm âm nhạc, nghệ thuật, văn nghệ, thể thao các loại. Trong văn hóa truyền thống của chúng ta, tất cả các hạng mục này đều nằm trong “nhạc/lạc,” ý nghĩa quan trọng của cái gọi là bồi dưỡng giáo dục về nhạc/lạc, là dưỡng thành một người có tấm lòng, học thức “quảng bác” – học nhiều biết rộng;  “dị lương” là biến từ xấu thành tốt, bình dị thiện lương.

“絜静精微,易教也。”-  “Khiết tĩnh tinh vi, Dịch giáo dã” – Đạt đến độ thanh khiết, an tĩnh, tinh vi, [do] Dịch dạy vậy. Ý nghĩa của “Dịch Kinh” – Kinh Dịch, là kết tinh văn hóa của tổ tiên truyền lại. Tổ tiên của chúng ta trước khi sáng tạo ra văn học, dùng bát quái họa đồ ghi lại sự việc để biểu đạt ý tứ. Cái gì gọi là khiết tĩnh? Là tính thanh khiết của triết học tông giáo; “tinh vi” là liên quan đến khoa học. Tư tưởng của Kinh Dịch là từ khoa học đến triết học, dung hợp triết học, khoa học, tông giáo ba loại tinh thần. Do đó nói “khiết tĩnh tinh vi, Dịch giáo dã.”

Cho đến “恭俭庄敬,礼教也。” – “Cung kiệm trang kính, Lễ giáo dã” – [Hành xử] cung kính, tiết chế, khiêm tốn, nghiêm trang, [do] Lễ dạy vậy. Đây là về tu dưỡng nhân cách, rèn luyện nhân phẩm.

“属辞比事,《春秋》教也。” – “Chúc từ tỉ sự, Xuân Thu giáo dã”- [Biết] kết nối văn từ, phân loại sự việc, [do được] dạy Xuân Thu vậy.  “Xuân Thu” vừa do Khổng Tử làm ra, vừa là lịch sử. “Chúc từ tỉ sự” là gì? Xem hiểu “Xuân Thu” sách lịch sử này, có thể cung cấp cho chúng ta các loại thông tin về ngoại giao, chính trị, cho đến nhân sinh để tham khảo. Do trong nhân thế, ngọn nguồn, nhân quả của rất nhiều sự việc đều không có gì khác biệt, mới thường có người nói lịch sự là tái diễn. Đây là một vấn đề triết học, lịch sử có tái diễn không? Không có khả năng. Thật sự là không có khả năng sao? Có lẽ có khả năng, vì người xưa là người, chúng ta cũng là người, người Trung Quốc là người, người ngoại quốc vẫn là người, giữa con người với con người, hình thức trạng thái bất đồng, nhưng nguyên tắc lại chẳng thay đổi đến đâu cả, do đó nói lịch sử là lặp lại. Nhưng bất kể lịch sử tái diễn hay không tái diễn, đặc biệt khi văn hóa Trung Quốc có năm ngàn năm lịch sử, đối với việc làm người, xử thế, chỗ nào cũng có kinh nghiệm của người trước. Mặc dù hình thái xã hội thời cổ đại với xã hội của chúng ta không giống nhau, nguyên tắc lại như nhau, do đó đọc Xuân Thu, “chúc từ tỉ sự” (ii), liền có tri thức uyên bác, hiểu biết về từng sự việc đã xảy ra, người xưa cũng đã có sự việc như thế, sự việc này là thiện hay ác, phương pháp xử lý như thế nào đều biết, cái này gọi là “tỉ sự,” là do “Xuân Thu giáo dã.”

[…]

Ở dưới còn có: “故《诗》之失,愚” – “Cố Thi chi thất, ngu” – Thiếu sót của Thi là ngu. Người mãi mãi làm văn, trở thành con mọt sách đọc sách đến hủ lậu cả người, rất đáng ghét, đây chính là ngu ngốc. Loại học vấn nào cũng thế, có hai mặt phải trái, Ngũ Kinh cũng như vậy.

Tiếp theo ghi “《书》之失,诬” – “Thư chi thất, vu” – Thiếu sót của Thư, là ngoa, không thật [vu trong vu cáo, vu khống – YL]. Do đó người đọc lịch sử cần chú ý, đặc biệt là đọc lịch sử Trung Quốc càng cần chú ý, do lịch sử triều Tống là người triều Nguyên biên soạn, lịch sử triều Nguyên là người triều Minh biên soạn, lịch sử triều Minh là người triều Thanh biên soạn, sự tình cách lâu như vậy, mà ý kiến chủ quan, thành kiến của mỗi người lại không giống nhau, do đó những tên người, địa danh, thời gian được ghi trong lịch sử đều là thật, nhưng có lúc sự thật lại không giống thế, hoặc không thấy được hoàn chỉnh. Để bổ sung vào chỗ khiếm khuyết này, vẫn cần đọc sách vở khác của lịch sử. Sách vở khác là đọc cái gì? Xem tấu chương của các triều đại, chúng giống như xã luận báo chí của thời nay, là báo cáo kiến nghị của các đại thần đương thời. Tại sao cần xem báo cáo kiến nghị ? Có thể thấy vấn đề nêu ra trong đó, nếu không có vấn đề thì đã không cần kiến nghị. Vương Kinh Công Vương An Thạch triều Tống từng nói lười đọc “Xuân Thu,” cho rằng đây là một quyển sách cũ nát, đây cũng là quan niệm “thư chi thất, vu.” Điều này những người nghiên cứu và đọc lịch sử cần chú ý.

“《乐》之失,奢” – “Nhạc chi thất, xa” – Thiếu sót của Nhạc, là xa xỉ. Chỉ chú ý đến nghệ thuật các loại, sẽ dễ dàng làm cho phong tục lề thói của xã hội biến thành quá xa xỉ, phung phí.

“《易》之失,贼” – “Dịch chi thất, tặc” – Thiếu sót của Dịch, là hại [tặc trong đạo tặc, nghịch tặc, phản tặc – YL]. Một người nếu trên thông thiên văn, dưới thông địa lý, tay tính bát quái, chưa cần bói đã biết trước việc, người khác hãy còn chưa làm gì, anh ta biết hết, như thế có tốt không? Rất xấu! “察见渊鱼者不祥” – Sát kiến uyên ngư giả bất tường – tra rõ đến tận chỗ có thể nhìn thấy cá ở vùng nước sâu là chẳng tốt lành gì  (iii). Nếu không có cơ bản tu dưỡng đạo đức, người này sẽ “quỷ đầu quỷ não” – hành vi cử chỉ không quang minh chính đại (iv), lắm chiêu lắm trò. Do đó học Dịch có thể “trên thông thiên văn, dưới thông địa lý.” Tất nhiên rất quan trọng, nhưng “làm người” càng quan trọng, nếu làm người mà làm không tốt,  người xấu mà có tri thức càng nhiều, bản lĩnh làm việc xấu càng lớn, vì thế mà “dịch chi thất, tặc” vậy.

“《礼》之失,烦” – “Lễ chi thất, phiền”   – Thiếu sót của Lễ, là phiền [phiền trong phiền hà, có nghĩa là rắc rối, lôi thôi, rườm rà, hoặc gây phiền – YL]. Lễ rất quan trọng, chú trọng lễ quá mức lại gây phiền hà đến chết, giống như nói chúng ta toàn theo lý luận y học, hay tay không dám sờ vào bánh mì. Toàn theo lời của luật sư, đến đường cũng không dám đi, cử động liền phạm pháp. Nếu phải thực hiện lễ nghi, thì quá phiền. Do đó “lễ” cần vừa phải, thích đáng mới có lợi.

“《春秋》之失,乱” – “Xuân Thu chi thất, loạn” – Thiếu sót của Xuân Thu, là loạn. Hiểu được ý nghĩa của lịch sử Xuân Thu, tất nhiên là tốt, nhưng có lúc học lịch sử lại có vấn đề, giống như một người không nghiên cứu quân sự triết học, tất người này sẽ thành một người dân hoàn hảo không có vấn đề gì, đợi đến lúc nghiên cứu xong quân sự triết học, anh ta lại dễ gây loạn. Người không biết võ thuật, đến cuối cùng có thể chết già trên giường (v); người biết võ thuật, ngược lại chẳng có cái chết tốt đẹp, là cùng một đạo lý như vậy.

“Kinh Giải” đối với Ngũ Kinh,  mặt tốt mặt xấu đều nói. Còn một đoạn ở phía dưới, là nói cho chúng ta, tu dưỡng của Ngũ Kinh, cần đạt đến ôn nhu đôn hậu mà không ngu xuẩn. Người được như thế, mới có khả năng yêu thương bất kỳ người nào, yêu thương bất kỳ bạn bè nào. Thứ gọi là đôn hậu, đối với khuyết điểm của người khác, dễ dàng tha thứ bao dung, đối với sai trái của người khác, có thể từ từ cảm hóa, nhưng không phải là một con mọt sách viển vông, thiếu thực tế,  như thế mới là “深于诗者也” – “thâm ư thi giả dã” – đạt đến trình độ thâm sâu của người học thơ,  mới tính là giáo dục của Thi vậy. Tiếp theo Thư, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân Thu, đều như vậy (vi). Bây giờ chúng ta quay lại với Luận ngữ.

Tử Cống nói đến sự ôn, lương, cung, kiệm, nhương của Khổng Tử, là nói đến tu dưỡng của Khổng Tử, là tập hợp các thành tựu lớn của văn hóa truyền thống Trung Quốc cổ đại. Khổng tử có tu dưỡng cao thâm như thế này, có lẽ mục đích của Khổng tử, chính là “thục thế chủ nghĩa” – chủ nghĩa cải thiện xã hội của nước ta thời cổ đại (vii), Khổng tử luôn có tư tưởng cứu thế cứu dân, cũng là đại nghiệp thiên thu  của Khổng Tử mà chúng ta từng đề cập. Đại nghiệp  thiên thu chính là học vấn tư tưởng, […] sự nghiệp thiên thu của Khổng tử là tập hợp thành tựu văn hóa, tư tưởng, tinh thần của Trung Quốc, nhận thức rõ về nhiệm vụ của mình, hy sinh vinh hoa phú quý, mới có thể làm được. Do đó Tử Cống nói với Tử Cầm, hỏi thầy rốt cuộc tại sao lại như vậy? Hãy xem xem thầy là con người như thế này, nếu như nhất định phải nói rằng thầy có dã tâm, có mưu cầu đối với chính trị, chỉ e thứ thầy mưu cầu, cũng không phải là thứ mà người bình thường có thể hiểu được vậy.

(i) Nguyên văn: Toàn ngưu giác tiêm – 钻牛角尖 – zuān niú jiǎo jiān (khoan, dùi, đục đến mũi sừng trâu, đại loại là có một câu chuyện, một con chuột lọt vào sừng trâu, muốn đào về phía mũi sừng trâu, được khuyên là càng đào về phía đó càng hẹp, đi sai đường rồi, nhưng chuột không nghe, vẫn tiếp tục và chết trong đó. Câu này để chỉ phí lực nghiên cứu một vấn đề không đáng để nghiên cứu, hoặc không có cách để giải quyết, hoặc cũng để chỉ tư tưởng hoặc phương pháp còn hẹp).

(ii) Chúc từ tỉ sự – 属辞比事 – zhǔ cí bǐ shì: Câu trong Lễ Ký, nguyên là để chỉ việc liên kết, kết nối văn từ, sắp xếp sự việc, ghi chép lịch sử. Sau để chỉ việc làm văn ghi chép nói chung.

(iii) Sát kiến uyên ngư giả bất tường – “察见渊鱼者不祥” – chá jiàn yuān yú zhe bù xiáng: sát kiến uyên ngư có nghĩa là có thể tra rõ đến tận chỗ nhìn thấy (có bao nhiêu con) cá ở vùng nước sâu. Dùng để ví với việc có thể truy xét biết được việc riêng mà người khác muốn che dấu, hay không muốn công khai, ở đây mang ý nghĩa chê trách. Cả câu có nghĩa: sát kiến uyên ngư là không tốt, bất thiện, hoặc có thể là không tốt lành/ cát lợi gì. Câu của Liệt Tử.

(iv) Quỷ đầu quỷ não – 鬼头鬼脑 – guǐ tóu guǐ nǎo (đầu quỷ, não quỷ; hình dung hành vi cử chỉ dối trá bí hiểm, không quang minh chính đại. Câu trong sách Nho lâm Ngoại sử của Ngô Kính tử thời Thanh).

(v) Nguyên văn: Thọ chung chính tẩm – 寿终正寝 – shòu zhōng zhèng qǐn (thọ chung: sống rất thọ mới mất; chính tẩm: phòng ở chính. Nguyên chỉ già mất ở trong nhà, hiện nay dùng để chỉ việc sự vật đã diệt vong. Xuất xứ từ sách Phong Thần diễn nghĩa của Hứa Trọng Lâm thời Minh).

(vi) Nguyên văn thiên Kinh Giải trong Lễ Ký như sau (ở trên đều có giải nghĩa hết rồi, nếu đọc kỹ ở trên, tự khắc hiểu hết đoạn dưới này, vì thế cho nên không chép lại giải nghĩa ở đây):

孔子曰:“入其国,其教可知也。其为人也温柔敦厚,诗教也;疏通知远,书教也;广博易良,乐教也;絜静精微,易教也;恭俭庄敬,礼教也;属辞比事,春秋教也。故诗之失愚,书之失诬,乐之失奢,易之失贼,礼之失烦,春秋之失乱。其为人也温柔敦厚而不愚,则深于诗者也;疏通知远而不诬,则深于书者也;广博易良而不奢,则深于乐者也;絜静精微而不贼,则深于易者也;恭俭庄敬而不烦,则深于礼者也;属辞比事而不乱,则深于春秋者也。”

Khổng tử viết: nhập kì quốc, kì giáo khả tri dã. Kì vi nhân dã, ôn nhu đôn hậu, Thi giáo dã; sơ thông tri viễn, Thư giáo dã; quảng bác dị lương, Nhạc giáo dã; Khiết tĩnh tinh vi, Dịch giáo dã; Cung kiệm trang kính, Lễ giáo dã; Chúc từ tỉ sự, Xuân Thu giáo dã. Cố Thi chi thất, ngu; Thư chi thất, vu; Nhạc chi thất, xa; Dịch chi thất, tặc; Lễ chi thất, phiền; Xuân thu chi thất, loạn. Kì vi nhân dã ôn nhu đôn hậu nhi bất ngu, tắc thâm ư thi giả dã; sơ thông tri viễn nhi bất vu, tắc thâm ư thư giả dã; quảng bác dị lương nhi bất xa, tắc thâm ư nhạc giả dã; khiết tĩnh tinh vi nhi bất tặc, tắc thâm ư dịch giả xã; cung kiệm trang kính nhi bất phiền, tắc thâm ư lễ giả dã; chúc từ tỉ sự nhi bất loạn, tắc thâm ư xuân thu giả dã.

(vii) Thục thế chủ nghĩa  – 淑世主义 : chữ thục có nghĩa là trong trẻo, thanh khiết; khi dùng cho phụ nữ thì có nghĩa thiện, đẹp (như trong thục đức, thục nữ); tiếng Anh là good, pure, virtuous, charming.

Hàn Sinh, hôm nay ta là Hàn Sinh.

Biệt lâm hạ hoa – Nguyễn Thông

Trong khi chờ đợi công trình “ngâm thơ” của nàng Dật (nàng này ngâm thơ ngang ngâm mơ, thời gian tính bằng đơn vị năm), thưởng thức 1 bài thất ngôn tứ tyệt của tác giả Nguyễn Thông thời Nguyễn.

別林下花

每到叢邊輒醉歸,
未嫌幽獨惜芳菲。
林間會友相尋日,
莫逐東風一夜飛。

 Giản thể

每到丛边辄醉归,
未嫌幽独惜 芳菲。
林间会友相寻日,
莫逐东风一夜飞。

Biệt lâm hạ hoa

Mỗi đáo tùng biên triếp tuý quy,
Vị hiềm u độc tích phương phi.
Lâm gian hội hữu tương tầm nhật,
Mạc trục đông phong nhất dạ phi.

Giải nghĩa

Tạm biệt hoa rừng

Mỗi lần đến nơi tụ họp, lần nào cũng say mà về

Không ngại nơi u độc, chỉ quý trọng vẻ tốt tươi (của hoa)

Cùng tìm ngày (hẹn) gặp lại bạn giữa rừng này

Đừng theo gió đông mà bay đi trong một đêm.

Vài dòng về tác giá Nguyễn Thông: thực ra ta chưa đọc tác phẩm nào của tác giả này để tổng kết, khái quát và bình luận. Ta chỉ đào được bài này trên thư viện. Đọc được lý lịch trích ngang và một bài phân tích trên mạng…

Đây là tiểu sử, con người và sự nghiệp trên wiki: https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Th%C3%B4ng

Đây là một bài bình luận, tác giả, tác phẩm và nhân cách: http://newvietart.com/index4.205.html

Tổng kết hai bài này là một đoạn như sau:

Nhìn chung thơ văn của Nguyễn Thông là tấm lòng ưu ái đối với những người xấu số, sự quan tâm đến nghề làm ruộng và gắn bó với đời sống của nông dân. Ông ca ngợi và xót thương những người hy sinh trong cuộc chiến đấu chống Pháp. Nổi bật và bao trùm là tấm lòng yêu mến quê hương mà ông phải lìa bỏ vì không chịu sống trên đất kẻ thù đã chiếm đóng…

Nhờ ông sinh trưởng trong một gia đình nhà nho nghèo, lại sớm sống gần gũi những người dân cần cù, lam lũ, thuần phác; nhờ ông có năng khiếu thơ văn, có vốn học thức, được đi nhiều và nhạy cảm trước những vấn đề chính trị, xã hội… Nên hầu hết trước tác của ông đều thiên về tả thực, giàu chất trữ tình, mang tính tố cáo cao. Do vậy, người đọc dễ dàng bắt gặp cái đẹp của những ý tứ, ngôn từ tinh tế, đậm đà tình cảm cao cả, không sa đà viễn vông hay sáo rổng …Tuy đôi lúc trong thơ văn ông, cũng không tránh khỏi nỗi buồn hiu hắt của một nhà nho cảm thấy bất lực trước vận mệnh tồn vong của non sông, của dân tộc mà ông yêu mến.

Bài ta chọn, không tả thực, không mang tính tố cáo, không đậm đà tình cảm cao cả (trừ phi bài này dùng ám ngữ, lâm hạ hoa là 1 hội hoạt động cách mạng chống Pháp chống thực dân hehe). Tự dưng thấy hoang mang, Nguyễn Thông viết bài này và Nguyễn Thống ở 2 link trên có phải là một???

Cái blog này có vẻ luôn đi ngược thời đại, thích những thứ sa đà viển vông sáo rỗng.

Hoa Sinh

 

 

 

Niche diplomacy: a key for smaller states to become visible? The example of Norway and peacemaking diplomacy.

Để tham khão 😛

Public and Cultural Diplomacy 1

Much of the literature on public diplomacy focus on major powers and states with great economic and military resources – one need to only have a glance at the reports available on USC Center on Public Diplomacy to see the overwhelming material about the United States (USC Center on Public Diplomacy 2012). To look at and analyze the way that smaller states conduct public diplomacy is thus both interesting and crucial in order to see if there are any immediate differences.

Due to smaller states’ size, they often lack the visibility and recognition by foreign public. The information people get on smaller states may be limited in both quantity and quality and easily be based upon prejudices. As such, these states need to struggle to gain international attention in the first place. Whilst major states already have an audience and a large supply of images and notions that foreign public…

View original post 968 more words

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: