Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.7

子游(1)问孝,子曰:“今之孝者,是谓能养。至于犬马,皆能有养(2),不敬,何以别乎?”

Zǐ Yóu wèn xiào, Zǐ yuē:  “Jīn zhī xiào zhě, shì wèi néng yang. Zhì yú quǎn mǎ, jiē néng yǒu yang, bù jìng, hé yǐ biè hū?”

Tử Du (1) vấn hiếu, Tử viết: “Kim chi hiếu giả, thị vị năng dưỡng. Chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng (2), bất kính, hà dĩ biệt hồ?”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. Tử Du: họ Ngôn tên Yển, tự Tử Du, người Ngô, kém Khổng tử 45 tuổi.
  2. 养, đọc là yàng.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Tử Du hỏi hiếu là gì, Khổng tử nói: “Như hiện nay thứ gọi là hiếu, chỉ là nói có thể nuôi dưỡng cha mẹ đầy đủ là đủ rồi. Nhưng, đến chó ngựa cũng có thể nuôi dưỡng đầy đủ. Nếu không có lòng hiếu kính cha mẹ, như vậy nuôi dưỡng cha mẹ với nuôi dưỡng chó ngựa có gì khác biệt?”

[Bình giải – Chưa rõ là ai]

Thiên này vẫn là bàn luận về vấn đề hiếu. Đối với câu “chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng,” cho đến nay cũng có vài cách giải thích không giống nhau. Có giải thích là chó giữ cửa, ngựa kéo xe các loại con vật chở đồ, cũng có thể hầu hạ chăm sóc con người. Giải thích thứ hai là chó ngựa cũng có thể được con người nuôi dưỡng. Ở đây dùng cách giải thích thứ hai, vì so ra thỏa đáng hơn.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Tử Du: Tên Ngôn Yển tự Tử Du, đệ tử lúc vãn niên của Khổng tử.

是谓能养 – thị vị năng dưỡng: Khổng tử nói thế tục đều cho rằng có thể (nuôi) dưỡng là hiếu.

犬马皆能有养 – câu này có hai cách giải thích: chó giữ nhà, ngựa thay người lao động, đều có khả năng săn sóc phục dịch hầu hạ con người, là khuyển mã cũng có thể phụng dưỡng con người. Cách giải thích khác: Mạnh tử từng nói: “食而弗爱,豕交之也,爱而不敬,兽蓄之也” – “thực nhi phất ái, thỉ giao chi dã, ái nhi bất kính, thú súc chi dã” – nuôi mà không yêu, giống như nuôi heo vậy, yêu mà không kính, như chăm vật nuôi vậy. Là chó, ngựa sẽ được người nuôi dưỡng, có thể thấy chỉ nuôi dưỡng ăn ở vật chất chưa đủ được coi là hiếu. Giải thích đầu dùng từ “dưỡng” kiêm hai nghĩa là ẩm thực (ăn uống), phục thị (hầu hạ), e là đã giải thích không đúng. Chó ngựa do người sai khiến sử dụng, không tự phục vụ hầu hạ con người. Nếu thật là chó ngựa có thể nuôi dưỡng người, có thể trực tiếp viết “khuyển mã giai năng dưỡng”- chó ngựa đều có thể nuôi dưỡng là được rồi, cần gì phải thêm một chữ “hữu” nữa. “Giai năng hữu dưỡng,” chính là đều có thể được con người nuôi dưỡng. Hoặc nghi việc đem quan hệ thân thích so sánh với khuyển mã là không thỏa đáng, thì ở đây chính là có thể thấy rõ mối quan hệ đó không thể đạt được mức hiếu. Mạnh tử đã nói rõ súc vật vật nuôi, giải thích của Mạnh tử về “Luận ngữ” trực tiếp đáng tin. Nay theo cách giải thích thứ hai.

不敬何以別乎 – bất kính hà dĩ biệt hồ: nếu như chỉ biết dưỡng mà không tôn kính, thì không khác gì nuôi dưỡng chó ngựa. Sao có thể nói đến hiếu?

Tử Du hỏi: “Đạo hiếu là như thế nào?.” Tiên sinh nói: “Hiện nay mọi người cho rằng chỉ cần có thể nuôi dưỡng cha mẹ đã tính là hiếu rồi. Nhưng mà chó ngựa cũng có thể được người nuôi dưỡng như vậy. Không có một lòng tôn kính đối với cha mẹ, thì phân biệt ở chỗ nào!.”

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Tử Du là đệ tử của Khổng tử, họ Ngôn tên Yển, Tử Du là tên chữ, kém Khổng tử 45 tuổi. Tử Du hỏi về hiếu, Khổng tử giải thích rất rõ ràng, nói hiện nay mọi người không hiểu về hiếu, cho rằng chỉ cần nuôi dưỡng cha mẹ đầy đủ, có cơm cho họ ăn, giống như ngày nay, mỗi tháng gửi năm chục một trăm đô la Mỹ cho cha mẹ dùng, thì là hiếu rồi. Cũng còn rất nhiều người trẻ tuổi đến năm mươi nguyên cũng không gửi, gửi được đến nơi, lão bà lão ông tuy ở trong nhà cô cô độc độc, “流泪眼观流泪眼,断肠人对断肠人” – lưu lệ nhãn quan lưu lệ nhãn, đoạn trường nhân đối đoạn trường nhân – lệ rơi nhìn lệ rơi, đứt ruột cùng đứt ruột, nhưng khi nhìn thấy năm mươi nguyên liền hoan hoan hỉ hỉ. Do đó người hiện đại, cho rằng nuôi bố mẹ thì tính là hiếu rồi, nhưng “khuyển mã giai năng hữu dưỡng,” chăm nuôi một con chó, một con ngựa cũng cần cho chúng ăn, có người nuôi chó còn cần mua gan lợn cho chó ăn, cho nên loại tâm tình chỉ là có dưỡng mà không có yêu, thì không phải là hiếu chân chính. Hiếu không phải là hình thức, cũng không giống như nuôi chó nuôi mèo.

Ở đây chúng ta có thể thấy được, Khổng tử giảng đạo hiếu cho học sinh so với trả lời người trong chính trường hoàn toàn khác nhau, cho nên chúng ta chứng minh được là hai đoạn hội thoại trước của Khổng tử là có ẩn ý, là dùng ẩn ngữ vậy.

Hàn

Advertisements

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.6

Chương này, ba tiên sinh chọn ba cách giải thích khác nhau, lập luận nào cũng có lý cả. Có lẽ tổng hợp ý của cả ba, mới đủ chăng?

Đoạn giải thích ý nghĩa của chương này trong mối liên kết chặt chẽ với chương trên của Nam Hoài Cẩn rất hay, có thể nói là hình thành nên một cách giải thích thứ tư về đạo hiếu: đối với người làm quan, hiếu không chỉ liên quan đến cha mẹ mình, mà còn là đại hiếu với người thiên hạ, không vi phạm nhân tâm. Khen như vậy, là chấp nhận lập luận cho rằng hai chương này, hoặc là một chương liền mạch, hay tách ra thành hai chương riêng biệt, cũng đều là suy luận của người đời sau cả, không chắc cách nào là đúng, và đúng với ý tưởng nguyên gốc của những người chép nên Luận ngữ.

Ngoài ra, không hiểu Nam Hoài Cẩn có tư thù gì với Khang Hy, mà phải gọi đi gọi lại vị hoàng đế lịch sử này là Khang Ma tử? Căn bản, Khang Hy mặt có rỗ hay không không thấy liên quan gì đến nội dung bình luận ở đây.

Cuối cùng, đọc đến đoạn “…quyền mưu kiểu người Mãn, sách học là Tam Quốc diễn nghĩa, không phải Tam Quốc Chí”, thấy giật cả mình 🙂 Người Việt ta tin Tam Quốc diễn nghĩa sái cổ, cứ cho là thật, mãi đến gần đây mới có người bỏ công ra dịch Tam Quốc chí, mới thấy nền học thuật trì trệ cỡ nào…

 

孟武伯(1)问孝,子曰:“父母唯其疾之忧(2)。”

Mèng Wǔ Bó wèn xiào, zǐ yuē: “fùmǔ wéi qí jí zhī yōu”

Mạnh Võ Bá (1) vấn hiếu, Tử viết: “Phụ mẫu duy kì tật chi ưu (2).”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. Mạnh Võ Bá: Con trai của Mạnh Ý tử, tên Trệ. Võ là thụy hiệu.
  2. 父母唯其疾之忧- Phụ mẫu duy kì tật chi ưu: Kì, đại từ, chỉ cha mẹ. Tật: bệnh.

[Diễn dịch văn – Dương Bá Tuấn]

Mạnh Võ Bá thỉnh giáo Khổng tử về đạo hiếu. Khổng tử nói: “Đối với cha mẹ, cần đặc biệt lo lắng về bệnh tật của họ. (Làm được như thế có thể tính là tận hiếu vậy).”

[Bình giải – Chưa rõ là ai]

Chương này là đáp án của Khổng tử về hiếu cho con trai của Mạnh Ý tử. Đối với lời của Khổng tử rằng “phụ mẫu duy kì tật chi ưu,” cho đến nay có ba cách giải thích: 1) cha mẹ yêu con cái của mình, cái gì cũng có thể làm(i), duy chỉ sợ con cái có bệnh tật, con cái có thể thấu hiểu loại tâm tình này của cha mẹ, trong sinh hoạt ngày thường chỗ nào cũng cẩn thận thận trọng, đây chính là hiếu. 2) Làm con cái, chỉ muốn cha mẹ lo lắng lúc mình có bệnh, nhưng không cần phải lo lắng trong các phương diện khác, thể hiện rõ cái tình của cha mẹ với con cái. 3) Con cái chỉ cần lo lắng về bệnh tật của cha mẹ, còn không cần phải lo lắng về các phương diện khác. Ở đây chọn dùng cách giải thích thứ ba.

(i) Nguyên văn: Vô sở bất chí -无所不至 – wú suǒ bù zhì: không có gì là không đi làm, cái gì cũng có thể làm. Cũng là câu trong Luận ngữ

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

唯其疾之忧- duy kì tật chi ưu: câu này có ba cách giải thích. Thứ nhất, cha mẹ yêu con, không gì không làm (cho con), do vậy thường lo lắng con mình có thể bị bệnh. Con cái có thể đặt mình vào hiểu tấm lòng này, mà trong sinh hoạt hàng ngày thêm phần cẩn thận, tức là hiếu. Hoặc có cách giải thích, con cái thường cẩn thận giữ thân, khiến cho cha mẹ chỉ phải lo lắng lúc bị bệnh, ý là không có gì khác [khiến cha mẹ] phải lo lắng cả. Bệnh của con người, thường không phải tự bản thân có thể khiến cho không có được. Cách giải thích thứ ba, con cái thành tâm hiếu với cha mẹ, có thể dụng tâm quá mức, ngược lại khiến cha mẹ bất an, làm con, chỉ nên lo lắng về bệnh tật của cha mẹ, còn những thứ khác không nên quan tâm quá phận. Mạnh tử nói “phụ tử chi gian bất trách thiện”-giữa cha con không lấy việc tốt ra để làm tiêu chí trách phạt (i),  cũng là ý này. Cả ba cách giải thích đều hợp lý, cách giải thích thứ nhất đối với nguyên văn Luận ngữ có phần vòng vèo hơn, hơn nữa chữ “duy” ngữ khí không sát lắm, thuyết thứ ba là lo lắng duy lúc cha mẹ có bệnh hợp lý hơn. Ở đây theo cách giải thích thứ hai.

Mạnh Võ Bá hỏi: “Đạo hiếu là thế nào?.” Tiên sinh nói: “Để cha mẹ chỉ phải lo lắng lúc ta bị bệnh.”

(i) Nguyên văn: 父子之间不责善 – phụ tử chi gian bất trách thiện. Người sau diễn giải giải thích dài dòng ra, đại loại là cha dạy con làm việc tốt tránh việc xấu, nhưng con chưa chắc có thể làm được ngay, khiến cho kỳ vọng của cha bị tiêu tan, tiếp đó là phẫn nộ, kết quả lại là gây tổn thương cho cảm tình đôi bên….vân vân. Tóm lại là phải suy nghĩ kỹ về cách giáo dục.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Mạnh Võ Bá là người như thế nào? Chính là con trai của người ở trên nhắc đến là Mạnh Ý tử, Mạnh Võ Bá là “thế gia công tử.” Ở đây liên quan đến thế nào là “thế gia,” chế độ cổ đại với hiện đại khác nhau, đặc biệt là thời Xuân Thu, với Ấn Độ, châu Âu cổ đại cũng không giống. Cái gọi là “thế gia” chính là làm quan, đời con cháu đều có chức quan này, tuy nhiên thường là con trưởng kế thừa vị trí quan, chính là thứ gọi là thời đại phong kiến. Tuy nhiên không giống với phong kiến châu Âu, vị trí này không phải là vĩnh viễn, nhà nào không tốt, có thể bị diệt trừ. Ở Trung Quốc loại gia đình được truyền chức xuống này gọi là “thế gia,” con trưởng có quyền kế thừa, con thứ hai cho đến thứ ba, bốn, năm đều ở sang một bên. Mạnh Võ Bá là con trai của Mạnh Ý tử, là thế gia công tử chính thống. Phụ thân vừa hỏi về đạo hiếu (đương nhiên không phải là việc trong cùng một ngày, nhưng người biên tập sách – các học sinh của Khổng tử, đã đem việc này đặt vào một chỗ), con trai Mạnh Võ Bá cũng đến hỏi về hiếu, đáp án của Khổng tử, với đáp án giành cho phụ thân của ông là khác nhau.

Khổng tử nói: “Phụ mẫu duy kì tật chi ưu.” Câu này là nói cha mẹ thấy con cái sinh bệnh, loại lo lắng đau buồn này, sâu đến cỡ nào, con cái cần thấu hiểu loại tâm tình này.

Câu trả lời của Khổng tử hay vô cùng! Câu này, chúng ta cần nói thế này, vấn đề này chỉ có người làm cha mẹ mới có thể chân chính hiểu được [bỏ mấy câu dài dòng và không quan trọng lắm]. Khổng tử đối với Mạnh Võ Bá là nói, đối với cha mẹ cần bỏ ra tâm sức như đối với con mình lúc bị bệnh, quan tâm đến trình độ như thế, mới là đạo hiếu.

Dĩ hiếu trị thiên hạ

Hai đoạn hội thoại này là một chủ đề lớn, bây giờ chúng ta quay ngược lại bàn về điểm thứ nhất. Chúng ta biết văn hóa Trung Quốc rất hay nói đến đạo hiếu, Nho gia càng hay nói về đạo hiếu. Đem Tứ thư Ngũ kinh biên tập lại, thêm “Hiếu kinh,” “Nhĩ nhã” các loại, tập hợp thành một hệ liệt gọi là Thập tam kinh. “Hiếu kinh” là do học sinh của Khổng tử là Tăng tử ghi chép, chúng ta nếu muốn nghiên cứu đạo hiếu, phải xem tư tưởng của Khổng tử đã được hệ thống hóa thành bộ Hiếu kinh này, trong Hiếu kinh nói thế nào mới là hiếu? Không chỉ là đối với cha mẹ cần hiếu, mà còn cần mở rộng ra(i) đại hiếu với thiên hạ, yêu người trong thiên hạ, gọi là đại hiếu.  Người vi chính đem tấm lòng hiếu tử để vi chính, cũng chính là như chúng ta thường nói người làm việc công vụ là công bộc của nhân dân, ở đây là cùng một đạo lý, vì vậy về sau phát triển ra, sau thời Đường, Tống có lập luận rằng “Cầu trung thần tất ư hiếu tử chi môn”- tìm trung thần tất phải tìm từ nhà có con có hiếu. Một người có thể thật sự yêu cha mẹ, yêu gia đình, yêu xã hội, cũng nhất định là trung thần. Do trung thần là phát huy từ một loại tình cảm thương yêu. Giả sử không có trái tim yêu thương cơ bản, bạn nói anh ta có thể tận trung đối với quốc gia dân tộc được không? Ở đây lại có vấn đề. Liên quan đến chữ “trung” có một điểm, là như cổ nhân nói: “Khảng khái quyên khu dị, tòng dung tựu nghĩa nan”(ii). Khảng khái xả thân bỏ mạng so ra dễ dàng hơn, giống như lưu manh đánh nhau, khi đánh rồi, không phải ngươi chết thì là ta chết, nóng lên, thật sự dũng cảm, coi chết như về; giả dụ để cho họ năm phút suy nghĩ xem có nên chết hay không, thì phải cân nhắc, “tòng dung” – chầm chậm, xem họ có thật sự nguyện ý chết không, lúc này rất khó nói. Do đó nói trung thần tất đến từ nhà có con có hiếu, cần người có cảm tình chân thực, nhận thức chân thực, mới có thể đủ để tận trung.

Vì vậy, câu Khổng tử trả lời Mạnh Ý tử không giống (với trả lời Mạnh Võ Bá), Mạnh Ý tử là người theo chính trị, Khổng tử tương đối tôn kính ông ta, câu trả lời so ra tương đối hàm súc (ý tứ kín đáo), chỉ nói “không được vi phạm làm trái,” không được vi phạm cái gì? Ý là không vi phạm làm trái người trong thiên hạ, cần đại hiếu đối với thiên hạ, là đạo lý như vậy. Khổng tử biết câu trả lời như thế này Mạnh Ý tử không nhất định hiểu, kiểu nói như thế này thổ ngữ gọi là歇后语- “hiết hậu ngữ” – lời nói mà phần thứ hai được nói ra sau một lúc ngắt quãng, hoặc hoàn toàn không được nói ra, nhưng mang ý nghĩa của lời được nhắc ở phần một, “ẩn ngữ” […]. Nói suốt nửa ngày, ý nghĩa phần phía sau cần người nghe tự đoán. Tại sao Khổng tử lại trả lời theo kiểu này? Ý nghĩa là nói, anh Mạnh Ý tử thân phận đặc biệt, một khi đã là người theo chính trị, đối với người trong thiên hạ cần phụ trách công đạo, coi người trong thiên hạ như cha mẹ, như vậy mới thật là hiếu, đây là phong độ của bậc đại thần. Vì vậy “vô vi”-không vi phạm, chính là không thể vi phạm nhân tâm.

Khổng tử cũng biết Mạnh Ý tử chưa chắc đã hiểu, do đó đoạn thầy trò đối thoại với Phàn Trì là dụng ý “đánh nha đầu mắng tiểu thư,” biết Phàn Trì cũng nhất định không hiểu, không hiểu thì mặc họ không hiểu, từ từ sẽ truyền giảng, làm công việc giáo dục gián tiếp, do đó đợi lúc học sinh đánh xe mà có đoạn đối thoại này. Loại giáo dục gián tiếp này, so với dạy trực tiếp càng có hiệu quả. Đạo hiếu của một người, có thể làm đến mức như lời nói với Phàn Trì, đã là vô cùng có hiếu; đối với quốc gia đại sự, có thể làm được “vô vi”- “không vi phạm” chính là vị quan vô cùng tốt.

Nhưng Khổng tử đối với câu hỏi về hiếu của vị thế gia công tử Mạnh Võ Bá này, lời đáp rất bất đồng, ông nói đạo hiếu vô cùng đơn giản, chỉ cần nghĩ đến lúc ta bị bệnh, cha mẹ ta lo lắng đến cỡ nào, ta có thể hiểu thế nào là hiếu. Đối với một người mà nói, cái gọi là hiếu là hồi báo tấm lòng yêu thương của cha mẹ, ta chỉ cần nhớ lúc bản thân có chuyện, cha mẹ lo lắng như thế nào, mà dùng tấm lòng y như vậy đối với cha mẹ, chính là hiếu. Nói theo cách khác, anh Mạnh Võ Bá là thế gia công tử, tương lai nhất định sẽ nắm quyền. Chúng ta đọc lịch sử hiểu rõ một câu, chính là sợ nhất thế gia công tử nắm quyền “bất tri nhân gian chi tật khổ” – không hiểu những nỗi thống khổ của nhân gian. Vì vậy đạo lý vi chính, cần biết những nỗi khổ của nhân gian, hiểu rõ nỗi khổ đau của lão bách tính ở các tầng lớp xã hội ở phía dưới là ở chỗ nào. Vì vậy yêu người trong thiên hạ, cần biết sự thống khổ của người trong thiên hạ, cũng giống như cha mẹ hiểu con cái, anh tương lai nắm quyền, tất cần nhớ kỹ đạo lý này. Hai đoạn này đặt vào trong thiên Vi chính, rất là hay.

Đương nhiên thế gia công tử mà không biết nỗi khổ của nhân gian, thường là thất bại, chúng ta thấy Tấn Huệ Đế lúc thiên hạ mất mùa nặng, thái giám nói với ông ta là mọi người không có cơm ăn, ông ta nói: “Sao không ăn thịt?” Ông ta không biết đến cơm còn không có mà ăn, làm sao có được thứ so với cơm còn khó hơn là thịt. Đây chính là không biết nỗi khổ của dân gian. Chúng ta cũng có thể từ lịch sử rút ra một số kết luận, thường các đế vương sáng nghiệp, đều rất tốt, hoàng đế hai ba đời sau “lớn lên ở thâm cung trong tay người hầu thị nữ,” là loại hoàng đế đến gạo từ “cây” nào mọc ra cũng không biết, ta thay họ đặt ra một danh xưng, gọi họ là “hoàng đế chức nghiệp,” họ sinh ra là để làm hoàng đế. Các “hoàng đế chức nghiệp” thường phạm vào một căn bệnh tâm lý – cảm giác tự ti, họ vô cùng tự ti. Do đó các “hoàng đế chức nghiệp” trong lịch sử vô cùng hỏng, đối với quan văn, phản cảm họ học vấn giỏi hơn mình, đối với võ tướng, cũng không thích, cảm giác võ công không được như người ta, vì vậy “hoàng đế chức nghiệp” thường làm ra việc giết trọng thần, bãi chức người làm được việc các loại, khiến cho bản thân họ sẽ thất bại.

Tương tự, ngoài các loại chính trị của đế vương, chúng ta làm bất kỳ một nhiệm vụ gì, đối với các loại công việc lớn nhỏ, đặc biệt đối với các sự vụ thuộc phía dưới, càng không thể mơ hồ.

Sau đó, chúng ta cần thảo luận một vấn đề lớn của đạo hiếu. Văn hóa Trung Quốc, đối với giáo dục gia đình mà nói, thường lấy “trung hiếu truyền đời” để tuyên dương, có thể thấy văn hóa Trung Quốc xem trọng đạo hiếu như thế nào, việc này chúng ta cần hiểu tổng thể văn hóa lịch sử Trung Quốc. Dân tộc, quốc gia Trung Quốc so với các nước Âu Mỹ đều không giống.[…] Quốc gia Trung Quốc, do ảnh hưởng hoàn cảnh địa lý, có thể đạt được “dĩ nông lập quốc”- lấy nông nghiệp để lập quốc, châu Âu không đạt được điều này, đặc biệt là Hy lạp không đạt được điều này, họ muốn sinh tồn, tất phải phát triển thương nghiệp. Lịch sử châu Âu ngày trước, các loại thương nghiệp trên biển, thấy được là làm ăn buôn bán, không thấy được là làm cướp biển, do đó trước thế kỷ 16, phương Tây thiếu tài phú, nghèo nàn một mớ hỗn độn. Sau thế kỷ 16, cướp Ấn Độ, lừa Trung Quốc, tiền vàng mới chảy sang phương Tây, cái gọi là văn hóa, phát triển kinh tế phương Tây vân vân, nguyên lúc đầu đều là như vậy mà thành.

Chúng ta sau khi hiểu văn hóa phương Tây, quay đầu nhìn lại Trung Quốc, Trung Quốc lấy nông nghiệp lập quốc, có một loại văn hóa tinh thần cơ bản bất đồng với phương Tây, chính là xã hội tông pháp (tông trong tông tộc, dòng tộc -nd) Trung Quốc. Sau thời tam đại, do xã hội tông pháp, mới sinh ra phong kiến thời Chu. Phong kiến mà thường được nhắc đến, là hình thức phong kiến phương Tây, không phải phong kiến Trung Quốc, đem hình thái phong kiến Trung Quốc, đặt cùng một chỗ với chế độ nô lệ của văn hóa phong kiến phương Tây, so sánh một chút, có thể thấy hoàn toàn là hai thứ khác nhau, hoàn toàn sai biệt vậy. Phong kiến Trung Quốc, là do tông pháp hình thành nên. Do xã hội tông pháp, tinh thần đạo hiếu, từ trước thời Chu đã kiến lập, sau Tần Hán, do xã hội tông pháp biến thành xã hội gia tộc, cũng là một hình thái xã hội tông pháp, đạo hiếu đối với gia tộc, là phạm vi thu nhỏ lại, nhưng tinh thần vẫn như cũ. Chữ hiếu này, cũng là thứ chúng ta vừa nhắc đến, là mở mang nhân tình thế cố, đem chữ hiếu này của Trung Quốc, thông qua chính trị đề xướng thực hành mà làm rạng rỡ phong khí, là từ khi nào bắt đầu vậy? Là sau Tây Hán, thời Ngụy, Tấn chính thức đề xướng lấy đạo hiếu trị thiên hạ. Chúng ta thấy trong Nhị thập tứ hiếu nổi tiếng có Vương Tường nằm trên băng, ông ta chính là đại thần triều Tấn. Sau triều Tấn, Nam Bắc triều, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh về sau đều là “dĩ hiếu trị thiên hạ.” Chúng ta thấy đại thần các triều đại, mỗi khi vì các vấn đề quan trọng của quốc gia, hoặc các vấn đề yêu thương bảo hộ lão bách tính, trình tấu chương, rất nhiều người đều dùng câu “thánh triều dĩ hiếu trị thiên hạ,” trước hết đem cái mũ to này đội lên đầu hoàng đế, sau đó nên “thế nào thế nào” đưa ra kiến nghị, ở đây chúng ta thấy được các điểm tốt, ưu điểm của việc đề xướng hiếu trong văn hóa Trung Quốc.

Nhưng việc thiên hạ, nói đến chính trị thấy đáng sợ, chúng ta đóng cửa lại nghiên cứu, thấy cũng có người lợi dụng đạo hiếu biến thành thủ đoạn chính trị. Ai đã làm vậy? chính là hoàng đế Khang Hy triều Thanh.

Khang Ma tử dạy hiếu dạy trung

[ý là Khang mặt rỗ, chỉ Khang Hy-nd]

Chúng ta xem lịch sử, thường có thể thấy luật nhân quả, như triều Thanh, cô nhi quả phụ dẫn theo ba trăm vạn người, nhập Trung nguyên, thống trị bốn mươi nghìn vạn dân, đến cuối cùng triều Thanh kết thúc, lại vẫn là cô nhi quả phụ, cắp theo một cái tay nải, quay trở lại quan ngoại. Một giai đoạn lịch sử, bắt đầu như thế nào, cũng kết thúc như vậy, giống như ngớ ngẩn vậy. Lịch sử cổ kim đông tây, cũng gần như hoàn toàn theo luật nhân quả tuần hoàn vãng phục (iii) mà phát triển. Triều thanh cô nhi quả phụ sau khi nhập ải, Thuận Trị còn rất trẻ đã mất, nhưng đây là một đại nghi án của triều Tranh, có thuyết nói Thuận trị không chết, đi xuất gia, đây là một trong các đại nghị án không thể giải quyết trong lịch sử. Tiếp theo Khang Hy là đứa trẻ mới tám tuổi lên làm hoàng đế. Đến 14 tuổi, chính thức tự thân xử lý chính sự. Thành thật mà nói, vào lúc đó nếu như là người tầm thường, phải thống trị một Trung quốc bốn mươi nghìn vạn dân to như vậy, sẽ không có cách nào cả, nhưng đứa trẻ mười bốn tuổi này rất lợi hại, Khang Ma tử – trên mặt Khang Hy có vài vết rỗ đậu mùa – mười bốn tuổi bắt đầu thống trị Trung Quốc mấy chục năm (Khang Hy tám tuổi làm hoàng đế, 14 tuổi thân chính, 69 tuổi mất, tại vị 61 năm). Thiên hạ triều Thanh trong tay ông dần an ổn. Đương thời, trong phần tử tri thức ở Trung Quốc, người phản Thanh phục Minh rất nhiều, như Cố Đình Lâm, Lý Nhị Khúc, Vương Thuyền Sơn, Phó Thanh Chủ những người này đều không đầu hàng, đặc biệt là ở lĩnh vực tư tưởng, học thuyết, công tác phản Thanh phục Minh thực tại rất đáng sợ. Kết quả thế nào? Khang Ma tử lợi dụng chữ “hiếu” của Trung Quốc, đánh hư chiêu một hồi, khiến cho hạt giống phản Thanh thẳng một mạch hai trăm năm sau mới mọc mầm.

Mãn Thanh nhập quan, có ba bộ thư tịch nhất định phải đọc, là ba bộ nào? Binh pháp quyền mưu kiểu người Mãn, sách học là Tam quốc diễn nghĩa, không phải Tam quốc chí, lúc đương thời dường như vương công đại thần đều đọc Tam quốc diễn nghĩa. Bộ thứ hai không đọc công khai, mà đọc bí mật, là Lão tử, lúc đó Khang Hy có một phiên bản Lão tử đặc biệt,  hiện tại đã được xuất bản, chú giải cũng không có điểm nào đặc biệt, nhưng lúc đó mỗi một quan viên triều Thanh, đều cần đọc thuộc “Lão tử”, tìm lời giải cho triết lý chính trị. Một bộ sách khác là “Hiếu kinh.” Nhưng biểu hiện bề ngoài vẫn là tôn Khổng. Nói đến đây, mọi người đọc lịch sử, có thể so sánh với “Văn Cảnh chi trị” (thời trị vì của Hán Văn đế, Hán Cảnh đế) của triều Hán, thiết kế chính trị của “Văn Cảnh chi trị,” trong lịch sử chỉ dùng tám chữ để miêu tả – “Nội dụng Hoàng Lão, ngoại thị Nho thuật” – trong dùng đạo Hoàng, Lão, biểu hiện bên ngoài là Nho. Như thế, Khang Hy đã đề xướng đạo hiếu, biên tập nên một bản ngữ lục – “Thánh dụ,” về sau được gọi là “Thánh dụ bảo huấn” hoặc “Thánh dụ quảng huấn,” tuyên truyền đến tất cả các tổ chức chính trị cao thấp ở địa phương. Trước đây chính trị địa phương được tổ chức như thế nào? Chính là từ đường của xã hội tông pháp, trong từ đường có tộc trưởng, hương trưởng, đều là người tuổi cao đức tốt, học vấn tốt, trong địa phương có có uy tín cao. Mỗi tháng mùng một, ngày rằm, nhất định phải tập trung người trong tộc ở từ đường, tuyên giảng thánh dụ, những lời trong thánh dụ điều nào cũng là đạo lý làm người, làm việc, đưa tư tưởng Nho gia vào, đặc biệt là đề xướng đạo hiếu. Tiến thêm một bước phân tích, Khang Hy hiểu sâu sắc tinh thần hiếu nhưng lại vận dụng mặt trái của nó. Cần biết rằng Khang Hy đem mỗi một người trẻ tuổi huấn luyện thành cái gì cũng nghe lời cha mẹ, như thế đâu có ông lão, bà lão nào muốn con mình đi làm việc giết người tạo phản? Do đó Khang Hy dùng mặt trái [của hiếu], dùng đến hết sức cao minh. Đây là kỳ thứ nhất.

Kỳ thứ hai: lúc đó Lý Nhị Khúc ở Thiểm Tây, giống Cố Đình Lâm, là phần tử tri thức không đầu hàng, ông dạy học ở Quan Trung, do đó về sau mấy người Cố Đình Lâm này, rất hay chạy về Thiểm Tây, ngấm ngầm tổ chức phản Thanh phục Minh. Khang Hy rõ ràng biết hết, hoàng đế ngược lại triệu Lý Nhị Khúc làm quan, tất nhiên Lý Nhị Khúc không làm. Về sau lúc Khang Hy đến Ngũ Đài Sơn cùng tuần sát Thiểm Tây, đặc biệt mệnh lệnh xuống đốc phủ Thiểm Tây, biểu thị tôn sùng tiên sinh Lý Nhị Khúc là nhà đại Nho lúc bấy giờ, là thánh nhân đương thời, nhất định cần tự mình đi bái phỏng Lý Nhị Khúc. Đương nhiên, Lý Nhị Khúc cũng biết đây là Khang Hy chơi một ván cờ cuối cùng, do đó Lý Nhị Khúc nói là bệnh, không thể tiếp giá. Nào biết Khang Hy lại nói không sao cả, vậy thì sẽ đến gần chỗ Lý Nhị Khúc dạy học, đặc biệt nói cần thăm bệnh Lý Nhị Khúc. Như thế này có thể bức Lý Nhị Khúc, nếu Khang Hy đến nhà, Lý Nhị Khúc chỉ cần dập đầu lạy, có thể tính là đầu hàng vậy, đây là vấn đề khí tiết dân tộc của văn hóa Trung Quốc; do đó Lý Nhị Khúc không có cách nào khác phải thể hiện bị bệnh, nằm trên giường, bệnh đến mức không dậy được. Nhưng Khang Hy đến gần chỗ Lý Nhị Khúc, một đội quan viên từ đốc phủ Thiểm Tây trở xuống, đều đi đằng sau hoàng đế, chuẩn bị đi xem bệnh Lý Nhị Khúc. Khang Hy trước hết nghe ngóng một hồi, nói Lý Nhị Khúc thật sự có bệnh, đồng thời, Lý Nhị Khúc cũng không có cách nào khác, đành sai con trai của mình đi gặp Khang Hy, trình bày một hồi. Nhưng Khang Hy rất cao minh, cũng không miễn cưỡng đi Lý gia. Nếu ngược lại, ông nhất định đến Lý gia, Lý Nhị Khúc mắng ông một trận, tất không giết Lý Nhị Khúc không được. Giết rồi, khơi dậy thù ghét dân tộc. Không giết, thì mất sự tôn nghiêm của hoàng đế, không xuống đài được, do đó ông đã không đi. An ủi con trai Lý Nhị Khúc một trận, yêu cầu truyền đạt lại ý tứ của mình, còn giao phó cho quan lại địa phương, cần chiếu cố chăm sóc Lý Nhị Khúc thỏa đáng. Còn nói với họ, vì bản thân là hoàng đế, không thể không quay về kinh thành xử lý triều chính, quan địa phương có thể sớm tối học tập Lý Nhị Khúc, thật là rất có phúc khí. Khang Hy vận dụng lần này, chính là đem mặt tốt của văn hóa Trung Quốc, biến thành quyền thuật của mình. Nhưng việc thật sự làm con người ta cảm khái, là người đời sau, không đem những lỗi này gán vào quyền thuật của Khang Hy, ngược lại đều trút vào người Khổng Mạnh, do đó học thuyết Khổng tử bị đánh đổ, Khổng tử bị mắng chửi, đều quá oan uổng vậy.

Thực sự mà nói, tinh thần đạo hiếu tuyệt đối là đúng, nếu nói lý do đạo hiếu là đúng, thì rất nhiều rất nhiều, hiện tại đang nói về Luận ngữ, không tiếp tục nói ngoài lề quá nhiều, chỉ ở trong phạm vi này mà nêu ra, có thể hiểu “hiếu” có thể trị thiên hạ. Do mỗi người hiếu với cha mẹ mình, mở rộng ra yêu mọi người trong thiên hạ, chính là tinh thần hiếu. Chỗ sâu sắc hơn của tinh thần này, chúng ta xem lại Hiếu kinh, có thể hiểu được.

(i) Nguyên văn: 扩而充之 – kuò ér chōng zhī – khoáng(khoách) nhi sung chi: mở rộng ra phạm vi lớn, làm đầy nội dung. Câu trong sách Mạnh tử.

(ii) Nguyên văn: 慷慨捐躯易,从容就义难

(iii) Nguyên văn: 循环往复 – xún huán wǎng fù – tuần hoàn vãng phục. Sự vật cứ chuyển động một vòng lại một vòng, một lần lại một lần, như không bắt đầu không kết thúc. Câu trong Sử ký

Hàn

 

Hoài thượng dữ hữu nhân biệt – Trịnh Cốc

淮上与友人别
扬子江头杨柳春,
杨花愁杀渡江人。
数声风笛离亭晚,
君向潇湘我向秦。
Hoài thượng dữ hữu nhân biệt (1)
Dương Tử giang đầu dương liễu xuân, (2)
Dương hoa sầu sát độ giang nhân. (3)
Sổ thanh phong địch ly đình vãn (4)
Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần. (5)
  1. Hoài thượng: Dương Châu; Hoài: Hoài Thủy – sông Hoài.
  2. Dương tử giang: Các nhánh chính của Trường Giang ở một dải Trấn Giang Giang Tô, Dương Châu, cổ gọi là Dương Tử giang. Dương liễu, chữ liễu – 柳 – liǔ và chữ lưu – 留 – liú âm giống nhau, biểu thị ý muốn níu kéo giữ lại.
  3. Dương hoa: liễu nhứ – bông liễu. Sầu sát: mối sầu đầy trong lòng. Sát: hình dung mức độ buồn đau rất sâu.
  4. Phong địch: tiếng sáo truyền lại từ trong gió. Ly đình: dịch đình – đình trạm. Đình  ngày xưa đặt cạnh đường để mọi người nghỉ ngơi, mọi người thường đến đây để tiễn biệt, nên gọi là ly đình.[Chữ 数 có nhiều cách đọc, cũng có nhiều phiên âm Hán Việt (sổ, số, sác…), ý nghĩa gần như nhau, mà cho vào đây thế nào cũng ổn :-). Nên không biết chọn phiên âm nào là chuẩn nhất.]
  5. Tiêu Tương: chỉ một dải Hồ Nam ngày nay. Tần: chỉ kinh đô thành Trường An lúc bấy giờ. Nay thuộc Thiểm Tây.

Dịch nghĩa (đợi con chim làm hộ)

 

Hàn

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.5

孟懿子(1)问孝,子曰:“无违。(2)”樊迟(3)御(4),子告之曰:“孟孙(5)问孝于我, 我对曰无违。”樊迟曰:“何谓也。”子曰:“生,事之以礼;死,葬之以礼,祭之以礼。”

Mèng yì zǐ wèn xiào, Zǐ yuē: “wú wéi”.

Fán chí yù, zǐ gào zhī yuē: “mèng sūn wèn xiào yú wǒ, wǒ duì yuē wú wéi.”

Fán chí yuē: “héwèi yě.” Zǐ yuē: “sheng, shì zhī yǐ lǐ; sǐ, zàng zhī yǐ lǐ, jì zhī yǐ lǐ.”

Mạnh Ý tử (1) vấn hiếu, Tử viết: “Vô vi (2).”

Phàn Trì (3) ngự (4), Tử cáo chi viết: “Mạnh Tôn (5) vấn hiếu ư ngã, ngã đối viết vô vi.”

Phàn Trì viết: “Hà vị dã.” Tử viết: “sinh, sự chi dĩ lễ; tử, táng chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ.”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. Mạnh Ý tử: Đại phu nước Lỗ, thuộc một trong “tam gia” – ba họ tộc lớn (chỉ ba khanh đại phu nước Lỗ họ Quý Tôn, Thúc Tôn, Mạnh Tôn), họ Trọng Tôn, tên Hà Kỵ, “Ý” là thụy hiệu. Phụ thân của ông trước lúc lâm chung yêu cầu ông theo Khổng tử học lễ.
  2. 无违 – vô vi: không nên vi phạm, làm trái.
  3. 樊迟 – Phàn Trì: Họ Phàn tên Tu, tự Tử Trì. Là đệ tử của Khổng tử, nhỏ hơn Khổng tử 46 tuổi. Ông từng cùng Nhiễm Cầu giúp Quý Khang Tử tiến hành cách tân.
  4. 御 – ngự: điều khiển xe ngựa
  5. 孟孙 – Mạnh Tôn: chỉ Mạnh Ý tử.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn ]

Mạnh Ý tử hỏi hiếu là gì, Khổng tử nói: “Hiếu chính là không nên vi phạm, làm trái lễ.” Sau đó Phàn Trì đánh xe ngựa cho Khổng tử, Khổng tử nói với Phàn Trì: “Mạnh Tôn hỏi ta hiếu là gì, ta trả lời là không nên làm trái lễ.” Phàn Trì nói: “không nên làm trái lễ là có nghĩa như thế nào?.” Khổng tử nói: “Khi cha mẹ còn sống, cần theo lễ mà chăm sóc phụng hầu; sau khi cha mẹ mất, cần theo lễ mà mai táng, tế tự.”

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Khổng tử cực kỳ xem trọng hiếu, yêu cầu mọi người tận hiếu đạo đối với bố mẹ của mình, vô luận họ còn sống hay đã mất, đều nên như vậy. Nhưng chỗ trọng yếu ở đây là, lúc tận hiếu không nên làm trái với quy định của lễ, nếu không thì không phải là hiếu chân chính. Có thể thấy, hiếu không phải là chung chung mơ hồ, tùy ý, mà phải theo quy định của lễ, theo lễ mà làm mới là hiếu.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Mạnh Ý tử: Đại phu nước Lỗ, thuộc một trong “tam gia,” họ Trọng Tôn, tên Hà Kỵ. Cha của ông Hy Tử có di mệnh bảo ông học lễ với Khổng tử, là học sinh thời kỳ đầu của Khổng tử. Sau Khổng tử làm chức Tư Khấu ở Lỗ, chủ trương phá thủ phủ của tam gia, Hà Kỵ dẫn đầu kháng lệnh. Người đời sau không liệt Hà Kỵ vào trong các đệ tử của Khổng môn.

无违 – vô vi: Hy tử hiền mà thích lễ, Ý tử chắc rằng không thể tuân thủ cẩn thận sự dạy bảo của phụ thân. Khổng tử dạy theo vô vi – không làm trái, đại loại kỳ vọng [Ý tử] thực hành tốt lệnh của cha, rốt cuộc có thể hoàn thành chí hướng của cha.

樊迟御: Phàn Trì đánh xe cho Khổng tử, Khổng tử đem lời nói với Ý tử nói lại cho Phàn Trì. Không làm trái với lệnh của cha là hiếu, lời này là đặt biệt nói cho Ý tử. Không phải người cha nào cũng hiền, tòng phụ chưa chắc đã  là hiếu. Khổng tử nói lại cho Phàn Trì, đại loại kỳ vọng Phàn Trì có câu hỏi, để có thể giải thích ý nghĩa chưa tận của câu trước.

何谓也 – hà vị dã: Phàn Trì quả nhiên không hiểu rõ mà hỏi lại. Khổng tử liền nói vô vi, [là] không vi phạm vào lễ, có khả năng lấy lễ phụng sự phụ mẫu, đây là hiếu. Cha mẹ có chỗ không hợp lễ, con cái thuận theo sự sai trái của họ là không thỏa đáng, nhất định phải dựa vào sự hợp lễ mà phụng sự phụ mẫu, thì đối với cha mẹ mới là tôn kính hết mức, đây mới là hiếu. Nếu như thuận theo sự phi lễ của cha mẹ, là để cho cha mẹ không đủ tốt, lại tự để bản thân rơi vào phi lễ, đây là nghịch lại cha mẹ vô cùng. Cho nên dạy “vô vi” – không vi phạm lời cha dạy là hiếu, là lời giành riêng cho Ý tử. Không vi phạm lễ là hiếu, là lời giành cho mọi người trong thiên hạ nói chung. Nếu người cha quả thật là hiền, con không vi phạm ý cha, cũng chính là không vi phạm lễ. Khổng tử nói hai lần, ý nghĩa tương thông. Hoặc có thuyết, ở vào thời ba họ tộc lớn tiếm lễ, cho nên Khổng tử đem việc không vi phạm lễ để nhắc nhở Ý tử, hy vọng Phàn Trì truyền đạt lại. Nhưng Khổng tử tại sao lại không nói trực tiếp, mà nhất định phải đợi Phàn Trì hỏi lại mởi chuyển lời truyền đạt? Việc này thường được cắt nghĩa sai đi. Nếu Ý tử có thể không vi phạm lời cha dặn là phải học lễ, thì đã nằm trong số những người cảnh báo việc ba họ lớn tiếm quyền, không phải phiền đến Phàn Trì truyền đạt lại.

Mạnh Ý tử hỏi: “Hiếu đạo là như thế nào?.” Tiên sinh nói: “Không được vi nghịch.” Một ngày, Phàn Trì đánh xe cho tiên sinh, Tiên sinh kể cho Phàn Trì: “Mạnh Tôn hỏi ta về hiếu đạo, ta trả lời là không được vi nghịch.” Phàn trì nói: “Như thế ý là gì?” Tiên sinh nói: “Lúc cha mẹ còn sống, theo lễ mà phụng sự cha mẹ. Lúc cha mẹ mất đi, theo lễ để mai táng, theo lễ để tế tự.”  

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]   

Như phần này, chúng ta không cần theo phân chia của Tống Nho như thế này, mà đem bỏ đi cho rồi. Đây là hậu nhân phân chia ra , là không đúng, trên chia ra 1 lần, dưới lại chia ra thêm 1 lần nữa, kết quả biến thành giáo điều. Kỳ thực là ở đây là đoạn nối liền thông suốt, cũng chính là phát triển ý của “vi chính dĩ đức” ở phía trước, đem tinh thần đạo hiếu của văn hóa Trung Quốc, mở rộng ra lĩnh vực đối nhân xử thế, Trung Quốc từ cổ đến nay, các nhà đại chính trị trong nhà ngoài ngõ đều giữ một lòng không cẩu thả, chính là từ xuất phát điểm này mà bồi dưỡng nên.

Trước hết chúng ta giải thích câu chữ. Mạnh Ý Tử không nhất định là học trò của Khổng tử, mà là mối quan hệ ở giữa học trò và bạn bè, ông là đại phu nước Lỗ. “Đại phu” lúc đương thời, là một cấp bậc quan tương đối cao. Miễn cưỡng so sánh, như cấp thành viên nội các hiện nay, đều gọi là “đại phu.” Đại phu là cấp (bậc)  quan, không phải chức quan. Các loại cấp bậc chức vụ quan của Trung Quốc, qua các thời đều có biến động. Nếu chúng ta muốn hiểu các biến đổi hình thái chính trị qua các thời đại, cần đọc “Thập Thông” hoặc “Tam Thông” – thông chí, thông hiến, thông khảo. Nội dung không chỉ bao quát các diễn biến chế độ chính trị, quan chức, và mọi diễn biến khác của Trung Quốc, thậm chí nghiên cứu tư tưởng chủ nghĩa tam dân hiện đại, quốc phụ [Tôn Trung Sơn] tại sao lại chọn dùng chế độ ngũ quyền phân lập, đều có mối quan hệ sâu sắc với văn hóa “Tam Thông”, “Thập Thông.” Ở đây đang nói về chức vụ địa vị của Mạnh Ý tử, thuận tiện kể ra.

Nếu Mạnh Ý tử đã là nhân vật như vậy, theo lập trường lúc bấy giờ của Khổng tử mà nói, đoạn hội thoại này, rốt cuộc là Khổng tử trước khi làm Tư Khấu của nước Lỗ, hay sau khi làm nói, rất khó để khảo chứng. Địa vị của Khổng tử lúc đương thời ở trường quốc tế – tức là giữa các chư hầu, rất đặc thù, là một nhân vật kiệt xuất. Cho nên Mạnh Ý tử đến hỏi Khổng tứ hiếu là gì, Khổng tử chỉ nói  “không được vi phạm làm trái.” Nếu như theo câu này mà xem xét, Khổng tử nói lời vô cùng giảo hoạt không thành thật. Không được vi phạm làm trái cái gì? Không có phần tiếp theo. Đây là một lời đáp rất kỳ lạ, tiếp phía sau, lại là một màn đối thoại hình thức ngắn gọn. Chúng ta đọc Luận ngữ, đi sâu vào, rất thú vị, như đọc tiểu thuyết, không nhất thiết phải dùng thái độ nghiêm trọng để đọc.

“Phàn Trì ngự” – Phàn Trì là học trò của Khổng tử, tên là Phàn Tu, tự Tử Trì, nhỏ hơn Khổng tử 36 tuổi, là lứa thanh niên. “Ngự” là điều khiển xe. Mạnh Ý tử vừa mới đến bái phỏng Khổng tử, thỉnh giáo vấn đề đạo hiếu là gì, Khổng tử nói “không được vi phạm làm trái,” chỉ có mộ một câu như vậy. Qua một lúc Khổng tử đi ra ngoài […], do học trò trẻ là Phàn Trì đánh xe [bỏ mấy câu dông dài].

“Tử cáo chi viết” là miêu tả Khổng tử ở trên xe đặc biệt kể cho Phàn Trì một việc: “Mạnh Tôn hỏi ta về hiếu, ta trả lời: không vi phạm.” Mạnh Tôn là hiệu của Mạnh Ý tử, do ông là người có địa vị tương đối cao trong triều đình, nên trong chính giới đương thời mà nói, cũng tính là một nhân vật vai vế, do đó Khổng tử đối với ông tương đối tôn kính, nên chỉ gọi ông bằng tên hiệu. Khổng tử nói, Mạnh Tôn hỏi ta hiếu là gì, ta trả lời là “vô vi – không được vi phạm làm trái.” [Lại bỏ một phần dông dài và không quan trọng lắm].

Không được vi phạm làm trái, ý nghĩa rất đơn giản. “Sinh, sự chi dĩ lễ.” Chữ “sự” là cổ nhân dùng khi người dưới nói về người trên. Khổng tử nói, khi cha mẹ còn sống, chúng ta cần phải hiếu kính họ. Làm việc dĩ lễ là như thế nào? Rất khó nói, lễ này không phải là gặp bố mẹ liền hành lễ là hiếu. Lễ này là bao quát mọi yêu thương, chăm sóc trong đời sống. (Đạo lý này, về sau chúng ta sẽ có cơ hội nói riêng về lễ, ở đây tạm không nói đến.) Lại nói: “tử, táng chi dĩ lễ.” Do đó lễ là một khái niệm cơ bản vô cùng quan trọng trong văn hóa Trung Quốc, thấy chữ lễ này, tuyệt không thể dùng nghĩa hẹp là lễ mạo để giải thích. Sau khi mất lại phải “tế chi dĩ lễ.” Chúng ta nghiên cứu đoạn này, dường như không có gì đáng ngạc nhiên, nhưng ghi lại đoạn hội thoại này vào trong Luận ngữ, đến cuối cùng là có ý nghĩa gì? Đối với Vi chính có quan hệ như thế nào?

Chúng ta trước hết hãy đặt các vấn đề này sang một bên, xem tiếp đến đoạn sau, về sau mới tổng hợp lại để nghiên cứu.

Hàn

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.4

子曰:“吾十有(1)五而志于学,三十而立(2),四十而不惑(3),五十而知天命(4),六十而耳顺(5),七十而从心所欲, 不逾矩(6)。”

Zǐ yuē: wú shí yǒu wǔ ér zhì yú xué, sānshí érlì, sìshí ér bù huò, wǔshí ér zhī tiān mìng, liùshí ér ěr shun, qīshí ér cóng xīn suǒ yù bù yú jǔ.

Tử viết: “Ngô thập hữu (1) ngũ nhi chí ư học, tam thập nhi lập (2), tứ thập nhi bất hoặc (3), ngũ thập nhi tri thiên mệnh (4), lục thập nhi nhĩ thuận (5), thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ (6).”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 有 – yǒu – hữu: giống又 – yòu – hựu, cộng thêm.
  2. 立 – lì – lập: ý là đứng vững.
  3. 不惑 – bù huò – bất hoặc: nắm chắc kiến thức, không bị sự vật ngoại cảnh gây mê hoặc.
  4. 天命 – tiān mìng – thiên mệnh: chỉ sự tình mà sức người không thể chi phối.
  5. 耳顺 – ěr shun – nhĩ thuận: có nhiều cách giải thích. Nhưng nói chung, chỉ việc đối với những ý kiến bất lợi cho bản thân cũng có thể đối đãi đúng/xác đáng.
  6. 从心所欲, 不逾矩 – cóng xīn suǒ yù bù yú jǔ – tòng tâm sở dục, bất du củ: tòng- thuận theo; du- vượt qua; củ- quy củ.

[Diễn dịch văn – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Ta mười lăm tuổi lập chí học tập; ba mươi tuổi có thể tự lập; bốn mươi tuổi có thể không bị sự vật ngoại cảnh mê hoặc; năm mươi tuổi hiểu được thiên mệnh; sáu mươi tuổi có thể đối đãi xác đáng với mọi loại ngôn luận, không cảm thấy có gì là không thuận [quy luật]; bảy mươi tuổi có thể tùy theo lòng mình mà không vượt qua quy củ.”

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Trong chương này, Khổng tử tự thuật lại quá trình học tập và tu dưỡng của bản thân. Quá trình này, là một quá trình cảnh giới tư tưởng dần dần nâng cao, theo sự tăng tiến của độ tuổi. Về cảnh giới tư tưởng, toàn bộ quá trình phân thành ba giai đoạn: mười lăm tuổi đến bốn mươi tuổi là giai đoạn học tập lĩnh hội; năm mươi, sáu mươi tuổi là giai đoạn an tâm lập mệnh, cũng là giai đoạn không chịu sự tác động của hoàn cảnh; bảy mươi tuổi là giai đoạn ý thức chủ quan và quy tắc làm người dung hợp làm một. Trong giai đoạn này, tu dưỡng đạo đức đạt đến cảnh giới cao nhất. Quá trình tu dưỡng đạo đức của Khổng tử, có nhân tố hợp lý: một là, ông đã thấy được tu dưỡng đạo đức không phải việc một sớm một chiều, không thể hoàn thành ngay, không thể có đột phá, cần phải trải qua quá trình rèn luyện học tập lâu dài, cần phải có một quá trình tuần tự tiệm tiến. Hai là, cảnh giới cao nhất của đạo đức là tư tưởng và ngôn hành dung hợp, tự giác tôn thủ quy phạm đạo đức, mà không phải là miễn cưỡng làm. Hai điểm này đối với bất kỳ người nào, đều có thể đem ra áp dụng được.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

志於学 – chí ư học: người có chí, tất cả mọi ý nguyện trong lòng, đều một lòng hướng đến mục tiêu này. Vốn có chí tất có học, chí và học tương sinh mà phát triển. Cái chí cái học của Khổng tử, thông qua đọc chương này có thể thấy được, càng thông qua đọc toàn bộ Luận ngữ mà có thể hiểu cặn kẽ. Có thể có chí như cái chí của Khổng tử, học như cái học của Khổng tử, là tôn chỉ lớn nhất của việc đọc Luận ngữ.

而立 – nhi lập: lập, nghĩa là thành lập (trưởng thành đến mức có thể tự lập). Có thể có khả năng tự lập một cách vững chãi, không suy giảm không chuyển đổi, tức là chí đã đạt được thành tựu, có được phẩm cách. Đây là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình học tập của Khổng tử.

不惑 – bất hoặc: con người và sự việc có dị đồng (điểm khác nhau/tương đồng), có  nghịch thuận, dù cho có chí, có khả năng tự lập, nếu với ngoại cảnh có sự đối nghịch, thì lòng dễ nảy sinh hoài nghi mê hoặc. Nếu có thể đối với mọi loại ngôn luận, sự việc biến hóa thuộc ngoại cảnh, hiểu đến chỗ thâm sâu, chỗ tận cùng, với mọi thứ liên quan đều thông suốt, mà không có gì phải hoài nghi, thì không những có khả năng tự lập giữ phẩm cách, còn có thể biết chỗ sáng mà ở vào chỗ an, là giai đoạn thứ hai trong tiến trình học tập của Khổng tử.

知天命 – tri thiên mệnh: tuy đối với đạo lý của mọi sự đều không còn nghi hoặc, nhưng việc thực hành chí hướng vẫn có chỗ gian khổ. Chí càng tiến, việc làm càng tiến, càng gặp phải việc gian khổ gây nghi hoặc. Cho nên đã có thể tự lập không còn gì nghi hoặc, càng ngày càng phải tri thiên mệnh (hiểu mệnh trời). Thiên mệnh chỉ các loại đạo nghĩa và chức trách đương nhiên của nhân sinh. Đạo nghĩa chức trách có vẻ không khó biết, song vẫn có việc dù “thủ đạo tận chức” (giữ đạo, tận lực với chức phận) mà vẫn gặp phải cảnh khốn cùng, không thuận lợi. Việc đương nhiên mà lại vẫn không thể thuận lợi thông suốt, có thể không được thuận lợi mà vẫn là đương nhiên, nghĩa lý này rất khó để hiểu. Để đạt đến cảnh giới này, cần phải học “tri thiên mệnh.” Khổng tử nói: “trời sinh ta có đức tính thiện, Hoàn Đồi có thể làm gì ta?” (i), lại nói “Văn Vương đã mất,  lễ nhạc văn hóa không phải đều ở tại chỗ của ta sao? Trời nếu như muốn tiêu diệt văn hóa này, người sau (ta) đã không thể có được văn hóa này. Trời nếu như không tiêu diệt văn hóa này, người Khuông có thể làm gì ta?” (ii). Khổng tử theo đuổi việc học, đạt đến cùng cực của “bất hoặc,” lòng tự tin cực chân thực cực vững chắc, dường như đã lên đến cảnh giới người không thể hiểu, duy trời có thể hiểu. Như thế đạo và thiên đã hợp làm một, do đâu đến cuối cùng không thể thực hành, đến đây buộc phải tiến đến cảnh giới tri thiên mệnh. Cho nên tri thiên mệnh, là tiến thêm một bước so với “bất hoặc,” là cảnh giới cao hơn, là giai đoạn thứ ba trong tiến trình học tập của Khổng tử.

Khổng tử không phải là người đứng đầu một tôn giáo, nhưng Khổng tử lại có một tín ngưỡng cao vô thượng, loại tín ngưỡng này, như đã cao hơn của các giáo chủ tôn giáo trên thế giới. Khổng tử do học mà sinh tín (niềm tin/lòng tin), chứ không phải là có tín trước mới học sau. Cho nên Khổng tử dạy mọi người, cũng là lấy việc học làm trọng. Tử cống nói: “Phu tử [giảng] về các loại học vấn văn hiến, chúng ta nghe có thể hiểu được; phu tử [giảng] về các loại thiên tính thiên đạo, chúng ta nghe không hiểu” (iii). Đại khái là Khổng tử dựa vào sở học mà dạy người, không dựa vào tín mà dạy người. Khổng tử có ý, dường như không học đến cảnh giới này, tất không dễ có niềm tin này, do đó không lấy tín để dạy. Đây là điểm khác biệt giữa Khổng tử với các vị đứng đầu tôn giáo khác. Cho nên học cái học của Khổng tử, không nên cẩu thả nói tri thiên mệnh, nhưng đồng thời nên biết trong lòng của Khổng tử thực chất có cảnh giới này. Khổng tử đã chỉ ra cảnh giới này, thứ gọi là “Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hàng hành chỉ, tuy bất năng chí, tâm hướng vãn chi”- [đức hạnh như] núi cao khiến [người] ngưỡng vọng, hành vi [chính đại quang minh] như con đường rộng, tuy không thể đạt đến trình độ này, nhưng lòng luôn hướng về đó (iv). Người học cũng nên đặt cảnh giới này trong tâm, mà mỗi ngày đều hướng về.

耳顺 – nhĩ thuận: đối với tất cả các loại ý kiến hoặc ngôn luận khác biệt, tất cả các loại phản ứng hoặc kích động trái nghịch bất thuận ở bên ngoài, khi đã đạt tới khả năng tự lập bất hoặc, lại tri thiên mệnh, có thể lấy đó để xử lý, không vì những thứ bên ngoài mà bị dao động mê hoặc, là càng tiến thêm một bước mà đạt đến cảnh giới “nhĩ thuận.” Người nhĩ thuận, tất cả đều nghe vào tai, không còn cảm thấy cái gì là có chỗ không thuận với bản thân, không thuận với đạo. Trong khi biết ngoại cảnh tất cả đều đối lập khác biệt nhau, trái nghịch bất thuận, tuy nhiên không cái gì là không có lý do của nó. Có thể hiểu được tất cả những lý do này, tất không chỉ hiểu bản thân, lại còn hiểu được người. Không chỉ hiểu một việc từ đâu là phải, mà còn hiểu từ đâu là không phải. Bên phản bên chính, bên nó bên ta, tất cả là theo ý trời. Lại không ở bất kỳ chỗ nào mà không thấy có thiên mệnh, do đó nói nhĩ thuận, là giai đoạn thứ tư của tiến trình học tập của Khổng tử.

Sự vật khi đi vào trong tâm của ta, chỗ trọng yếu nhất, là ở tại tai và mắt. Chương này đặc biệt nêu nhĩ thuận, thực chất là nêu cái này có thể bao gồm cả cái kia. Thêm vào đó mắt nhìn do ta hướng ra bên ngoài, tai nghe do bên ngoài rót vào ta, nói về mức độ tự chủ, hơi có sự khác biệt. Nhìn bằng mắt hướng đến hình dáng vật thể, nghe qua tai thâm nhập vào tâm ý. Mắt chỉ nhìn thấy ở gần mà tai nghe được ở xa, tức là lời nói hành động của cổ nhân, cũng có thể đi vào tai như vậy. Do đó nói về tai có thể bao quát cả mắt. Học đến mức tri thiên mệnh, tất xa gần chính phản, cổ kim thuận nghịch, những gì gặp được đều là đạo, đều ở trong thiên mệnh. (Nhờ đó) sẽ càng trung (dốc lòng) đến mức tận mọi sức lực, sẽ càng thứ (đặt mình vào vị trí của người khác mà suy nghĩ) mà đối đãi vật. Đối với những gì bản thân coi trọng xem xét để biết đâu là chỗ [ta cho là] đương nhiên; đối với việc người khác coi trọng xem xét để hiểu lý do tại sao. Hiểu rõ lý do tại sao tất nhĩ thuận, với mọi thứ đều không cảm thấy có gì trái nghịch,  từ đó mà có thể thi hành giáo hóa, có thể vi chính, có thể dựa vào “lập kỷ” mà “lập nhân,” “đạt kỷ” mà “đạt nhân” (bản thân có thể tự lập, đứng vững mà giúp người người tự lập; bản thân đã thông hiểu mà giúp người người khác thông hiểu – nd). Như thế chỗ cùng cực của thiên mệnh, chẳng phải luôn là việc hành đạo (đi theo con đường) này sao? Cội nguồn đạo của cổ nhân, cốt yếu ở chỗ có khả năng “phản cầu chư kỉ” –   trách bản thân chứ không phải trách người khác (v). Chỗ cùng cực của trung thứ (vi), tức là chỗ cùng cực của minh thành (明诚 – minh triết, chân thành), trời và người cùng một lẽ mà thông suốt, mà việc phát dương đạo xuất phát bản thân.

从心所欲不踰矩 – tòng tâm sở dục bất du củ: tòng, nghĩa là tuân theo, thuận theo. Hoặc có thuyết: chữ tòng đọc giống như túng (纵), nghĩa là “phóng nhiệm” (放任) – không có ước thúc, để mọi việc diễn ra tự nhiên, không can thiệp.  Củ- thước kẻ góc vuông. Quy-viên quy – thước để vẽ đường tròn. Quy củ vô cùng vuông, tròn, dùng để nói về luật lệ chuẩn tắc của các loại ngôn hành. Ở đây nói đến củ mà không nói đến quy, càng thấy lời nói cẩn trọng. Thánh nhân đến cảnh giới này, đều mặc theo lòng mình, có thể phóng tâm đến mức cùng cực, không kiểm điểm quản thúc (đạo đức ngôn hành của bản thân), mà bản thân lại không có gì là không theo quy củ luật lệ. Do đó nội tâm của thánh nhân vô cùng tự do, cùng với các loại luật lệ quy củ đương nhiên ở bên ngoài tự nhiên tương hợp. Học vấn đạt đến cảnh giới này, tâm cũng chính là đạo nghĩa, nội ngoại hợp nhất. Mọi việc làm của bản thân, không gì là không phải các khuôn phép cao nhất của thiên mệnh. Trời không dụng tâm đối với bất kỳ cái gì (vii) mà không có gì là không phải, trời không chịu bất kỳ ước thúc nào nhưng là chuẩn tắc cho tất cả mọi thứ. Sự học của thánh nhân, đến cảnh giới này, nhân cách  cao thượng vĩ đại sánh với trời, mà việc học cũng không thể tiến thêm nữa. Chương này của Khổng tử, chỉ là tự nói về quá trình đạt được trong học vấn của bản thân, chưa từng tự sánh với trời. Song đệ tử của Khổng tử đã ví nhân cách của Khổng tử sánh với trời mà (người khác) không thể bắc thang lên được vậy. Như ở trên đã cho thấy rõ, cũng không thấy có gì là quá cả.

Chương này là Khổng tử tự thuật về những thứ bản thân đạt được trong một đời học tập, các bậc thang tiến bộ qua các năm như thế nào. Người học kiên trì noi theo nỗ lực này, ngày qua ngày đều tiến bộ (viii), hy vọng xuất sắc mà tiến vào lãnh địa của thánh nhân.  Nhưng người học cố gắng theo khả năng của mình, cũng thường ở ba cấp bậc là “chí học,” “lập” hay “bất hoặc.” Còn từ tri thiên mệnh trở lên, nếu không nỗ lực hết sức, không nên hy vọng có thành tích hy hữu. Biết có cảnh giới này, mà vẫn canh cánh trong lòng cho rằng có thể đạt được, nếu tùy tiện đem bản thân đi bắt chước, chỉ là vọng tưởng tu dưỡng được đến cảnh giới tối cao, nhưng lại trở thành ngụy quân tử, thành tiểu nhân không biết sợ cái gì, mà không tự biết mình vậy. Người học thử nghiền ngẫm chương đầuchương cuối của thiên Học nhi, dần dần tự cố gắng, hy vọng dần có thể nhìn ra chỗ thâm thúy của chương này. Vì hai chương đầu và cuối của thiên Học nhi, từ chỗ dễ hiểu nhất chân thực nhất mà chỉ cho người ta (con đường) lĩnh hội, người học có thể từ đây mà noi theo. Chương này tuy là Khổng tử tự nói về bản thân, không có lời nào là không chân thực, ở bên trong lại có rất nhiều chỗ thâm sâu ảo diệu. Không dựa trên cái gì mà vọng cầu đột nhiên đạt được, thì biến thành nói hão không đáng tin, không phải là chủ ý lúc bình thường dạy học sinh của Khổng tử.

Khổng tử lại nói: “bất oán thiên, bất vưu nhân, hạ học nhi thượng đạt, tri ngã giả kì thiên hồ” – không oán trời, không trách người, dưới học mà trên suốt mọi sự lý/thiên mệnh, hiểu được ta chỉ có trời chăng? (ix), ý nghĩa của câu cùng với chương này tương thông. Từ chí học, nhi lập, nhi bất hoặc, đều là “hạ học.” Sau đó trở lên, là thượng đạt vậy. Tri thiên mệnh nên không oán thiên, nhĩ thuận nên không trách người. Tấm lòng này đạt đến cái đức của trời, nên có thể tòng tâm sở dục bất du củ, mà hiểu ta chỉ có trời. Tri mệnh nhĩ thuận, vốn không phải là thứ dễ dàng đạt được của người học, nhưng không oán không trách, chính là nỗ lực nên có của người học. Hành viễn tự nhĩ, đăng cao tự ti – đi đường xa bắt đầu từ bước gần nhất, leo núi cao bắt đầu từ chỗ thấp nhất (x), thiên lý chi hành, khởi ư túc hạ – đường xa ngàn dặm, bắt đầu từ từ việc đi bước đầu tiên (xi), người học theo khả năng có thể làm mà nỗ lực làm, cũng không phải lo lắng nghĩ đến chỗ khó khăn của việc học đến cấp bậc của thánh nhân.

Tiên sinh nói: Ta lúc mười lăm tuổi, bắt đầu có chí học tập. Đến ba mươi tuổi, có thể kiên định tự lập. Đến bốn mươi, ta đối với mọi loại đạo lý, có thể thông đạt không còn nghi hoặc. Đến năm mươi, ta có thể biết cái gì là thiên mệnh. Đến sáu mươi, tất cả những gì ta nghe được, đều có thể thông hiểu minh bạch hoàn toàn, không còn cảm thấy trong lòng có gì là trái ngược. Đến bảy mươi, ta chỉ mặc cho lòng tự nhiên không còn gì ước thúc, mà cũng sẽ không có chỗ nào là vượt qua quy củ pháp độ.

(i) “天生德於予,桓魋其如予何?”- thiên sinh đức ư dư, Hoàn Đồi kì như dư hà? – trời sinh ta có đức tính thiện, Hoàn Đồi có thể làm gì ta? (Hoàn Đồi là tư mã nước Tống, từng muốn giết hại Khổng tử). Đây cũng là câu trong Luận ngữ.

(ii) 文王既没,文不在兹乎?天之将丧斯文也,后死者不得与於斯文也。天之未丧斯文也,匡人其如予何?”- “Văn Vương kí một, văn bất tại tư hồ? Thiên chi tương táng tư văn dã, hậu tử giả bất đắc dữ ư tư văn dã. Thiên chi vị táng tư văn dã, Khuông nhân kì như dữ hà?” – Vua Văn Vương đã mất,  lễ nhạc văn hóa không phải đều ở tại chỗ của ta sao? Trời nếu như muốn tiêu diệt văn hóa này, người sau đã không thể có được văn hóa này. Trời nếu như không tiêu diệt văn hóa này, người Khuông có thể làm gì ta? Đây cũng là một câu trong Luận ngữ.

(iii) 子贡曰:“夫子之文章,可得而闻也。夫子之言性与天道,不可得而闻也。”- Tử cống viết: “Phu tử chi văn chương, khả đắc nhi văn dã. Phu tử chi ngôn tính dữ thiên đạo, bất khả đắc nhi văn dã.”

(iv) “高山仰止,景行行止,虽不能至,心向往之”- “Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hàng hành chỉ, tuy bất năng chí, tâm hướng vãn chi” – cao sơn: núi cao; cảnh hàng: con đường lớn (đại lộ); chữ “chỉ” là trợ từ cuối câu để nhấn mạnh; đức hạnh như núi cao khiến mọi người ngưỡng vọng, hành vi quang minh chính đại như con đường lớn, tuy không thể đạt đến trình độ này, nhưng tâm luôn hướng về điều đó. Haiz, thật lằng nhằng. Đầu tiên, 2 câu đầu là từ một bài trong Kinh Thi, Tiểu Nhã. Sau đại ca Tư Mã Thiên khi viết Sử ký, Khổng tử thế gia đã mượn hai câu này mà viết ra 4 câu trên.

(v) Phản cầu chư kỉ – 反求诸己 fǎn qiú zhūjǐ: Câu trong Lễ ký, nhìn nhận lỗi của bản thân, từ đó sửa cho đúng, chứ không trách người khác. Tiếng Anh: to seek the cause in oneself rather than sb else.

(vi) Nguyên văn là chữ này: 忠恕 – trung có nghĩa là tận tâm kiệt lực, dốc lòng, hết lòng; thứ là dùng tâm ý của mình mà suy ra tâm ý của người khác, đặt mình vào vị trí của người khác mà suy nghĩ.

(vii) Nguyên văn: 无所用心 – wú suǒ yòng xīn – vô sở dụng tâm.

(viii) Nguyên văn: 日就月将 – rì jiù yuè jiāng – nhật tựu nguyệt tương: câu xuất xứ từ Kinh Thi, mỗi ngày đều tiến đến gần hơn một tý, hình dung tinh tiến không ngừng.

(ix) Nguyên văn: 不怨天,不尤人,下学而上达,知我者其天乎 – bất oán thiên, bất vưu nhân, hạ học nhi thượng đạt, tri ngã giả kì thiên hồ – không oán trời, không trách người, dưới học mà trên suốt mọi sự lý/thiên mệnh, hiểu được ta chỉ có trời chăng?. Đây cũng là một câu trong Luận ngữ.

(x) Nguyên văn: 行远自迩,登高自卑 – xíng yuǎn zì ěr, dēng gāo zì bēi – Hành viễn tự nhĩ, đăng cao tự ti. Đi đường xa bắt đầu từ bước gần nhất, leo núi cao bắt đầu từ chỗ thấp nhất. Ví dụ với việc để đạt được mục tiêu cao xa, cần phải bắt đầu từ bước gần nhất. Câu trong Trung dung.

(xi) Nguyên văn: 千里之行,起于足下 – Qiān lĭ zhī xíng, shĭ yú zú xià – thiên lý chi hành, khởi ư túc hạ. Đi xa ngàn dặm, bắt đầu bằng việc hạ chân xuống. Câu của Lão tử.

[Luận ngữ biệt tài – Nam hoài Cẩn]

Đây là Khổng tử tự bạch, tại sao Khổng tử đang nói đến vi chính, lại phải tự bạch như vậy? Khổng tử 72 tuổi mất. Ông dùng mấy câu đơn giản, nói về trải nghiệm một đời của bản thân, tinh thần gian khó phấn đấu. Thân thế của ông rất đáng thương, lúc phụ thân qua đời, ông hãy còn một người anh bán tàn phế và một người chị, đối với gia đình, ông phải gánh trách nhiệm này, tránh nhiệm của ông rất nặng. Ông nói lúc 15 tuổi, lập chí học tập, qua 15 năm, dựa theo kinh nghiệm phong phú của ông, cũng như tôi luyện của cuộc đời, đến 30 tuổi mới “lập.” “Lập” chính là “bất động,” đạo lý làm người, hành xử, xử thế đã bất biến không thay đổi, đã xác định rồi, trong cuộc đời này không đi theo con đường này không được. Nhưng đến lúc này hãy còn hoài nghi, hãy còn hiện tượng dao động, “tứ thập nhi bất hoặc,” đến 40 tuổi, mới không hoài nghi, nhưng đây là lời nói đối với học vấn nhân sinh thuộc phạm trù hình nhi hạ. Vẫn cần thêm 10 năm nữa, đến 50 tuổi, mới “ngũ thập nhi tri thiên mệnh.” Thiên mệnh là lai nguyên của vũ trụ, đây là phạm vi bản thể tư tưởng hình nhi thượng.

Đến “lục thập nhi nhĩ thuận,” ở đây lại có vấn đề, Khổng tử trước 60 tai có vấn đề gì không thuận, khoang tai phát nóng? Câu này rất khó giải thích, có khả năng là thời đó khắc thiếu chữ. Có khả năng là sau “lục thập nhi” có một nửa câu nữa. Nếu theo giảng giải của ngày xưa, đạo lý của “nhĩ thuận” là nói, từ 15 tuổi bắt đầu tu dưỡng học vấn, làm người xử thế, đến 60 tuổi, lời tốt lời xấu bất kể người khác nói gì, bản thân đều nghe được mà tuyệt không động tâm, không tức giận, người khác mắng chửi, cũng nghe được, trong tâm bình tĩnh. Chú ý! Tâm lý bình tĩnh  không phải là tử khí tối sầm, mà là rất hoạt bát có sinh khí, rất hiểu thị phi thiện ác, đối với người tốt cảm thấy đáng yêu đáng quý, đối với người xấu, cảm thấy cần giúp đỡ sửa thành người tốt, để có loại bình tĩnh này, loại học vấn này rất khó vậy. Sau đó lại thêm 10 năm nữa, mới “tòng tâm sở dục.” Văn hóa của Tây phương là tự do, nhưng phía sau còn một lời rất quan trọng nữa, “bất du củ.” Chúng ta ra đường mà xem, bánh bao nhà kia làm rất ngon, liền cầm ăn, “tòng tâm sở dục.” Như thế có được không? Cần “bất du củ.” Giữa người với người cần có 1 giới hạn. “Tòng tâm sở dục” – tự do nhưng không thể vượt qua giới hạn này, do đó “bất du củ,” đồng thời câu này cũng đạt tới đạo lý hình nhi thượng.

Nói đến đây, chúng ta cần nghiên cứu Khổng tử tại sao lại đem kinh nghiệm làm người, hành xử, học tập mấy chục năm đặt vào trong thiên “Vi chính.” Kinh nghiệm này vô cùng quan trọng, nguyên lai Vi chính chính là kinh nghiệm cuộc đời cần có.

Trên thế giới có hai thứ không có cách nào thực nghiệm được, chính là chính trị và quân sự. hai thứ này, bao la vạn tượng, biến động không ngừng. Nhìn từ lịch sử, chính trị của cổ kim đông tây, chuyên chế, quân chủ, dân chủ, tập thể, rốt cuộc như thế nào là tốt? Ai dám đưa ra kết luận? Đặc biệt là Trung Quốc hiện đại, vài chục năm gần đây, các loại văn hóa tư tưởng Tây phương, đều đến qua vũ đài Trung Quốc, nhưng tư tưởng Tây phương là từ văn hóa Tây phương, kết quả như thế nào? Do đó người vi chính cần hiểu nhân sinh, cần có kinh nghiệm, cần biết cách thấu hiểu. Do đó Khổng tử nói về kinh nghiệm của bản thân, tập hợp thành thiên Vi chính này, chính là nhắn nhủ những người liên quan đến chính trị, từ tu dưỡng của bản thân cho đến các gian nan của việc làm người, làm việc, đều không hề đơn giản, cần theo gương tinh thần này của ông, trong công việc cần hiểu rõ việc, mới đem đoạn này đưa vào thiên Vi chính.

Từ các đoạn ở trên, chúng ta đi đến một kết luận: bất kể là vi chính hay làm việc gì, cần dựa vào tích lũy kinh nghiệm cuộc sống. Nhưng tích lũy kinh nghiệm cuộc sống thành cái gì? Đơn giản 4 chữ: “nhân tình thế cố” (i).

Nói đến nhân tình thế cố, người Trung Quốc hiện tại đem danh từ này dùng ngược lại, đây là việc rất không hay. Ví dụ nói “tên này quá thế cố,” là đang mắng người. Đặc biệt khi người ngoại quốc phê bình người Trung Quốc, mấy năm trước trong Trung ương Nhật báo tôi đã thấy bài viết kiểu này, nói người Trung Quốc cái gì cũng tốt, nhưng quá trọng nhân tình. Phản ứng của thanh niên nói chung đều như nhau, cho rằng người ngoại quốc này viết văn phi thường thấu triệt, tôi nói các bạn không cần cho rằng người ngoại quốc ở Trung Quốc học hai ba năm, có thể hiểu văn hóa Trung Quốc, vậy thì các bạn đang làm cái gì? Vài chục năm ăn cơm đều là ăn không. Văn hóa Trung Quốc luôn nói về nhân tình, thứ gọi là “nhân tình,” không phải là đến dịp lễ tết, đem một cây thịt muối, đầu đường biếu đến cuối ngõ, nhà trái biếu đến nhà phải, ở ngoài biếu đi biếu lại truyền tay đến cả tháng, không chừng lại vật quy nguyên chủ. Đây chỉ là tượng trưng của tình lễ, “nhân tình” mà văn hóa Trung Quốc nói đến là chỉ “tính tình” (tư tưởng, cảm tình) giữa người với người. Nhân tình hai chữ này, bây giờ giải thích ra, bao gồm cả xã hội học, chính trị học, tâm lý học, khoa học hành vi các loại, cũng là cảm tình dung hợp của con người với nhau.

“Thế cố” chính là thấu triệt hiểu rõ sự vật, hiểu được quá khứ, hiện tại, tương lai. “Cố” là sự tình, “thế cố” là các loại sự tình trên thế giới, cần phải hiểu về người, hiểu về sự tình, mới gọi là đạt được “nhân tình thế cố.” Nhưng hiện tại sau khi dùng theo nghĩa ngược lại, những thứ gì mà tên này quá “thế cố,” trở thành tên khác của giảo hoạt, không thành thật; “Nhân tình” biến thành từ dùng để chỉ vỗ mông ngựa (nịnh nọt). Như thế này đã làm hoàn toàn làm sai đi văn hóa Trung Quốc, đặc biệt người ngoại quốc viết càng không đúng.

Vi chính lấy “đức” làm gốc, lại dùng học để bồi dưỡng giáo dục tinh thần đôn hậu ôn nhã của “thi,” đây không phải là đã chuẩn bị đầy đủ điều kiện cho vi chính sao? Không phải. Mà là giống như một người quân nhân, các loại lý luận tư tưởng quân sự cổ kim đông tây đều học kỹ càng, nhưng đến súng bắn thế nào cũng không biết, binh nhất binh nhì là thế nào cũng không hiểu, loại người này cùng lắm chỉ có thể làm tham mưu, tuyệt đối không thể dẫn binh ra chiến trường được. Do đó phong thái hành văn của “Luận ngữ,” nhẹ nhàng chuyển, đem lời tự bạch giản lược của Khổng tử cho vào đây. Cũng là nói với chúng ta, đạo lý của vi chính chính là cần thấu hiểu một cách chân chính về nhân tình thế cố.

Tôi từng nói qua, các loại tư tưởng chính trị trên thế giới tổng kết lại, bất kể là của Trung Quốc hay thế giới, điểm trọng yếu nhất, ở bốn chữ “an cư lạc nghiệp.” Bất kỳ tư tưởng, lý luận chính trị nào, đều chưa vượt qua phạm vi của bốn chữ này; đều không có ngoại lệ mà hướng đến làm sao để khiến con người có thể an cư, có thể lạc nghiệp. Đồng thời chúng ta ở nông thôn đến đâu cũng có thể thấy câu “phong điều vũ thuận, quốc thái dân an.” Tám chữ này, theo cách nhìn của người ngày nay, thấy vô cùng cổ. Nhưng trong lịch sử cổ kim đông tây, nếu thật sự có thể đạt đến cảnh giới 8 chữ này, đối với bất kỳ quốc gia nào, dân tộc nào, thời đại nào mà nói, vô luận là lý tưởng chính trị gì thì cũng là cũng đạt được rồi. Mà mấy câu cổ này, chính là đã thấu triệt tư tưởng triết học chính trị do nhân tình thế cố sinh ra.

(i) Nhân tình thế cố -人情世故 – rén qíng shì gù (lại là 1 câu của Văn thiên Tường; cố có nghĩa là việc; đây là chỉ kinh nghiệm, đạo lý, phương pháp xử thế làm người).

[Lời bàn của YL]

Hihi, đúng là “thiên mệnh” là danh từ con người đặt cho những thứ mình không đạt được, nhưng giới hạn của thiên mệnh là gì, không ai nói được. Vì thế để tri thiên mệnh, chắc là việc không tưởng.

Đùa vậy thôi, theo cách hiểu cụ Tiền Mưu, có vẻ cái gì cũng là thiên mệnh. Thiên mệnh ở khắp mọi nơi (hơi giống với khái niệm Đạo trong Đạo học). Thiên mệnh là giới hạn, là đạo, là đạo nghĩa. Như thế càng trừu tượng nữa, khác gì bảo cái gì cũng biện chứng :-P.

Các nhà Nho, có vẻ cũng tránh bàn sâu về thiên mệnh (hoặc là vì bàn không ra được, mà ai cũng không muốn tỏ ra nói nhiều, cái văn hóa đề cao chữ “ngộ” nó khổ thế :-P).

Cụ Tiền Mưu đúng là đặt Luận ngữ lên bàn thờ mà thờ, chết chết, lại cho là Khổng tử/Nho giáo cao hơn các loại tôn giáo khác.

Nho học thiên về dạy đạo đức, luân lý, nhưng lại bỏ qua các vấn đề triết học cơ bản, ví dụ như bàn cãi cho ra nhẽ thiên mệnh là gì và vị trí của thiên mệnh trong mối quan hệ với các khái niệm khác. Mà tác động của việc thiếu đào sâu phân tích, thiếu tranh luận “cho ra nhẽ,” dẫn đến cái gì cũng mơ mơ hồ hồ (hay còn gọi là trừu tượng??? cao siêu???), thiếu lập luận chặt chẽ. Ngay như cụ Tiền Mưu mỗi chỗ cũng quan niệm thiên mệnh một khác, tổng hợp lại cứ thấy tù mù, ý tứ đá nhau chan chát….

 

Khách chí – Đỗ Phủ

Thấy bài này hay, nên chép lại đây. Thích nhất là câu thứ 3+4. Nguồn: thivien.net

Không biết có ai rỗi, khi nào đó check lại phần dịch hộ mình không??? 🙂

客至

舍南舍北皆春水,
但見群鷗日日來。
花徑不曾緣客掃,
蓬門今始為君開。
盤飧市遠無兼味,
樽酒家貧只舊醅。
肯與鄰翁相對飲,
隔籬呼取盡餘杯。

Bản giản thể

舍南舍北皆春水,
但见群鸥日日来。
花径不曾缘客扫,
蓬门今始为君开。
盘飧市远无兼味,
樽酒家贫只旧醅。
肯与邻翁相对饮,
隔篱呼取尽杯。

Khách chí

Xá nam xá bắc giai xuân thuỷ,
Ðãn kiến quần âu nhật nhật lai.
Hoa kiến bất tằng duyên khách tảo,
Bồng môn kim thuỷ vị quân khai.
Bàn tôn thị viễn vô kiêm vị,
Tôn tửu gia bần chỉ cựu phôi.
Khẳng dữ lăng ông tương đối ẩm,
Cách ly hô thủ tận dư bôi.

Dịch nghĩa

Phía nam, phía bắc nhà toàn là nước xuân,
Chỉ thấy những con chim âu ngày ngày bay tới.
Trước đây chưa từng có vì khách nào mà quét đường hoa,
Bây giờ mới vì bạn mà mở cửa cỏ bồng.
Mâm cơm chiều, vì chợ xa nên không có hai món trở lên,
Chén rượu, vì nhà nghèo nên chỉ có rượu cũ chưa lọc.
Thôi đành đối ẩm với lão hàng xóm,
Cách rào, gọi mang ra hết chén rượu còn lại.

Bản dịch của YL

Bên nam bên bắc nước xuân vầy

Chỉ thấy bầy cò vẫn lượn bay

Vắng khách ngõ hoa nào biết quét

Đợi ai cổng cỏ mở hôm nay.

Mâm chiều xa chợ không nhiều món

Ly rượu nhà nghèo chút vị cay

Cùng lão láng giềng vui đối ẩm

Cách rào gọi lấy chén ra bày.

Hàn

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.3

2.3. 子曰:“道之以政,齐之以刑,民免而无耻,道之以德,齐之以礼,有耻且格。”

Zǐ yuē: dào zhī yǐ zhèng, qí zhī yǐ xíng, mín miǎn ér wúchǐ, dào zhī yǐ dé, qí zhī yǐ lǐ, yǒu chǐ qiě gé.

Tử viết: đạo (1) chi dĩ chính, tề (2) chi dĩ hình, dân miễn (3) nhi vô sỉ (4), đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách (5).

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 道 – dào – đạo: có hai cách giải thích: một là “dẫn đạo” – dẫn dắt lãnh đạo; hai là “trị lý” – cai trị xử lý. Ý đầu so ra thỏa đáng hơn.
  2. 齐 – qí – tề: chỉnh tề, ước thúc, quản thúc.
  3. 免 – miǎn – miễn: tránh khỏi.
  4. 耻 – chǐ – sỉ: lòng hổ thẹn.
  5. 格 – gé – cách: có hai cách giải thích: một là “chí” –đạt đến, rất; hai là “chính.”

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Dùng pháp chế cấm lệnh để dẫn dắt bách tính, dùng hình pháp để quản thúc họ, bách tính chỉ mong tránh phạm tội chịu trừng phạt, nhưng mất đi lòng liêm sỉ; dùng đạo đức giáo hóa dẫn dắt bách tính, dùng lễ chế để thống nhất ngôn ngữ hành vi của bách tính, bách tính không những có lòng liêm sỉ, mà còn giữ gìn quy củ.”

[Bình luận- Chưa rõ là ai]

Trong chương này, Khổng tử nêu ra hai hai phương kế trị quốc khác nhau rành rành. Khổng tử cho rằng, hình phạt chỉ có thể khiến con người tránh phạm tội, không thể khiến họ hiểu được đạo lý là phạm tội đáng hổ thẹn thế nào, mà đạo đức giáo hóa so với hình phạt cao minh hơn nhiều, có thể khiến họ tuân thủ pháp luật quy củ, lại có thể khiến họ có lòng biết được thế nào là hổ thẹn. Điều này phản ảnh điểm đặc biệt của đạo đức trong việc trị lý quốc gia so với pháp chế. Nhưng cũng nên chỉ ra rằng: tư tưởng “vi chính dĩ đức” của Khổng tử, xem trọng đạo đức là cần thiết, nhưng lại xem nhẹ tác dụng của hình chính, pháp chế trong trị quốc.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu] 

道之以政- Đạo chi dĩ chính: chi – chữ chỉ người dân; đạo – nghĩa là lãnh đạo, dẫn dắt. Lấy chính sự mà lãnh đạo dân chúng, chính là cư thượng lâm hạ (ở trên cao nhìn xuống), pháp chế cấm lệnh, không thể thâm nhập vào lòng người.

齐之以刑- Tề chi dĩ hình: lãnh đạo mà nhân dân không theo, dùng hình phạt để khiến họ quy củ, dân biết là (lãnh đạo) có uy, nhưng lòng không được cảm hóa.

民免而无耻- Dân miễn nhi vô sỉ: miễn: muốn miễn bị phạt. Sỉ, lòng “sỉ” có điều bất cập (không tốt).  Chỉ nhanh tìm cách miễn bị hình phạt, lòng không có chút xấu hổ, không cảm giác gì mà tự thay đổi.

道之以德 – đạo chi dĩ đức: đức, là nhân cách và tâm địa của bản thân của người ở phía trên, dùng những phẩm chất này để lãnh đạo, mà người với người, tâm với tâm tương cảm tương thông, khác xa với việc ở trên cao mà nhìn xuống.

齐之以礼- tề chi dĩ lễ: lễ, là chế độ/hệ thống phẩm cách. Người người đều tuân thủ theo hệ thống phẩm cách, cũng đem lại hiệu quả là dân đi vào quy củ. Nhưng theo lễ, khác với dùng hình. Bản chất của lễ là ở chỗ hai bên tình ý tương thông, do tình cảm mà ra, không phải do sợ hãi.

有耻且格- hữu sỉ thả cách: cách, nghĩa là rất, (đạt đến) cùng cực. Người ở trên  dùng đức cảm hóa quần chúng, lại có thể lấy lễ để dân đi vào quy củ, người ở dưới tự biết đến lòng hổ thẹn, mà muốn đạt được như người trên. Cách còn có nghĩa là “chính” (đúng, thích đáng, hợp lẽ) như trong cách thức, quy cách. Người ở dưới có điều hổ thẹn, tất cố gắng đạt được tiêu chuẩn mà người ở trên định ra. Hai nghĩa tương thông với nhau.

Lý tưởng chính trị của Khổng môn, chủ về đức hóa, lễ trị. Chương này phát huy sâu sắc ý nghĩa của nó. Đại khái nhân đạo (đạo của con người) là ăn ở với nhau hòa bình, bình đẳng, đạo lý tương thông. Điều chủ chốt của nhân đạo này là ở tại tâm. Giáo dục chính trị, đạo của nó là nhất quán, sự việc có thể khác nhau nhưng đều theo một hướng chúng. Đây cũng là ý nghĩa xuyên suốt của Khổng môn, tuy cổ kim thời đại khác nhau, nhưng đạo này không thể vi phạm.

Khổng tử nói: ‘Dùng chính trị để lãnh đạo dân, dùng hình pháp để đưa dân vào trật tự, dân chỉ muốn tránh hình phạt là được, không cảm thấy việc không phục tùng lãnh đạo là đáng hổ thẹn. Nếu đem đức để lãnh đạo dân, đem lễ để đưa dân đi vào trật tự, trong lòng ai cũng cảm thấy vi phạm lãnh đạo là điều hổ thẹn, tự có thể đạt được một cách chính xác những gì người ở trên muốn lãnh đạo họ để đạt tới.’ 

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Tử viết: đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ, đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách.

“Đạo” này là đạo trong lãnh đạo. Ở phần trước chúng ta vừa mới chỉ ra, Khổng tử bàn luận về vi chính, không phải là nói về chính trị, dùng quan niệm hiện đại miễn cưỡng mà nói, Khổng tử bàn luận là về triết học chính trị, hoặc là nguyên lý của chính trị. Khổng tử nói lãnh đạo một quốc gia, một xã hội, nếu như dùng chính trị thể chế để lãnh đạo, lại dùng pháp chế để quản lý, “tề chi dĩ hình,” khiến cho mọi người không phạm pháp, phạm pháp liền bị phạt. Nhưng dùng pháp chế để quản lý nhân dân, một mặt “dân miễn” (dân tìm cách để miễn bị tội), ai cũng sẽ trốn tránh, tìm lỗ hổng của luật pháp, hơn nữa họ trốn tránh được trách nhiệm, pháp luật và xử phạt, còn tự đắc ý (i), cho rằng anh chẳng làm gì được họ, không có chút lòng hổ thẹn nào. Điều này cùng với lời giảng của Lão tử của Đạo gia về “法令滋彰,盗贼多有” – “pháp lệnh tư chương, đạo tặc đa hữu – pháp luật càng dày đặc, đạo tặc càng nhiều – đạo lý như nhau.

Do đó Khổng tử lại nói: “đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách.” Giả dụ dùng đạo đức để lãnh đạo, mỗi người dân đều có hàm dưỡng đạo đức, “tề chi dĩ lễ,” lấy lễ giáo hóa. Đây là nói đến tinh thần lễ nghĩa, mọi người đều tự động tự phát, nếu như làm sai, có lòng hổ thẹn, như thế khiến người người  đều có liêm sỉ, không dám làm việc thiếu đạo đức, không cần đợi đến pháp luật chế tài, tự bản thân đã thấy vô cùng khó chịu, đây chính là có liêm sỉ. Đạt đến cảnh giới này, tất “thả cách,” chính là đạt được mục tiêu của chính trị. Do đó Khổng tử chủ trương dùng chính trị đạo đức, cảm hóa đạo đức, đây chính là chỗ bất đồng giữa tinh thần Nho gia và Pháp gia. Tuy nhiên, chính trị Trung Quốc, trước nay vẫn luôn là Đạo gia, Nho gia, Pháp gia kết hợp với nhau.

(i) Nguyên văn: Tự minh đắc ý -自鳴得意 – zì míng dé yì (tự cho mình là hay, biểu hiện đắc ý; hình dung tự tán thưởng bản thân)

[Lời bàn của YL]   

Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức vốn là rất hay nhưng cũng rất phức tạp, tiếc là các nhà bình luận về Luận ngữ không đi sâu vào. Có lẽ phải đọc các sách mang tính tổng kết và phân tích, hoặc các sách so sánh đối chiếu giữa Nho gia và Pháp gia, hoặc các sách đi sâu vào từng khái niệm cụ thể như đạo đức, pháp luật, lễ, hình? Nhìn từ góc nhìn kiến tạo, đạo đức phần nhiều được thể hiện trong pháp luật, mà pháp luật cũng góp phần xây dựng nên các chuẩn mực đạo đức, hai phạm trù này không nhất thiết nằm trong mối quan hệ đối lập nhau như cách nhấn mạnh ở đây. Tất nhiên, cần lưu ý rằng, Nho gia có khái niệm “lễ” đi kèm với đạo đức, mà ý nghĩa bao hàm cả luật pháp, như một chương nào đó trong thiên Học nhi đã đề cập đến, mỗi tội “lễ” có vẻ thiếu đi sự răn đe của “hình.”

Hàn

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: