Tử đằng thụ – Lý Bạch

Hoa tử đằng

紫藤树

紫藤挂云木,
花蔓宜阳春。
密叶隐歌鸟,
香风留美人。

Hán Việt:
Tử đằng quải vân mộc
Hoa mạn nghi dương xuân
Mật diệp ẩn ca điểu
Hương phong lưu mỹ nhân.

Dịch nghĩa:
Tử đằng quấn quanh cây cao đến mây
Hoa nở lan ra trong ngày xuân ấm vô cùng đẹp
Giữa đám lá dày có chim ca hát
Gió đưa hương làm mỹ nhân lưu luyến.

Hàn

Advertisements

Thi Phật Vương Duy

Dạo này Euro đang đến hồi gay cấn, cho nên nhà này cũng có người tự dưng lại ham thích trò đá bóng thế chứ…

Thôi thì sẵn tiện ko làm gì, ta sẽ viết 1 bài giới thiệu về nhà thơ Vương Duy thời Đường vậy (sao mà trên đời lại có người tử tế như thế này nhỉ???)

Đầu tiên phải để ý, Vương Duy là 1 nhà thơ lớn của Đường Thi, cho nên tiểu sử thân thế và hoạt động cách mạng của ông tràn lan trên mạng, cứ google 1 phát là ra 1 loạt, thế nên là ta sẽ ko nhắc lại ở đây (copy paste tốn ko gian). Các điểm chính yếu thì như sau:

1. 王维 (Duy trong duy trì), 701-761, thuộc thời Thịnh Đường (sẵn tiện thì nhớ luôn Lý Bạch 701-762, 1 bác ăn chay niệm phật, 1 bác hào hoa phóng túng, rượu chè sa đọa => bác rượu chè sống lâu hơn 1 năm => có nên rút ra 1 chút kinh nghiệm? :P, tiện thể thì nhớ thêm Đỗ Phủ nhỏ hơn Lý Bạch tầm 10 tuổi, sau này 2 người Lý Đỗ có 1 giai đoạn kết huynh bái đệ cũng ồn ào lắm, ko biết có thật ko, nhớ mang máng hồi xưa cô giáo dạy văn nói thế :D).

[ Ngoài lề: Thơ Đường dc chia ra làm 4 thời kỳ/giai đoạn, gọi là Sơ Đường (tầm từ 600-690AD, vd Vương Bột, Trần Tử Ngang), Thịnh Đường (690-760, Lý Bạch, Đổ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên và 1 loạt họ Vương như Vương Duy, Vương Hàn, Vương Xương Linh, Vương Chi Hoán… vô số kể), Trung Đường (750-810, Bạch Cư Dị) và Vãn Đường (800-900, vd Đỗ Mục, Lý Thương Ẩn, Ôn Đình Quân). Cách phân thời gian ở đây là ta áng chừng để dễ tưởng tượng nhé, lúc nào đọc thêm về Thơ Đường sẽ viết bài khác cụ thể hơn. Để ý là có sự overlapping giữa các giai đoạn này, chứ ko phải dứt thời Sơ Đường thì mới đến Thịnh Đường. Vì cách chia này 1 phần phụ thuộc vào tình hình chính trị-xã hội đương thời (=> mà ảnh hưởng đến chủ đề  của thơ ca), 1 phần cũng phụ thuộc vào cái gọi là phong cách và thi pháp nữa.]

2. Sự nghiệp: nhà thơ, họa sĩ, thư pháp gia và chính khách. 21 tuổi đỗ Trạng Nguyên, sau đó thì làm quan. Nghề tay trái: thầy tu phái Thiền Tông, lấy tên tự là Ma Cật, lấy từ cuốn Duy Ma Cật Kinh 😛 (Ngoài lề thì Duy-ma-cật 維摩詰 là phiên âm Hán Việt của 1 ông thầy tu tên là Vimalakirti, người Ấn độ, khoảng 100 AD, người viết cái Duy ma cật kinh, hay là  Vimalakirti Sutra).

Vương Duy nằm trong top xịn của xịn thời Đường là vì: 1. dc người đời yêu mến mà tôn xưng là Thi Phật (chỉ có 2 người khác cũng dc đặt nickname thôi nhé, là Thi Tiên Lý Bạch và Thi Thánh Đỗ Phủ). 2. Trong tập Đường Thi 300 thì Đỗ Phủ có số bài dc dẫn nhiều nhất, 39 bài, Lý Bạch đứng 2 với 34 bài, Vương Duy đứng 3 với 29 bài, tiếp là Lý Thương Ẩn 24 bài, Mạnh Hạo Nhiên 15 bài…

3.  Điền viên thi phái: là phái thơ lấy chủ đề là cuộc sống điền viên ẩn dật, hoặc ca ngợi phong cảnh núi non, trường phái này lấy cảm hứng từ (hoặc là dc đặt nền móng bởi) thi ca ẩn dật của Đào Uyên Minh thời Đông Tấn,  cách đó tầm 3-400 năm (nếu ko nhầm bác này rất thích viết về hoa cúc thì phải, nhầm thì thôi :P). Nổi bật có Mạnh Hạo nhiên, Vương Duy, Trữ Quang Hy (là ai ko biết, nhưng tên đẹp :P), Thường Kiến (ko biết nốt), Kỳ Vô Tiềm… (mấy ông này thường thì biết nhau hết cả, chắc cũng hay  có trò nhậu nhẹt đàn đúm, vì thấy thơ cứ mutually tống người này biệt người kia loạn cả lên, vd Vương Duy có bài Tống Kỳ Vô Tiềm Lạc Đệ Hoàn Hương – Tiễn Kỳ Vô Tiềm thi rớt về quê :P)

[Ngoài lề: Song song vs phái điền viên, thời này có 1 phái cũng rất có tiếng tăm, đó là Biên Tái Thi Phái 边塞诗派, chủ đề như kiểu các bài Lương Châu Từ, nói về cuộc sống nơi biên ải hào hùng, bi thương (thường rất hay :P). Nổi bật là Sầm Than, Cao Thích, Vương Xương Linh, Vương Chi hoán, Thôi Hiệu…]

4. Đời sau nhận xét về thơ Vương Duy:  lấy trên wiki 😛

Tô Đông Pha đời Tống khi viết về Vương Duy có câu: “味摩诘之诗, 诗中有画; 观摩诘之画, 画中有诗” (vị Ma Cật chi thi, thi trung hữu họa; quan Ma Cật chi họa, họa trung hữu thi, dịch nghĩa: Thưởng thức thơ của Ma Cật, trong thơ có hoạ đồ; ngắm họa đồ của Ma Cật, trong họa đồ có thơ. Đồng Kỳ Xương đời Minh thì cho Vương Duy là ông tổ của phong cách họa sơn thủy Nam tông (Nam tông họa chi tổ).

5. Một số bài thơ hay

Thơ về bạn bè + ẩn dật lánh đời là thành phần chính trong di sản để lại của ông.

Tống Biệt (có 3 bài, trong đó thường ngta hay dẫn bài Hạ/Há Mã Ẩm Quân Tửu)

下馬飲君酒,
問君何斫之?
君言不得意,
歸臥南山陲。
但去莫復問,
白雲無盡時。

Há mã ẩm quân tửu,
Vấn quân hà sở chi?
Quân ngôn bất đắc ý:
Quy ngoạ Nam Sơn thuỳ.
Đãn khứ mạc phục vấn,
Bạch vân vô tận thì!

Xuống yên chuốc chén rượu đào
Hỏi anh đi đến nơi nào hỡi anh
Thưa rằng lòng đã bất bình
Nam sơn kia để cho mình nghỉ ngơi
Anh đi tôi chẳng dài lời
Kìa làn mây trắng bên trời ngổn ngang. (thivien dịch)

Tống Kỳ Vô Tiềm lạc đệ hoàn hương

聖代無隱者,
英靈盡來歸,
遂令東山客,
不得顧採薇。
既至金門遠,
孰雲吾道非?
江淮度寒食,
京洛縫春衣。
置酒長安道,
同心與我違;
行當浮桂棹,
未幾拂荊扉。
遠樹帶行客,
孤城當落暉。
吾謀適不用,
勿謂知音稀?

Thánh đại vô ẩn giả,
Anh linh tận lai quy.
Toại linh Ðông Sơn khách,
Bất đắc cố thái vi.
Ký dĩ kim môn viễn,
Thục vân ngô đạo phi.
Giang Hoài độ Hàn thực,
Kinh Lạc phùng xuân y.
Trí tửu Trường An đạo,
Ðồng tâm dữ ngã vi.
Hành đương phù quế trạo,
Vị kỷ phất kinh phi.
Viễn thụ đới hành khách,
Cô thành đương lạc huy.
Ngô mưu thích bất dụng,
Vật vị tri âm hy.

Thịnh đời, khó kẻ ẩn danh
Đông Sơn bỏ hái rau xanh độ ngày
Ùng ùng khách giỏi anh tài
Xa xôi trực chỉ tường đài Kinh Đô
Bốn phương tám hướng đổ xô
Vị chi mấy kẻ được vô Cửa Vàng
Tiệc bày tiễn bạn Trường An
Lúc xưa Kinh Lạc áo Xuân đón chào
Giang Hoài Hàn thực đã lâu
Đón hoa tuyết lạnh cũng bao năm rồi
Rượu nầy cách biệt ngăn đôi
Anh về chốn cũ xa nơi thị thành
Đường quê chèo quế, tre xanh
Làng thôn, bóng mát hửu tình nhẹ đưa
Tài anh chẳng được kẻ ưa
Cũng đừng tự trách người chưa hiểu mình. (thivien dịch)

Đấy, nx thể loại phê phán chế độ đương thời, bất đắc chí phải đi ẩn dật kiểu “Quân ngôn bất đắc ý, quy ngoạ Nam Sơn thuỳ” với lại “Ngô mưu thích bất dụng, vật vị tri âm hy” là 1 theme quan trọng trong thi ca của ông.

Một số bài khác nổi tiếng về thú ẩn dật như Thanh Khê, Đào Nguyên Hành, Chung Nam Sơn, Chung Nam Biệt Nghiệp, Võng Xuyên Nhàn Cư… (Nguyễn Trãi cũng có 1 số bài thơ phảng phất kiểu ẩn dật, ko biết có phải bác ấy là 1 Vương Duy đích cuồng phiến hay ko). Một số bài phong cảnh sơn thủy hữu tình, vd như Sơn Cư Thu Minh, Hán Giang Lâm Diểu…

Thơ bạn bè: xem series các thể loại tống tiễn. Bên cạnh các thể loại ẩn dật, đây có lẽ cũng là đặc sản của Vương Duy đấy :P. Trên trang thivien thiếu 1 bài khá hay,  là Tống Nguyên Nhị Sử An Tây, bài này ngắn gọn, lời ít mà ý nhiều.

渭城朝雨浥轻尘,
客舍青青柳色新。
劝君更尽一杯酒,
西出阳关无故人。

Vị thành triêu vũ ấp khinh trần
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân
Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu
Tây xuất Dương quan vô cố nhân.

Dịch nghĩa: Tiễn Nguyên Nhị đi làm sứ ở An Tây

Vị Thành mưa buổi sáng lẫn bụi bay
Nhà khách xanh xanh màu liễu tươi
Mời anh thêm 1 ly rượu nữa
Bởi vì anh đi ra khỏi Dương Quan về phía tây là sẽ ko còn cố nhân nữa.

Bài thơ này bạn AC đọc qua đâu đó hồi xưa, vì nó giống 1 số bài thơ trường phái Biên Tái nên dễ nhớ :P. An Tây (ko phải Tây An) còn gọi là Tây Thành, Tây Vực, thời Đường dc đặt thành An Tây Đô Hộ Phủ , phía tây các quan ải như Ngọc Môn Quan, Dương Quan. (VD cũng có 1 số bài thơ biên tái như Sứ chí tại thượng, Lũng đầu ngâm, Lão tướng hành.)

Một số bài feminist như Tây Thi Vịnh, Lạc Dương Nữ Nhi Hành 😛

Một số bài ngũ ngôn tứ tuyệt, tả cảnh (điền viên, sơn thủy) là chính – cô đọng và toát lên cái gọi là thi trung hữu họa (nhưng mà có vương vấn cái j đó buồn buồn, ko biết diễn tả cụ thể thế nào, cảm giác thôi :P):  Hoa Tử Cương, Nam Mang, Vọng Lan Sài, Liễu Lãng …

Cũng viết cả thơ tình :P, vd bài Tương Tư (bài hát Hồng Đậu Sinh Nam Quốc chính là lấy cảm hứng từ đây), Thu Dạ Khúc…

Nhiều quá, đọc ko có hết, nói về cảm nhận cá nhân thì bạn AC thích nx bài sau: Tống Biệt, Tiễn Nguyên Nhị (ở trên), và 2 bài sau (sở dĩ thích các bài này có lẽ là do đọc đầu tiên thì phải, love at 1st sight :P)

九月九日憶山東兄弟

Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ

獨在異鄉為異客,
每逢佳節倍思親。
遙知兄弟登高處,
遍插茱萸少一人。

Độc tại dị hương vi dị khách,
Mỗi phùng giai tiết bội tư thân.
Dao tri huynh đệ đăng cao xứ,
Biến sáp thù du thiểu nhất nhân.

Một mình làm khách ở xứ lạ ,
Mỗi khi tới ngày lễ lạt lại càng thêm nhớ bạn bè xưa.
Từ nơi này trông về, vẫn biết rằng anh em hôm nay lên nơi cao,
Đều cắm cánh thù du nhưng thiếu mất mội người.

(插茱萸 Phong tục của người TQ thời xưa, tiết Trùng Cửu thì cắm cành thù du trên đầu để trừ tà này nọ)

雜詩其一

君自故鄉來,
應知故鄉事。
來日綺窗前,
寒梅著花未。

Tạp Thi Kỳ 1

Quân tự cố hương lai,
Ưng tri cố hương sự.
Lai nhật ỷ song tiền,
Hàn mai trước hoa vị.

Anh từ quê nhà tới,
Chắc biết rõ chuyện ở quê cũ.
Trước ngày anh đi đến đây, (cây mai) trước cửa sổ
Cây hàn mai đã nở hoa chưa ?

…..

Có 1 điều bạn AC để ý đó là sự cô độc trong thơ Vương Duy (cảm nhận cá nhân thôi), và thơ ông luôn phảng phất 1 sự hoài vọng nào đó (bạn bè, người thân, quê cũ), (trừ mấy bài kiểu quy ẩn Chung Nam sơn) ko hiểu thiền là ở đâu? (Cái này mình đợi bạn YL đọc và giải đáp, mình cũng tập đá bóng :P)

Em nghĩ chúng ta nên dịch 1 vài bài của VD, cảm thấy rất đáng dịch, bài thì tùy người chọn 😉

——–

Anhca

Đăng Cao – Đỗ Phủ

Đổ Phủ thì ta chỉ thích được có vài bài (thật là ko biết thưởng thức mà), có điều bài Đăng Cao của ông thì ta cực kỳ cực kỳ là thích… Đọc thấy tâm trạng gì đâu 😦

Đang lười nên ko bình loạn j thêm, mà bài này thì chắc đã có rất nhiều bài phân tích, bình loạn rồi. Hay thế cơ mà.

登高

(杜甫)

風急天高猿嘯哀,
渚清沙白鳥飛回。
無邊落木蕭蕭下,
不盡長江滾滾來。
萬里悲秋常作客,
百年多病獨登臺。
艱難苦恨繁霜鬢,
潦倒新停濁酒杯。

 

Phiên âm

Phong cấp, thiên cao, viên khiếu ai,
Chử thanh, sa bạch, điểu phi hồi.
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu há,
Bất tận trường giang cổn cổn lai.
Vạn lý bi thu thường tác khách,
Bách niên đa bệnh độc đăng đài.
Gian nan khổ hận phồn sương mấn,
Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi.

Dịch nghĩa

Gió thổi, trời cao, vượn  kêu rầu rĩ,
Bến nước trong, làn cát trắng, chim bay liệng vòng.
Ngàn cây bát ngát lá rụng xào xạc,
Dòng sông dằng dặc, nước cuồn cuộn trôi.
Muôn dặm thu buồn, xót thân thường nơi đất khách,
Suốt đời quặt quẹo, một mình lên ngắm trên đài.
Gian khổ uất hận, mái tóc thêm ngả màu sương,
Lận đận vì mang nhiều bệnh mới phải ngừng chén rượu đục.

Lười nên lấy từ wiki   http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C4%83ng_cao

Đổ Phủ cũng có 1 bài “đăng cao” thãm thiết ko kém nà:

Đăng Nhạc Dương lâu

Tích văn Động Đình thuỷ,
Kim thướng Nhạc Dương lâu.
Ngô Sở đông nam sách,
Càn khôn nhật dạ phù.
Thân bằng vô nhất tự,
Lão bệnh hữu cô chu.
Nhung mã quan san bắc,
Bằng hiên thế tứ lưu.

Dịch nghĩa: Lên lầu Nhạc Dương
Xưa nghe nói nước hồ Động Đình
Nay được lên lầu Nhạc Dương
Đất Ngô, đất Sở chia tách ở hai phía đông nam
Trời đất suốt ngày đêm dập dềnh nổi
Bà con bạn hữu không có một chữ (thư từ qua lại)!
Thân già yếu lênh đênh trong chiếc thuyền côi quạnh
Quan san phía bắc đang nhộn binh đao
Tựa hiên, ròng ròng nước mắt, nước mũi!

Tiện thể bác Đổ Phủ “đăng cao” với nỗi sầu bi vô hạn, ta cũng dạo 1 vòng xem các vị khác “đăng cao” thì thế nào nhỉ 🙂

Đăng U Châu Đài Ca của Trần Tử Ngang – bài này thì quá đình đám đi rồi. Một trong nx bài thơ Tàu  đầu tiên ta học – ấn tượng rất chi là khó phai 😉

Tiền bất kiến cổ nhân,
Hậu bất kiến lai giả.
Niệm thiên địa chi du du,
Ðộc sảng nhiên nhi thế há.

Bản dịch của Tương Như

Ngưòi trước chẳng thấy ai
Người sau thì chưa thấy
Gẫm trời đất thật vô cùng
Một mình tuôn dòng lệ.

Hoàng Hạc Lâu – Thôi Hiệu: bài này thì khỏi phải chép phần dịch rồi, hình như dạo nào có bầu bán j bên thivien, bài này đoạt quán quân Top các bài thơ Đường hay nhất thì phãi.

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng Đài – Lý Bạch: đúng là ngược hẳn với Đỗ Phủ,  nỗi buồn của bác Lý nó “lãn mạng”, “mơ mộng” thế nào ấy 😉

Phượng Hoàng đài thượng phượng hoàng du,
Phượng khứ đài không giang tự lưu.
Ngô cung hoa thảo mai u kính,
Tấn đại y quan thành cổ khâu.
Tam Sơn bán lạc thanh thiên ngoại,
Nhị thuỷ trung phân Bạch Lộ châu.
Tổng vị phù vân năng tế nhật,
Trường An bất kiến sử nhân sầu.

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Đài Phượng Hoàng cao, phượng đến chơi,
Phượng đi, đài vắng, dải sông trôi !
Cung Ngô hoa cỏ che đường lối,
Đời Tấn cân đai hoá núi đồi.
Ba ngọn thanh sơn, trời khuất nửa,
Một vùng Bạch Lộ nước chia đôi.
Chỉ vì mây nổi che vầng nhật,
Chẳng thấy Trường An não dạ người.

Thục trung cửu nhật – Vương Bột: Anh Vương Bột là vì sang Việt Nam mà trên đường bị đắm tàu tử cho nên các bạn HS-AC luôn vẫn có sự “ưu ái” nhất định vs anh nà  . Đáng nhẽ là cop bài Đằng Vương Các Tự vào, nhưng mà dài quá, với lại bài đó nhà mình đọc quen rồi, đọc bài khác vậy

Cửu nguyệt cửu nhật Vọng Hương đài
Tha tịch, tha hương tống khách bôi
Nhân tình dĩ yếm Nam Trung khổ
Hồng nhạn na tòng Bắc địa lai

Trong đất Thục ngày mồng chín

Ngày mồng chín tháng chín lên đài Vọng Hương,
Trên chiếu lạ nơi đất khách rót chén rượu tiễn khách.
Lòng người đã chán cảnh khổ ở Nam Trung,
Chim hồng nhạn ở đất Bắc còn bay đến đây làm gì.

Đăng Lạc Du Nguyên – Lý Thương Ẩn

Hướng vãn ý bất thích,
Khu xa đăng cổ nguyên.
Tịch dương vô hạn hảo,
Chỉ thị cận hoàng hôn.

Lên Đồi Lạc Du

Về lúc chiều hôm, trong lòng chằng được vui
Đi xe lên vùng đất cổ
Ánh nắng chiều tà đẹp vô cùng
Chỉ là trời đã gần đến hoàng hôn, àizzz.

vv và vv…

Đi qua 1 vòng thì thấy các bác Tàu xưa cứ mà “đăng cao” là thể nào cũng u uẩn, bi thương. Ngắm cảnh đẹp thế mà còn buồn. Đẹp thì buồn, đẹp phải buồn, hay buồn mới đẹp? Là các người ấy cố ý viết thơ buồn buồn mới hút khách nhỉ??? Xem bác Hồ chúng ta chỉ trích “cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ” và “hiên đại thi trung ưng hữu thiết” nà:

Thướng Sơn – Hồ Chí Minh: Bác hồ thì có mấy bài “lên núi” lận, Tẩu Lộ này, mới ra tù tập leo núi j j đó, lên núi coi đánh nhau j j đó nữa… bài nào bài nấy sắt thép tùm lum, khí thế bừng bừng. Nhưng chép đại diện bài này thôi — Đọc 1 phát thấy chữ “Cộng sản” to đùng viết hoa luôn rồi – màu đỏ nhuộm kín cả bài thơ đi

Lục nguyệt nhị thập tứ
Thướng đáo thử sơn lai
Cử đầu hồng nhật cận
Đối ngạn nhất chi mai.

Bản dịch của Tố Hữu

2 mươi 4 tháng 6
Lên ngọn núi này chơi
Ngẩng đầu: mặt trời đỏ
Bên suối 1 nhành mai.

Hay là hôm nào anh Vk vs chị HS cũng kiếm cái gò đất nào đó, leo lên đứng 1 lát xem bi thương hay “chất thép” có dâng lên ko, viết vài bài cho vui 🙂

Anh Ca

Nam hành biệt đệ – Vi Thừa Khánh – Đáp ý nàng Dật Ly

Nàng Dật Ly đã có nhã hứng gợi ý, nàng Yên Liên cũng không dám phụ lòng, thêm tý thuốc lắc để trợ thi hứng cho nàng Dật Ly.

Dịch thơ, nhưng ko biết post vào đâu, nếu post vào bài phân tích thơ của nàng Dật Ly e lại làm hỏng tình cảm trang nhã của bài phân tích, bởi vì đúng như nàng Dật Ly nói, dịch thơ khó có thể giữ nguyên được cái hay của bài nguyên gốc, mà cũng như  đã từng nói, đặc biệt dịch thơ ngũ ngôn càng không thể…

Vì thế đành phải tách ra thành một post khác…

Đạm đạm Trường Giang thuỷ,
Du du viễn khách tình.
Lạc hoa tương dữ hận,
Đáo địa nhất vô thanh.

Dịch nghĩa
Nước Trường Giang lờ lờ trôi,
Người đi trong lòng mênh mang cảm xúc.
Hoa rụng dường cũng chia nỗi hận,
Rơi tới mặt đất một tiếng động cũng không có.

Bản dịch ngũ ngôn của Yên Liên

1.
Trường Giang nước hững hờ

Viễn khách tình trơ vơ

Chia hận hoa buồn bã

Lặng rơi không tiếng tơ.

2.
Trường Giang nước lờ lững
Người đi tình ngổn ngang
Lặng rơi không gợn tiếng
Hoa cũng sầu đa mang

Bonus thêm hai bản lục bát phóng dịch

Phóng dịch là đã lồng tình ý của người dịch. Vì thế cố ý bỏ đi tên địa danh Trường Giang, vì không gắn bó gì với cảm nhận của người dịch cả (nhưng vẫn imply hihi).

1.

Sông dài nước mãi trôi xuôi

Người đi trời đất ngôn nguôi dạ sầu

Người buồn hoa có vui đâu

Lặng rơi cho trọn với câu hữu tình.

2.

Sông dài nước chảy hững hờ

Trơ cùng tuế nguyệt bơ vơ một người

Chia sầu hoa cũng biếng tươi

Rơi không thành tiếng chẳng lời biệt ly

Hoa Sinh

Nam Hành Biệt Đệ – Vi Thừa Khánh

南行別弟

澹澹長江水﹐
悠悠遠客情﹐
落花相與恨﹐
到地一無聲。

Phiên âm
Đạm đạm Trường Giang thuỷ,
Du du viễn khách tình.
Lạc hoa tương dữ hận,
Đáo địa nhất vô thanh.

Dịch nghĩa
Nước Trường Giang lờ lờ trôi,
Người đi trong lòng mênh mang cảm xúc.
Hoa rụng dường cũng chia nỗi hận,
Rơi tới mặt đất một tiếng động cũng không có.

Vi Thừa Khánh (韋承慶): sống vào khoảng thời Võ Tắc Thiên (thời Đường). Bài thơ được sáng tác khi tác giả vì liên quan tới phe đảng Trương Dịch Chi mà bị đày đi Lĩnh Nam (theo thivien.net)

Bài thơ cô đọng và súc tích. Những từ láy như đạm đạm, du du làm cho ý thơ cứ mênh mênh mang mang. Khung cảnh mông lung mà tĩnh mịch, đến hoa rơi mà cũng không phát ra tiếng động. Thật là một bức tranh đẹp, dù hơi nhuốm màu sầu bi (anyway, buồn thì mới đẹp, xưa nay vẫn thế mà hehe)

Tác giả ko nhắc tới người đi tiễn, ngoại trừ chữ “đệ” ở title. Nhưng mà từ tâm trạng của người “viễn khách”, từ nỗi hận của nx cánh hoa rơi, người đọc có lẽ cũng dễ dàng mà tưởng tượng ra tình cảm người đi tiễn, buồn bã mà lo lắng. Giờ phút phân ly lúc nào cũng não lòng, người đi thì dùng dằng, mờ mịt; người ở thì lưu luyến, xót xa…

Biết là dịch thơ khó mà giữ lại được cái hay của bài thơ nguyên gốc, nhưng không biết Háo Sắc phú ni có nhã hứng chăng? Bài thơ này hay quá, có lẽ cũng xứng đáng bõ công dịch một phen?

Anh Ca

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: