Tử đằng thụ – Lý Bạch

Hoa tử đằng

紫藤树

紫藤挂云木,
花蔓宜阳春。
密叶隐歌鸟,
香风留美人。

Hán Việt:
Tử đằng quải vân mộc
Hoa mạn nghi dương xuân
Mật diệp ẩn ca điểu
Hương phong lưu mỹ nhân.

Dịch nghĩa:
Tử đằng quấn quanh cây cao đến mây
Hoa nở lan ra trong ngày xuân ấm vô cùng đẹp
Giữa đám lá dày có chim ca hát
Gió đưa hương làm mỹ nhân lưu luyến.

Hàn

Advertisements

Cô Nhạn – Thôi Đồ

Lâu lắm mới vào viết post, thấy ngay cái avatar đã bị thay thành 1 bó hoa tập tàng >_< hix dạo này lại có người yêu hoa cuồng nhiệt T_T
Thực hiện lời hứa, cho xứng với cái tên của mình, hôm nay Hứa mỗ đặc biệt mở Đường Thi 300 Thủ ra ngắm nghía. Xem qua xem lại toàn những bài nghe rõ là đau thương não nề. Thế là đành nhắm mắt giở đại, trúng bài nào thì trúng… Hix xong ra cái bài nghe não kinh người – thê thảm quá mức. Đành phải post lên vậy (mặc dù thực ra là muốn bốc trúng bài nào hớn hở hơn 1 chút).
Bài này tên là Cô Nhạn, của 1 ông tên là Thôi Đồ, cụ thể như sau:
孤雁
几行归塞尽
念尔独何之  
暮雨相呼失
寒塘欲下迟。
渚云低暗度
关月冷相随
未必逢矰缴
孤飞自可疑。
Phiên âm:
Kỷ hàng quy tái tận,
Niệm nhĩ độc hà chi
Mộ vũ tương hô thất,
Hàn đường dục hạ trì.
Chử vân đê ám độ,
Quan nguyệt lãnh tương tuỳ.
Vị tất phùng tăng chước,
Cô phi tự khả nghi.
Dịch nghĩa:
Con Ngỗng trời Cô độc
Mấy hàng đã bay xa khỏi biên tái (biên giới)
Tại sao ngươi lại còn một mình làm gì thế
Trong mưa chiều kêu gọi đồng bạn
Muốn chậm chạp đáp xuống hồ nước lạnh ngắt
Tầng mây trên bãi cạn là là bay qua
(Nhưng) chỉ có vầng trăng lạnh nơi biên quan là cùng với ngươi.
Chưa chắc là sẽ gặp phải cung tên
Nhưng bay một mình khó tránh làm cho lòng người nghi ngại (giùm)./.
Bài thơ này được đánh giá khá cao về mặt nghệ thuật, bởi vì cả bài toát lên được tình cảnh đơn côi của một con ngỗng trời đơn độc (cô nhạn) nhưng chỉ dùng 1 chữ “độc” câu đầu và 1 chữ “cô” ở câu cuối. Những câu còn lại ko trực tiếp miêu tả con ngỗng, nhưng đều toát lên sự đơn độc của nó (đọc thấy tội nghiệp quá trời 😥 )
Bài thơ có thể là một ẩn dụ, từ sự quan tâm trắc ẩn của tác giả đối với tình thế cô độc của con ngỗng, với một tương lai khá mịt mờ, nguy hiểm, người ta có thể liên tưởng tới đây là tác giả đang tự thương cảm cho tình cảnh của chính mình.
Thôi Đồ, thời Mạt Đường, thân thế không ghi chép lại được gì nhiều, chỉ biết là đã từng đỗ tiến sỹ. Tác phẩm để lại ko được mấy, nổi tiếng nhất là bài Trừ Dạ Hữu Hoài aka Ba Sơn Đạo Trung Trừ Dạ Thư Hoài (Hoài cảm Đêm Trừ tịch trên Đường đi Ba Sơn) – khiếp bài này cũng toát lên cái không khí cô độc lẻ loi y hệt cái bài Cô Nhạn ở trên. Có lẽ ông này đã từng là một đồng thanh đồng khí đồng chí antisocial với 1 số người nhất định 😛
巴山道中除夜书怀
迢递三巴路,
羁危万里身。
乱山残雪夜,
孤烛异乡春 (có bản chép là 人)
渐与骨肉远,
转于僮仆亲。
那堪正漂泊,
明日岁华新。
Ba San Đạo trung Trừ Dạ Thư Hoài
Điều đệ Tam Ba lộ,
Ki nguy vạn lí thân。
Loạn san tàn tuyết dạ,
Cô chúc dị hương xuân (nhân)。(*)
Tiệm dữ cốt nhục viễn,
Chuyển vu đồng phó thân。
Na kham chánh phiêu bạc,
Minh nhật tuế hoa tân.
Dịch nghĩa
Tam Ba đường sá xa xôi quá chừng (**)
Thân tôi phải đi trên vạn dặm hiểm nghèo
Trên những ngọn núi ngổn ngang ban đêm tuyết đọng lại phát ánh sáng
Ngọn nến đơn độc đêm xuân nơi đất khách (người nơi đất khách)
Càng đi xa cách người thân cốt nhục
Càng chuyển qua dần thân thiết với đứa hầu nhỏ
Không chịu được cảnh phiêu bạc nữa
Hôm sau là năm mới (hy vọng là hết cảnh phiêu bạt này)./.
Giải thích
(*) Haizzz cái này nhờ người đồng chí check lại jup 😛
(**) (Tam Ba, Ba San, Ba Thục aka Tứ Xuyên ngày nay)
———
Cách giải nghĩa của 2 bài này chủ yếu dựa trên baidu (hehe, ko bảo đảm chính cmn xác nhé, nhưng lười check nhiều nguồn khác quá)
Bài Trừ tịch hữu hoài rất nổi thì phải, có nhiều tiền bối đã dịch, có thể xem tại đây.
Hix đọc xong mấy bài mà rầu rĩ.
Chờ bản dịch.
……………
Hứa
[Bản dịch ngũ ngôn của YL]
Cô nhạn
Mấy đàn xa cuối ải
Sao lẻ ngươi nơi này
Lạc giọng chiều mưa xối
Bên đê lạnh gượng bay
Mây là trên bãi cạn
Trăng quạnh giữa đêm dày
Tên bắn chắc đâu gặp

Một thân đáng ngại thay.

Hàn

Đăng Bảo Đài sơn – Trần Nhân Tông

Hôm nay vừa than với con chim là lâu rồi ko dịch thơ Việt cổ, giờ tập dịch lại bài này để lấy tinh thần.

Đọc lời bình và giới thiệu thơ Trần Nhân Tông ở đây.

Từ lâu lắm rồi ý, tháng 8/2011, ngày con Chim đưa lên bài này, ta bảo sẽ cho bài này vào danh sách dịch, đến hôm nay, là tháng 5/2013, mới thực hiện.

Haiz, nhưng có còn hơn không bao giờ nhỉ. Mà đề nghị con chim tiếp tục sưu tầm thơ Việt về đây, pls.

Đăng Bo Đài Sơn

Ðịa tịch đài du cổ,
Thời lai xuân vị thâm.
Vân sơn tương viễn cận.
Hoa kính bán tình âm.
Vạn sự thủy lưu thủy,
Bách niên tâm dữ tâm.
Ỷ lan hoành ngọc địch,
Minh nguyệt mãn hung khâm.

Lên núi Bo Đài

Đất hẻo lánh, đài thêm cổ kính,
Theo thời tiết, mùa xuân về chưa lâu.
Núi mây như xa, như gần,
Ngõ hoa nửa rợp, nửa nắng.
Muôn việc như nước tuôn nước,
Trăm năm lòng lại nhủ lòng.
Tựa lan can nâng ngang chiếc sáo ngọc,
Ánh trăng sáng chan hoà trước ngực.

Bn dch ngũ ngôn ca Yên Liên

Đất vắng đài thêm cổ

Chuyển mùa, xuân đến cùng

Núi mây hình ẩn hiện

Ngõ nắng bóng hoa lồng.

Vạn sự nước xuôi nước

Trăm năm lòng với lòng

Tựa lầu nâng sáo ngọc

Tràn ngực ánh trăng trong.

Bản dịch lục bát

Đất xa cho núi cổ thêm

Tiết trời vừa chuyển êm đềm khí xuân.

Núi mây xa lại như gần

Ngõ hoa nửa nắng nửa phần thâm u.

Vạn sự theo nước phiêu du

Trăm năm lòng vẫn như xưa với lòng

Tựa lầu nâng sáo thong dong

Đầy tràn trước ngực  sáng ròng ánh trăng.

YL

Biệt Nguyễn đại lang kỳ 3 – Nguyễn Du

Mấy hôm tinh thần xuống dốc, đọc bài này, thấy vận vào thân…

Tuy nhiên Nguyễn Du + ngũ ngôn –> đăng lên đây đặc biệt để tặng nàng Dật Ly (vẫn luôn nhớ là nàng đặc biệt có cảm tình với thể loại ngũ ngôn).

別阮大郎其三

君歸我亦去,
各在亂離中。
生子交情在,
存忘苦節同。
柴門開夜月,
殘笠走秋風。
千里不相見,
浮雲迷太空。

Giản thể

君归我亦去,

各在乱离中。

生子交情在,

存忘苦节同。

柴门开夜月,

残笠走秋风。

千里不相见,

浮云迷太空。

Quân quy ngã diệc khứ,
Các tại loạn ly trung.
Sinh tử giao tình tại,
Tồn vong khổ tiết đồng.
Sài môn khai dạ nguyệt,
Tàn lạp tẩu thu phong.
Thiên lý bất tương kiến,
Phù vân mê thái không.

Dịch nghĩa

Anh về thì tôi cũng đi,
Hai ta cùng sống trong buổi loạn lạc.
Sống hay chết, tình bạn vẫn nguyên,
Còn hay mất, tiết khí vẫn giống nhau.
Dưới ánh trăng, cửa tre để ngỏ,
Trong gió thu, anh đi đầu đội nón rách.
Nghìn dặm không trông thấy nhau,
Chỉ thấy mây trôi mờ mịt chân trời.

(nguồn: thivien.net)

Bài này còn có cả lời tuyên ngôn về khí tiết 🙂 gợi nhớ đến mấy bài gì mà nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ…

Không hiểu có phải cụ làm bài này khi từ chối làm quan cho nhà Tây Sơn? (lười check).

Khi nào rỗi cũng sẽ dịch, nhưng chưa phải bây giờ…

Hàn Sinh

Bản dịch lục bát của Vũ Khánh

Bác về tôi cũng về thôi,
Ra chi đôi phận giữa thời loạn ly.
Tử sinh chẳng tuyệt tương tri,
Mất còn tấc dạ nào khi đổi dời ?
Kìa ai trăng lọt cửa sài,
Ai kia mê nón nẻo ngoài gió thu.
Chốc đà muôn dặm còn ngờ,
Mà trông trời đất mịt mù thức mây.
1 version 6-8 khác của VK huynh

Bác về tôi cũng về thôi,
Ra chi đôi phận giữa thời loạn ly.
Tử sinh chẳng thẹn tương tri,
Tồn vong tấc dạ có khi đổi dời ?
Kìa ai trăng ló cửa sài,
Nón mê ai đó nẻo ngoài gió thu.
Chốc đà muôn dặm hãy ngờ,
Trông ra trời đất mịt mù thức mây.

Và đây là ngũ ngôn 

Bác về tôi cũng đi,
Hai kẻ thời loạn ly.
Tương tri tình vẫn vẹn,
Tồn vong tiết chẳng lìa.
Cửa sài trông trăng lọt,
Nẻo ngoài phất thu y.
Muôn dặm từ đây biệt,
Mờ mịt thức mây che.

Bác về tôi trở gót,
Đời loạn phận ra chi.
Sống thác tình vẫn vẹn,
Đổi thay tiết khó lìa.
Cửa sài ai ngóng nguyệt,
Đường thu kẻ nón mê.
Dặm ngàn thôi cách biệt,
Bầu không mây tứ bề.
Đây là sự đua đòi của bạn Anhca 😛

Bác về tôi cũng đi
Ra vào cõi loạn ly
Sinh tử tình còn mãi
Tồn vong tiết vẫn y.
Cửa nghèo mặc trăng chiếu
Nón tàn phất thu phong.
Ngàn dặm chừng nao gặp
Mịt mờ mây loạn bay.

(Hình ảnh “mây loạn bay” thật là… giết chết cả bài thơ :D)

Bản dịch ngũ ngôn của Yên Liên

(bài này găm mấy hôm ở đó, nhưng đến hôm nay vẫn chưa nghĩ ra cách sửa cho vừa ý hơn, nay tạm đăng lên đây)

Người về ta cũng đi
Sống giữa buổi loạn ly
Sinh tử giao tình giữ
Tồn vong khí tiết ghi.
Cửa tre trăng bạc ngỏ
Nón rách gió thu lìa
Ngàn dặm ai đâu thấy
Tầng không mây kéo về.(*)
(*) Phân vân ko biết để mây xám mờ hay mây kéo về.
Bản dịch lục bát của Yên Liên
Người về ta cũng bước đi
Gặp thời loạn lạc chia ly cũng đành
Giao tình sinh tử còn mang
Tồn vong khổ tiết thênh thang đôi lòng
Cửa tre ngỏ, ánh trăng trong
Gió thu nón rách hai đường từ đây
Ngàn trùng xa cách cho ngây
Trông lên chỉ thấy chân mây mịt mù.
Và một version hơi khác
Người về ta cũng bước đi
Gặp thời loạn lạc chia ly cũng đành
Giao tình sinh tử còn mang
Tồn vong khổ tiết thênh thang đôi lòng
Cửa tre ngỏ, ánh trăng trong
Gió thu nón rách hai đường cách xa
Ngàn trùng ta chẳng thấy ta
Chân trời mây phủ âu là thế thôi.

Hàn

Đại Đăng Xuyên – Lê Quý Đôn

新景留紅樹,
斜陽下翠微。
雞鳴江月上,
蟬噪海雲歸。
潮水有朝夕,
漁翁無是非。

Đại Đăng xuyên 

Tân cảnh lưu hồng thụ,
Tà dương há thuý vi.
Kê minh giang nguyệt thướng,
Thiền táo hải vân quy.
Trào thuỷ hữu triêu tịch,
Ngư ông vô thị phi.

Dịch nghĩa:

Cảnh mới ghi dấu trên đám cỏ đỏ
Nắng chiều soi dọc giải núi giăng xanh
Gà gáy, trăng sông bắt đầu mọc
Tiếng ve chói tai, mây biển bay về
Nước triều có lúc sớm lúc tối
Ông chài chẳng thèm biết đến các việc phải trái.

(nguồn: thivien.net)

đăng lên một bài, để lấy tinh thần dịch, mà lâu nay đã bỏ bễ.

Nhà này mượn tên của Lê Quý Đôn đặt cho một mục lục, mà chưa có dịch bài nào của tiền bối này, nên chọn bài này là bài đầu tiên.

Thể loại thơ ngũ ngôn, nhưng có 6 câu thôi, ko biết có gì đặc biệt không? Phần bình thơ và kiến giải là của nàng Dật Ly.

Đọc hơi hao hao giống bài từ Lâm Giang Tiên của Dương Thận.

Hàn Sinh

Thi Phật Vương Duy

Dạo này Euro đang đến hồi gay cấn, cho nên nhà này cũng có người tự dưng lại ham thích trò đá bóng thế chứ…

Thôi thì sẵn tiện ko làm gì, ta sẽ viết 1 bài giới thiệu về nhà thơ Vương Duy thời Đường vậy (sao mà trên đời lại có người tử tế như thế này nhỉ???)

Đầu tiên phải để ý, Vương Duy là 1 nhà thơ lớn của Đường Thi, cho nên tiểu sử thân thế và hoạt động cách mạng của ông tràn lan trên mạng, cứ google 1 phát là ra 1 loạt, thế nên là ta sẽ ko nhắc lại ở đây (copy paste tốn ko gian). Các điểm chính yếu thì như sau:

1. 王维 (Duy trong duy trì), 701-761, thuộc thời Thịnh Đường (sẵn tiện thì nhớ luôn Lý Bạch 701-762, 1 bác ăn chay niệm phật, 1 bác hào hoa phóng túng, rượu chè sa đọa => bác rượu chè sống lâu hơn 1 năm => có nên rút ra 1 chút kinh nghiệm? :P, tiện thể thì nhớ thêm Đỗ Phủ nhỏ hơn Lý Bạch tầm 10 tuổi, sau này 2 người Lý Đỗ có 1 giai đoạn kết huynh bái đệ cũng ồn ào lắm, ko biết có thật ko, nhớ mang máng hồi xưa cô giáo dạy văn nói thế :D).

[ Ngoài lề: Thơ Đường dc chia ra làm 4 thời kỳ/giai đoạn, gọi là Sơ Đường (tầm từ 600-690AD, vd Vương Bột, Trần Tử Ngang), Thịnh Đường (690-760, Lý Bạch, Đổ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên và 1 loạt họ Vương như Vương Duy, Vương Hàn, Vương Xương Linh, Vương Chi Hoán… vô số kể), Trung Đường (750-810, Bạch Cư Dị) và Vãn Đường (800-900, vd Đỗ Mục, Lý Thương Ẩn, Ôn Đình Quân). Cách phân thời gian ở đây là ta áng chừng để dễ tưởng tượng nhé, lúc nào đọc thêm về Thơ Đường sẽ viết bài khác cụ thể hơn. Để ý là có sự overlapping giữa các giai đoạn này, chứ ko phải dứt thời Sơ Đường thì mới đến Thịnh Đường. Vì cách chia này 1 phần phụ thuộc vào tình hình chính trị-xã hội đương thời (=> mà ảnh hưởng đến chủ đề  của thơ ca), 1 phần cũng phụ thuộc vào cái gọi là phong cách và thi pháp nữa.]

2. Sự nghiệp: nhà thơ, họa sĩ, thư pháp gia và chính khách. 21 tuổi đỗ Trạng Nguyên, sau đó thì làm quan. Nghề tay trái: thầy tu phái Thiền Tông, lấy tên tự là Ma Cật, lấy từ cuốn Duy Ma Cật Kinh 😛 (Ngoài lề thì Duy-ma-cật 維摩詰 là phiên âm Hán Việt của 1 ông thầy tu tên là Vimalakirti, người Ấn độ, khoảng 100 AD, người viết cái Duy ma cật kinh, hay là  Vimalakirti Sutra).

Vương Duy nằm trong top xịn của xịn thời Đường là vì: 1. dc người đời yêu mến mà tôn xưng là Thi Phật (chỉ có 2 người khác cũng dc đặt nickname thôi nhé, là Thi Tiên Lý Bạch và Thi Thánh Đỗ Phủ). 2. Trong tập Đường Thi 300 thì Đỗ Phủ có số bài dc dẫn nhiều nhất, 39 bài, Lý Bạch đứng 2 với 34 bài, Vương Duy đứng 3 với 29 bài, tiếp là Lý Thương Ẩn 24 bài, Mạnh Hạo Nhiên 15 bài…

3.  Điền viên thi phái: là phái thơ lấy chủ đề là cuộc sống điền viên ẩn dật, hoặc ca ngợi phong cảnh núi non, trường phái này lấy cảm hứng từ (hoặc là dc đặt nền móng bởi) thi ca ẩn dật của Đào Uyên Minh thời Đông Tấn,  cách đó tầm 3-400 năm (nếu ko nhầm bác này rất thích viết về hoa cúc thì phải, nhầm thì thôi :P). Nổi bật có Mạnh Hạo nhiên, Vương Duy, Trữ Quang Hy (là ai ko biết, nhưng tên đẹp :P), Thường Kiến (ko biết nốt), Kỳ Vô Tiềm… (mấy ông này thường thì biết nhau hết cả, chắc cũng hay  có trò nhậu nhẹt đàn đúm, vì thấy thơ cứ mutually tống người này biệt người kia loạn cả lên, vd Vương Duy có bài Tống Kỳ Vô Tiềm Lạc Đệ Hoàn Hương – Tiễn Kỳ Vô Tiềm thi rớt về quê :P)

[Ngoài lề: Song song vs phái điền viên, thời này có 1 phái cũng rất có tiếng tăm, đó là Biên Tái Thi Phái 边塞诗派, chủ đề như kiểu các bài Lương Châu Từ, nói về cuộc sống nơi biên ải hào hùng, bi thương (thường rất hay :P). Nổi bật là Sầm Than, Cao Thích, Vương Xương Linh, Vương Chi hoán, Thôi Hiệu…]

4. Đời sau nhận xét về thơ Vương Duy:  lấy trên wiki 😛

Tô Đông Pha đời Tống khi viết về Vương Duy có câu: “味摩诘之诗, 诗中有画; 观摩诘之画, 画中有诗” (vị Ma Cật chi thi, thi trung hữu họa; quan Ma Cật chi họa, họa trung hữu thi, dịch nghĩa: Thưởng thức thơ của Ma Cật, trong thơ có hoạ đồ; ngắm họa đồ của Ma Cật, trong họa đồ có thơ. Đồng Kỳ Xương đời Minh thì cho Vương Duy là ông tổ của phong cách họa sơn thủy Nam tông (Nam tông họa chi tổ).

5. Một số bài thơ hay

Thơ về bạn bè + ẩn dật lánh đời là thành phần chính trong di sản để lại của ông.

Tống Biệt (có 3 bài, trong đó thường ngta hay dẫn bài Hạ/Há Mã Ẩm Quân Tửu)

下馬飲君酒,
問君何斫之?
君言不得意,
歸臥南山陲。
但去莫復問,
白雲無盡時。

Há mã ẩm quân tửu,
Vấn quân hà sở chi?
Quân ngôn bất đắc ý:
Quy ngoạ Nam Sơn thuỳ.
Đãn khứ mạc phục vấn,
Bạch vân vô tận thì!

Xuống yên chuốc chén rượu đào
Hỏi anh đi đến nơi nào hỡi anh
Thưa rằng lòng đã bất bình
Nam sơn kia để cho mình nghỉ ngơi
Anh đi tôi chẳng dài lời
Kìa làn mây trắng bên trời ngổn ngang. (thivien dịch)

Tống Kỳ Vô Tiềm lạc đệ hoàn hương

聖代無隱者,
英靈盡來歸,
遂令東山客,
不得顧採薇。
既至金門遠,
孰雲吾道非?
江淮度寒食,
京洛縫春衣。
置酒長安道,
同心與我違;
行當浮桂棹,
未幾拂荊扉。
遠樹帶行客,
孤城當落暉。
吾謀適不用,
勿謂知音稀?

Thánh đại vô ẩn giả,
Anh linh tận lai quy.
Toại linh Ðông Sơn khách,
Bất đắc cố thái vi.
Ký dĩ kim môn viễn,
Thục vân ngô đạo phi.
Giang Hoài độ Hàn thực,
Kinh Lạc phùng xuân y.
Trí tửu Trường An đạo,
Ðồng tâm dữ ngã vi.
Hành đương phù quế trạo,
Vị kỷ phất kinh phi.
Viễn thụ đới hành khách,
Cô thành đương lạc huy.
Ngô mưu thích bất dụng,
Vật vị tri âm hy.

Thịnh đời, khó kẻ ẩn danh
Đông Sơn bỏ hái rau xanh độ ngày
Ùng ùng khách giỏi anh tài
Xa xôi trực chỉ tường đài Kinh Đô
Bốn phương tám hướng đổ xô
Vị chi mấy kẻ được vô Cửa Vàng
Tiệc bày tiễn bạn Trường An
Lúc xưa Kinh Lạc áo Xuân đón chào
Giang Hoài Hàn thực đã lâu
Đón hoa tuyết lạnh cũng bao năm rồi
Rượu nầy cách biệt ngăn đôi
Anh về chốn cũ xa nơi thị thành
Đường quê chèo quế, tre xanh
Làng thôn, bóng mát hửu tình nhẹ đưa
Tài anh chẳng được kẻ ưa
Cũng đừng tự trách người chưa hiểu mình. (thivien dịch)

Đấy, nx thể loại phê phán chế độ đương thời, bất đắc chí phải đi ẩn dật kiểu “Quân ngôn bất đắc ý, quy ngoạ Nam Sơn thuỳ” với lại “Ngô mưu thích bất dụng, vật vị tri âm hy” là 1 theme quan trọng trong thi ca của ông.

Một số bài khác nổi tiếng về thú ẩn dật như Thanh Khê, Đào Nguyên Hành, Chung Nam Sơn, Chung Nam Biệt Nghiệp, Võng Xuyên Nhàn Cư… (Nguyễn Trãi cũng có 1 số bài thơ phảng phất kiểu ẩn dật, ko biết có phải bác ấy là 1 Vương Duy đích cuồng phiến hay ko). Một số bài phong cảnh sơn thủy hữu tình, vd như Sơn Cư Thu Minh, Hán Giang Lâm Diểu…

Thơ bạn bè: xem series các thể loại tống tiễn. Bên cạnh các thể loại ẩn dật, đây có lẽ cũng là đặc sản của Vương Duy đấy :P. Trên trang thivien thiếu 1 bài khá hay,  là Tống Nguyên Nhị Sử An Tây, bài này ngắn gọn, lời ít mà ý nhiều.

渭城朝雨浥轻尘,
客舍青青柳色新。
劝君更尽一杯酒,
西出阳关无故人。

Vị thành triêu vũ ấp khinh trần
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân
Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu
Tây xuất Dương quan vô cố nhân.

Dịch nghĩa: Tiễn Nguyên Nhị đi làm sứ ở An Tây

Vị Thành mưa buổi sáng lẫn bụi bay
Nhà khách xanh xanh màu liễu tươi
Mời anh thêm 1 ly rượu nữa
Bởi vì anh đi ra khỏi Dương Quan về phía tây là sẽ ko còn cố nhân nữa.

Bài thơ này bạn AC đọc qua đâu đó hồi xưa, vì nó giống 1 số bài thơ trường phái Biên Tái nên dễ nhớ :P. An Tây (ko phải Tây An) còn gọi là Tây Thành, Tây Vực, thời Đường dc đặt thành An Tây Đô Hộ Phủ , phía tây các quan ải như Ngọc Môn Quan, Dương Quan. (VD cũng có 1 số bài thơ biên tái như Sứ chí tại thượng, Lũng đầu ngâm, Lão tướng hành.)

Một số bài feminist như Tây Thi Vịnh, Lạc Dương Nữ Nhi Hành 😛

Một số bài ngũ ngôn tứ tuyệt, tả cảnh (điền viên, sơn thủy) là chính – cô đọng và toát lên cái gọi là thi trung hữu họa (nhưng mà có vương vấn cái j đó buồn buồn, ko biết diễn tả cụ thể thế nào, cảm giác thôi :P):  Hoa Tử Cương, Nam Mang, Vọng Lan Sài, Liễu Lãng …

Cũng viết cả thơ tình :P, vd bài Tương Tư (bài hát Hồng Đậu Sinh Nam Quốc chính là lấy cảm hứng từ đây), Thu Dạ Khúc…

Nhiều quá, đọc ko có hết, nói về cảm nhận cá nhân thì bạn AC thích nx bài sau: Tống Biệt, Tiễn Nguyên Nhị (ở trên), và 2 bài sau (sở dĩ thích các bài này có lẽ là do đọc đầu tiên thì phải, love at 1st sight :P)

九月九日憶山東兄弟

Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ

獨在異鄉為異客,
每逢佳節倍思親。
遙知兄弟登高處,
遍插茱萸少一人。

Độc tại dị hương vi dị khách,
Mỗi phùng giai tiết bội tư thân.
Dao tri huynh đệ đăng cao xứ,
Biến sáp thù du thiểu nhất nhân.

Một mình làm khách ở xứ lạ ,
Mỗi khi tới ngày lễ lạt lại càng thêm nhớ bạn bè xưa.
Từ nơi này trông về, vẫn biết rằng anh em hôm nay lên nơi cao,
Đều cắm cánh thù du nhưng thiếu mất mội người.

(插茱萸 Phong tục của người TQ thời xưa, tiết Trùng Cửu thì cắm cành thù du trên đầu để trừ tà này nọ)

雜詩其一

君自故鄉來,
應知故鄉事。
來日綺窗前,
寒梅著花未。

Tạp Thi Kỳ 1

Quân tự cố hương lai,
Ưng tri cố hương sự.
Lai nhật ỷ song tiền,
Hàn mai trước hoa vị.

Anh từ quê nhà tới,
Chắc biết rõ chuyện ở quê cũ.
Trước ngày anh đi đến đây, (cây mai) trước cửa sổ
Cây hàn mai đã nở hoa chưa ?

…..

Có 1 điều bạn AC để ý đó là sự cô độc trong thơ Vương Duy (cảm nhận cá nhân thôi), và thơ ông luôn phảng phất 1 sự hoài vọng nào đó (bạn bè, người thân, quê cũ), (trừ mấy bài kiểu quy ẩn Chung Nam sơn) ko hiểu thiền là ở đâu? (Cái này mình đợi bạn YL đọc và giải đáp, mình cũng tập đá bóng :P)

Em nghĩ chúng ta nên dịch 1 vài bài của VD, cảm thấy rất đáng dịch, bài thì tùy người chọn 😉

——–

Anhca

Tống Nhân Đông Du – Ôn Đình Quân

Giới thiệu tác giả (trích wiki cho nhanh nhé :P)

Ôn Đình Quân (chữ Hán: 溫庭筠, 813?-870?), vốn tên Kỳ (岐), tự Phi Khanh (飛卿); là nhà thơ, và là nhà làm từ Trung Quốc thời Vãn Đường.

Ôn Đình Quân là người đất Kỳ, phủ Thái Nguyên (nay là huyện Kỳ, tỉnh Sơn Tây), là cháu nội của Ôn Ngạn Bác, tể tướng triều Đường Cao Tông.
Ông thông minh, giỏi văn thơ, âm nhạc ; nhưng dung mạo xấu xí và có tính phóng đãng. Ông “thường cùng bọn con em vô lại các nhà quý tộc ra vào nơi ca lâu, rượu chè, bài bạc, say đắm nữ sắc, vì thế bị các sĩ đại phu đương thời khinh rẻ, suốt đời không đỗ được tiến sĩ” .
Có một thời, ông hay lui tới nhà quan tướng quốc Lệnh Hồ Đào (con Lệnh Hồ Sở), nhưng sau vì việc riêng, Hồ Đào đâm ra ghét ông.
Đến khi người ông quen là Từ Thương đi trấn giữ Tương Dương, ông được theo làm tuần quan, nhưng rồi vì bất đắc chí, ông xin thôi chức để sống đời phiêu lãng.
Mãi đến khi tuổi đã cao, đời vua Đường Tuyên Tông, ông mới nhận làm chức úy ở Phương Thành, rồi đổi sang huyện Tùy. Năm 866, ông được cử làm chủ thí, cuối cùng Quốc tử trợ giáo. Sau, ông lại bỏ chức, từ giã kinh thành Trường An, đi lưu lạc giang hồ cho đến khi mất.

Trước đây, người ta thường coi Lý Thương Ẩn và Ôn Đình Quân là hai nhà thơ cùng một phái, và gọi là “Ôn Lý”. Song, theo các nhà nghiên cứu văn học gần đây, thì gọi như thế có phần không chính xác, vì phong cách nghệ thuật của hai ông rất khác nhau. Về thành tựu thơ ca, Ôn Đình Quân còn kém xa Lý Thương Ẩn, vì thơ ông có phần “phù phiếm, nông cạn, thiếu những tình cảm chân thành”; nhưng nói về từ thì ông có nhiều bài rất đặc sắc. Từ của Ôn Đình Quân hiện còn hơn 70 bài trong Kim thuyên tập, nội dung hầu như đều viết về phụ nữ, về những mối sầu tương tư; và lấy màu sắc nồng đượm, lời lẽ hoa mỹ, tạo thành phong cách “thơm tho mềm mại, tràn ngập hương vị son phấn” của riêng ông. Phong cách này có ảnh hưởng đến các nhà làm từ đời sau, hình thành “Phái trong hoa” (Hoa gian phái) mà ông được tôn vinh là người đứng đầu.

Cho nên khi nói về từ đời Đường, học giả Nguyễn Hiến Lê cũng đã có lời khen ngợi từ của ông như sau:

Từ Ôn Đình Quân rất diễm lệ, lại sáng tác được nhiều điệu mới, ảnh hưởng đến đời sau rất nhiều. Ông đứng đầu trong nhóm từ gia có tác phẩm chép trong bộ “Hoa gian tập”. Ông chiếm một địa vị đặc biệt ở giữa cái thời thơ suy mà từ thịnh.

Thực ra nghe tên Ôn Đình Quân rất nhớ lâu, tại là thường dc nhắc kèm vs Lý Thương Ẩn (như ở trên), lại là người đứng đầu trong cái Hoa Gian Phái nổi tiếng, thêm nữa là tên nghe rất hay 😛 tuy nhiên là do ông viết nhiều Từ nên ta cũng ít khi đọc (lười đọc từ phết :P). Đọc tiểu sử thì thấy người ta có vẻ phê phán, haha, giới văn sỹ ăn chơi đàn đúm thì hình như thời nào cũng bị người đời dè bỉu 😛

Tuy nhiên, ko hiểu sao, theo lời mô tả ở trên, bác này dung mạo xấu xí, tính tình phóng đãng, nhưng mà thơ, nhất là từ, thì lại rất nhã nhặn, có thể xem tại đây

http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=52&Page=3

Vd 1 đoạn trong bài Vũ Y Khúc nhé:

Quản hàm lan khí kiều ngữ bi,
Hồ tào tuyết oản uyên ương ti.
Phù dung lực nhược ứng nan địch,
Dương liễu phong đao bất tự trì.

Dc dịch thơ thành:

Tiếng buồn theo ngọn sáo lan
Hồ cầm tay tuyết dây đàn uyên ương
Như phù dung yếu vấn vương
Như cành liễu cuốn trước cơn gió vày.

Trên thivien.net có 1 loạt các bài Từ của bác Ôn, nhưng mà trong bối cảnh blog đang bị tràn ngập bởi các bài từ bi thương, Âu Dương Tu, Bạch Cư dị, Lý Thanh chiếu, và nhất là Án Kỷ đạo, e rằng đưa từ của bác Ôn, mặc cho bi thương hay sặc mùi son phấn, vẫn sợ rằng chúng vẫn sẽ bị chìm nghỉm mất 😛

Tại hạ chú ý hơn đến thơ của Ôn Đình Quân, hì hì, chủ yếu bởi vì bị chê quá, vd “phù phiếm, nông cạn, thiếu những tình cảm chân thành”. Dĩ nhiên là trên thivien có 1 ít, có lẽ là chưa đủ bộ sưu tập, hoặc là chỉ post nx bài hay nhất (thông tin này để nàng Sen giỏi tiếng Bông sẽ check lại), nhưng đọc qua thấy cũng rất khá. Thực ra ta khá là phãn cảm với cách chê bai chủ quan như cái quote ở trên. Cái j là phù phiếm, là nông cạn, ai quy định cái j là chân thành… Đấy, biết đâu đời sống của ông Ôn chỉ quen thuộc vs nx hoạt động “phù phiếm”, vs nx kẻ phấn son đàn đúm, cũng như bác Án suốt ngày lang thang trong mộng, mỗi người mỗi cuộc đời, mỗi hoài bão, ước mơ riêng, làm sao ép dc người ta cứ phải làm “thơ dĩ tải đạo”, phải nói về nx tư tưởng lớn lao ???

Cũng có thể người ta chê phù phiếm và ko sâu sắc là bởi thơ của bác Ôn có vẻ ít sáng tạo, hay ước lệ, và thường tả cảnh là nhiều, vd:

Xuân Nhật Ngẫu Tác (Viết linh tinh ngày xuân)

Tây viên nhất khúc diễm dương ca,
Nhiễu nhiễu xa trần phụ bệ la.
Tự dục phóng hoài do vị đắc,
Bất tri kinh thế cánh như hà.
Dạ văn mãnh vũ phan hoa tận,
Hàn luyến trùng khâm giác mộng đa.
Ðiếu chử biệt lai ưng cánh hảo,
Xuân phong hoàn vị khởi vi ba.

Dc dịch thơ bởi Lý Tứ (trên thivien)

Tây viên văng vẳng khúc xuân ca
Xe cuốn bụi mờ phủ bệ la
Vẫn muốn thanh nhàn mà chửa được
Chưa tường thế sự sẽ kinh qua
Luyến lưu chăn ấm chờ cơn mộng
Ào ạt mưa đêm giật cánh hoa
Ly biệt, bến câu giờ hẳn đẹp
Gió xuân vẫn gợn sóng vì ta ?

Đọc qua mấy bài thơ trên thivien, thì bạn AC thích nhất là bài

送人東遊

荒戍落黃葉,
浩然離故關。
高風漢陽渡,
初日郢門山。
江上幾人在,
天涯孤棹還。
何當重相見,
樽酒慰離顏。

Tống Nhân Đông Du (Tiễn người đi về phía Đông)

Hoang thú lạc hoàng diệp,
Hạo nhiên ly cố quan.
Cao phong Hán Dương độ,
Sơ nhật Dĩnh Môn sơn.
Giang thượng kỷ nhân tại,
Thiên nhai cô trạo hoàn.
Hà đương trùng tương kiến,
Tôn tửu uỷ ly nhan.

Nghĩa là

Ngoài đồn lính xa xôi, lá vàng rơi tùm lum
(Người) Hào sảng mà rời cửa ải xưa (1)
Gió thổi mạnh ở bến phà Hán Dương
Mặt trời vừa lên đỉnh Dĩnh Môn (2)
Trên sông có còn mấy người
Chân trời thuyền cô độc bơi về (3)
Ko biết lúc nào lại gặp lại
Ly rượu an ủi gương mặt đi xa /nỗi niềm ly biệt.

(1) “Hạo nhiên”: theo bạn YL hôm xưa giải thik thì là “to lớn, vĩ đại”, còn có nghĩa là “kiên định, khẳng khái, hào sảng”

(2) Trên trang baidu, thấy giải nghĩa là: Gió mạnh thổi thuyền qua phà (ferry) Hán Dương, tới lúc mặt trời mọc là có thể đi đến núi Dĩnh Môn.

(3) 2 câu này có lẽ có 2 cách hiểu: mấu chốt là do cụm “cô trạo hoàn”, tại sao lại dùng chữ “hoàn” –  nghĩa là quay lại?

Hoặc là: người tiễn đứng trên bến song ở Hán Dương, nhìn theo thuyền của người đi, lẻ loi ở chân trời, xuôi dòng về phía Đông. Như vậy, “hoàn” ở đây ý là “hoàn Đông” – trở về phía Đông, “hoàn” là động từ của người đi. Và nếu vậy thì nghĩa câu này sẽ tương tự: “Cô phàm viễn ảnh bích ko tận – Duy kiến trường giang thiên tế lưu” 😛

Hoặc là: người đưa tiễn cùng lên thuyền với người đi về Đông, qua phà Hán Dương, người đi sẽ lên bộ đi tiếp về phía núi Dĩnh Môn, còn người đi tiễn sẽ “hoàn” – quay thuyền lẻ loi trở về (đồn hoang nơi biên ải), lúc này trên thuyền sẽ bớt người, còn lại mỗi tác giả, vì vậy nói: “Giang thượng kỷ nhân tại” (Trên sông có còn ai). Bạn AC thì ủng hộ cách hiểu số 2 này, vì nó có điểm thú vị hơn cách kia, cảm giác cái ý “giang thượng kỷ nhân tại” thê lương hơn 1 chút, nó khác vs Lý Bạch tống Mạnh Hạo Nhiên, và vì vậy người đọc dễ nhớ hơn 1 chút 😛

Dc nhà thơ Ngô Văn Phú dịch từ đã lâu (thể 6-8)

Đồn hoang đang rụng lá vàng
Ải xưa khảng khái rộn ràng ra đi
Hán Dương gió lộng bến bờ
Dĩnh Môn vầng nhật vừa nhô khỏi rừng
Mấy người còn lại trên sông?
Mái chèo đơn lẻ bềnh bồng cõi xa
Gặp nhau lại biết bao giờ
Ngại nhìn mặt nhắp chén khà biệt ly.

Bài thơ này, lần đầu tiên bạn AC đọc lên thì thấy rất có ấn tượng, bởi vì nó là thể ngũ ngôn I like (sở thik cá nhân của bạn AC thôi). Ko biết thơ V ngta có hay làm thể này hay ko, chứ đọc Hán Việt thì thể ngũ ngôn thanh âm nghe rất gọn gàng, chắc chắn mà thanh thoát (còn thất ngôn thì ngân vang, èo uột và lãng mạn hơn 1 chút, hihi).

Chủ đề là đưa tiễn – cũng thường gặp trong văn thơ xưa. Có 2 danh từ riêng, và vì thế khả năng sẽ gây phản cảm vs bạn Sen? 😛 Trừ 2 cái câu đó, thì còn lại, câu thơ nào cũng thấy hay. Thik nhất là 2 câu đầu, và 2 câu 5-6.

Xem 1 hồi thì mới để ý thấy bài này dc chọn trong tập Đường Thi Tam Bách Thủ, hehe, té ra đã famous từ đời nào rồi 😛

Bạn Sen nếu có hứng thú thì dịch ngũ ngôn nhé. Lại muốn hào hứng thêm thì có thể rủ Bonny – đại danh đỉnh đỉnh hehe

Luật thơ ngũ ngôn (bát cú): Giống thất ngôn bát cú, nhưng bỏ hai chữ đầu ở mỗi câu, tùy ý chọn thể 7n8c vần bằng hay 7b8c vần trắc.

—–

Anhca

—————

Tống Nhân Đông Du (Tiễn người đi về phía Đông)

Bản dịch lục bát của Yên Liên

Đồn xa lá rụng vàng trời

Thênh thang cất bước chân rời ải xưa

Hán Dương gió thổi lộng bờ

Dĩnh Môn đỉnh nọ chói mơ ánh hồng

Mấy ai vẫn ở trên sông?

Mái chèo cô bạc ngàn trùng sóng mây

Bao giờ gặp lại nhau đây

Chén nâng an ủi tình này phân ly..

Bản dịch chơi ngũ ngôn

Đồn xa vàng lá rụng

Ải cũ bước thênh thang

Bờ Hán Dương đầy gió

Dĩnh Môn đỉnh ánh quang

Ai còn nơi bến nước?

Thuyền lẻ giữa mênh mang

Biết có ngày tương hội

Rượu chia nỗi nhớ chăng?

Hàn Sinh

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: