Biệt Nguyễn đại lang kỳ 3 – Nguyễn Du

Mấy hôm tinh thần xuống dốc, đọc bài này, thấy vận vào thân…

Tuy nhiên Nguyễn Du + ngũ ngôn –> đăng lên đây đặc biệt để tặng nàng Dật Ly (vẫn luôn nhớ là nàng đặc biệt có cảm tình với thể loại ngũ ngôn).

別阮大郎其三

君歸我亦去,
各在亂離中。
生子交情在,
存忘苦節同。
柴門開夜月,
殘笠走秋風。
千里不相見,
浮雲迷太空。

Giản thể

君归我亦去,

各在乱离中。

生子交情在,

存忘苦节同。

柴门开夜月,

残笠走秋风。

千里不相见,

浮云迷太空。

Quân quy ngã diệc khứ,
Các tại loạn ly trung.
Sinh tử giao tình tại,
Tồn vong khổ tiết đồng.
Sài môn khai dạ nguyệt,
Tàn lạp tẩu thu phong.
Thiên lý bất tương kiến,
Phù vân mê thái không.

Dịch nghĩa

Anh về thì tôi cũng đi,
Hai ta cùng sống trong buổi loạn lạc.
Sống hay chết, tình bạn vẫn nguyên,
Còn hay mất, tiết khí vẫn giống nhau.
Dưới ánh trăng, cửa tre để ngỏ,
Trong gió thu, anh đi đầu đội nón rách.
Nghìn dặm không trông thấy nhau,
Chỉ thấy mây trôi mờ mịt chân trời.

(nguồn: thivien.net)

Bài này còn có cả lời tuyên ngôn về khí tiết 🙂 gợi nhớ đến mấy bài gì mà nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ…

Không hiểu có phải cụ làm bài này khi từ chối làm quan cho nhà Tây Sơn? (lười check).

Khi nào rỗi cũng sẽ dịch, nhưng chưa phải bây giờ…

Hàn Sinh

Bản dịch lục bát của Vũ Khánh

Bác về tôi cũng về thôi,
Ra chi đôi phận giữa thời loạn ly.
Tử sinh chẳng tuyệt tương tri,
Mất còn tấc dạ nào khi đổi dời ?
Kìa ai trăng lọt cửa sài,
Ai kia mê nón nẻo ngoài gió thu.
Chốc đà muôn dặm còn ngờ,
Mà trông trời đất mịt mù thức mây.
1 version 6-8 khác của VK huynh

Bác về tôi cũng về thôi,
Ra chi đôi phận giữa thời loạn ly.
Tử sinh chẳng thẹn tương tri,
Tồn vong tấc dạ có khi đổi dời ?
Kìa ai trăng ló cửa sài,
Nón mê ai đó nẻo ngoài gió thu.
Chốc đà muôn dặm hãy ngờ,
Trông ra trời đất mịt mù thức mây.

Và đây là ngũ ngôn 

Bác về tôi cũng đi,
Hai kẻ thời loạn ly.
Tương tri tình vẫn vẹn,
Tồn vong tiết chẳng lìa.
Cửa sài trông trăng lọt,
Nẻo ngoài phất thu y.
Muôn dặm từ đây biệt,
Mờ mịt thức mây che.

Bác về tôi trở gót,
Đời loạn phận ra chi.
Sống thác tình vẫn vẹn,
Đổi thay tiết khó lìa.
Cửa sài ai ngóng nguyệt,
Đường thu kẻ nón mê.
Dặm ngàn thôi cách biệt,
Bầu không mây tứ bề.
Đây là sự đua đòi của bạn Anhca 😛

Bác về tôi cũng đi
Ra vào cõi loạn ly
Sinh tử tình còn mãi
Tồn vong tiết vẫn y.
Cửa nghèo mặc trăng chiếu
Nón tàn phất thu phong.
Ngàn dặm chừng nao gặp
Mịt mờ mây loạn bay.

(Hình ảnh “mây loạn bay” thật là… giết chết cả bài thơ :D)

Bản dịch ngũ ngôn của Yên Liên

(bài này găm mấy hôm ở đó, nhưng đến hôm nay vẫn chưa nghĩ ra cách sửa cho vừa ý hơn, nay tạm đăng lên đây)

Người về ta cũng đi
Sống giữa buổi loạn ly
Sinh tử giao tình giữ
Tồn vong khí tiết ghi.
Cửa tre trăng bạc ngỏ
Nón rách gió thu lìa
Ngàn dặm ai đâu thấy
Tầng không mây kéo về.(*)
(*) Phân vân ko biết để mây xám mờ hay mây kéo về.
Bản dịch lục bát của Yên Liên
Người về ta cũng bước đi
Gặp thời loạn lạc chia ly cũng đành
Giao tình sinh tử còn mang
Tồn vong khổ tiết thênh thang đôi lòng
Cửa tre ngỏ, ánh trăng trong
Gió thu nón rách hai đường từ đây
Ngàn trùng xa cách cho ngây
Trông lên chỉ thấy chân mây mịt mù.
Và một version hơi khác
Người về ta cũng bước đi
Gặp thời loạn lạc chia ly cũng đành
Giao tình sinh tử còn mang
Tồn vong khổ tiết thênh thang đôi lòng
Cửa tre ngỏ, ánh trăng trong
Gió thu nón rách hai đường cách xa
Ngàn trùng ta chẳng thấy ta
Chân trời mây phủ âu là thế thôi.

Hàn
Advertisements

U cư kỳ 2 – Nguyễn Du

Vẫn tiếp câu chuyện về Nguyễn Trãi >< Nguyễn Du, đây lại là 1 bài nữa của Nguyễn Du, chăm chăm bảo toàn tính mạng nhé :-P, đăng lên đây xem con chim có hứng thú phân tích ko?

桃花桃葉落紛紛,
門掩斜扉一院貧。
住久頓忘身是客,
年深更覺老隨身。
異鄉養拙初防俗,
亂世全生久畏人。
流落白頭成底事,
西風吹倒小烏巾。

桃花桃叶落纷纷

门掩斜扉一院贫。

住久顿忘身是客,

年深更觉老随身。

异乡养拙初防俗,

乱世全生久畏人。

流落白头成底事,

西风吹倒小乌巾。

Đào hoa, đào diệp lạc phân phân,
Môn yểm tà phi nhất viện bần.
Trú cửu đốn vong thân thị khách,
Niên thâm cánh giác lão tuỳ thân.
Dị hương dưỡng chuyết sơ phòng tục,
Loạn thế toàn sinh cửu uý nhân.
Lưu lạc bạch đầu thành để sự,
Tây phong xuy đảo tiểu ô cân.

Dịch nghĩa

Hoa đào, lá đào rụng lả tả.
Cánh cổng xiêu vẹo, mái nhà bần bạc.
Trú ngụ ở đây lâu ngày, quên bẵng mình là khách,
Trải qua nhiều năm tháng, biết tuổi già đã đến rồi!
Ở nơi đất khách quê người, đành giả vụng, đề phòng động đến kẻ tục,
Sống buổi loạn lạc, muốn giữ toàn tính mệnh, thấy ai cũng sợ.
Xiêu giạt đến bạc đầu mà nào được việc gì đâu!
Ngọn gió tây thổi rơi chiếc khăn đen nhỏ!

nguồn: thivien.net

Bản dịch thất ngôn của Yên Liên

Hoa lá đào rơi lung loạn rơi

Cổng nhà xiêu đổ vách nghèo phơi

Ở lâu quên mất mình dân ngụ

Năm lại qua năm già đến nơi

Đất khách giả ngây phòng sự tục

Loạn thời giữ mạng sợ người đời

Bạc đầu lưu lạc không ra việc

Gió thổi khăn rơi ảm đạm rơi.

Bản dịch lục bát của Yên Liên

Gốc đào hoa lá loạn bay

Nghèo phơi vách bạc lắt lay cổng nhà

Năm qua người cũng đã già

Ở lâu quên mất mình là khách thôi

Phòng sự tục, giả vụng đời

Giữ thân thời loạn gặp người là lo

Bạc đầu việc chẳng nên cho

Lan man gió thổi, lập lờ khăn rơi.

YL

Không ngủ – Nguyễn Trãi vs. Nguyễn Du

Cái này định đăng lên lâu lắm rồi, có nhã ý tặng nàng Dật Ly, tức là mời nàng Dật Ly phân tích, bởi vì ta đây không có năng khiếu cảm nhận thơ và bình thơ như nàng…

Hai tiền bối, Nguyễn Trãi và Nguyễn Du – mà ta đây là fan cuồng, có vẻ đều hay ‘trằn trọc năm canh giấc chẳng thành’, mà khi giấc không thành thì đều làm thơ. Nhưng mà, sự trằn trọc của Nguyễn Trãi khác xa Nguyễn Du. Trằn trọc của Nguyễn Trãi là ‘tiên ưu niệm’, những vẫn đề trị quốc bình thiên hạ, là lý tưởng, là mục tiêu, mục đích practical, cụ thể. Còn trằn trọc của Nguyễn Du có vẻ vì những vấn đề triết lý nhân sinh, mà dùng từ một cách điệu đà và thể hiện ta đây thỉnh thoảng cũng có sờ đến sách là những vấn đề ‘bản thể luận’ và ‘nhận thức luận’ – ontology and epistemology, nghe hơi hướng philosophy rồi nha (mặc dù chả liên quan gì mấy) :-P.

Do đó, Nguyễn Trãi – người biết mình muốn gì, hì, chỉ dừng lại ở sự trằn trọc, ko bao giờ đặt câu hỏi (ít ra là trong những bài thơ ta từng đọc qua), còn Nguyễn Du – người hứng thú với những vấn đề khá trừu tượng, hay nghĩ quẩn quanh, liên tục đặt các loại câu hỏi đại loại như 300 năm nữa ai khóc ta, hay ai sẽ mời rượu bên mộ ta (nếu nhìn theo một khía cạnh khác thì cụ có vẻ khá lo đến vấn đề hương hỏa :-P)

Đấy, dẫn đề là thế.

Đây là bài ko ngủ của Nguyễn Trãi

Hải khẩu dạ bạc hữu cảm

海口夜泊有感

一別江湖數十年,
海門今日繫吟船。
波心浩渺滄洲月,
樹影參差浦漵煙。
往事難尋時易過,
國恩未報老堪憐。
平生獨抱先憂念,
坐擁寒衾夜不眠。

Nhất biệt giang hồ sổ thập niên
Hải môn kim nhật hệ ngâm thuyền
Ba tâm hạo diểu thương châu nguyệt
Thụ ảnh sâm si phố tự yên
Vãng sự nan tầm thời dị quá
Quốc ân vị báo lão kham liên.
Bình sinh độc bão tiên ưu niệm*
Tọa ủng hàn khâm dạ bất miên.

Dịch nghĩa

Từ ra đi lưu lạc giang hồ đã mấy mươi năm
Tối nay buộc thuyền thơ nơi cửa biển
Đáy nước mênh mang, trăng chiếu trên bãi lạnh
Hình dáng cây cối lô nhô, khói phủ trên bến
Khó tìm nhớ lại việc xưa, thời gian trôi quá dễ
Tự thương xót mình đã già mà ơn nước chưa đền
Bình sinh một mình ôm cái chí lo truớc hưởng sau
Ngồi cuốn chăn lạnh thức suốt đêm.

* Bản Đào Duy Anh (Nguyễn Trãi toàn tập) ghi là ‘tiên ưu chí’: ý chí lo trước, do chữ ‘tiên ưu hậu lạc’ (lo trước vui sau). Bài Nhạc Dương Lâu ký của Phạm Trọng Yêm đời Tống có câu: ‘tất kỳ tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc’ (phải lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ), là tinh thần phục vụ của kẻ giúp dân giúp nước.

…một bài khác:

Thính vũ

聽雨

寂寞幽齋裏,
終宵聽雨聲。
蕭騷驚客枕,
點滴數殘更。
隔竹敲窗密,
和鐘入夢清。
吟餘渾不寐,
斷續到天明。

Thính vũ

Tịch mịch u trai lý,

Chung tiêu thính vũ thanh,
Tiêu hao kinh khách chẩm!
Điểm trích sổ tàn canh.
Cách trúc xao song mật,
Hoà chung nhập mộng thanh.
Ngâm dư hồn bất mị,
Đoạn tục đáo thiên minh.

Dịch nghĩa:

Trong phòng tối tịch mịch,
Suốt đêm nghe tiếng mưa.
Não nùng làm kinh động gối khách,
Giọt thánh thót suốt mấy canh tàn.
Cách bụi trúc tiếng khua nhặt vào cửa sổ,
Lẫn tiếng chuông nhập vào giấc mơ.
Ngâm (thơ) rồi vẫn không ngủ được,
Nghe đứt nối cho đến trời bình minh.

Còn đây là bài không ngủ của Nguyễn Du:

Bất mị

不寐聽寒更,
寒更不肯盡。
關山引夢長,
砧杵催寒近。
廢灶聚蝦蟆,
深堂出蚯蚓。
暗誦天問章,
天高何處問?

Bất mị thính hàn canh,
Hàn canh bất khẳng tận.
Quan san dẫn mộng trường,
Châm chử thôi hàn cận.
Phế táo tụ hà ma,
Thâm đường xuất khâu dận.
Ám tụng “Thiên vấn” chương,
Thiên cao hà xứ vấn?

Dịch nghĩa:

Không ngủ nằm nghe tiếng trống canh trong đêm lạnh.
Trong đêm lạnh, trống canh điểm không thôi.
Quan san làm giấc mộng dài thêm,
Tiếng chày nện vải càng giục hơi lạnh đến gần.
Cóc nhái tụ họp quanh bếp,
Giun từ góc sâu trong nhà bò ra.
Thầm đọc bài ca hỏi trời,
Trời cao, biết đâu mà hỏi?

… và bài hỏi han khác của Nguyễn Du:

Đối tửu

對酒

趺坐閒窗醉眼開,
落花無數下蒼苔。
生前不盡樽中酒,
死後誰澆墓上杯。
春色漸遷黃鳥去,
年光暗逐白頭來。
百期但得終朝醉,
世事浮雲真可哀。

Phu toạ nhàn song tuý nhãn khai,
Lạc hoa vô số há thương đài.
Sinh tiền bất tận tôn trung tửu,
Tử hậu thuỳ kiêu mộ thượng bôi ?
Xuân sắc tiệm thiên hoàng điểu khứ,
Niên quang ám trục bạch đầu lai.
Bách kỳ đãn đắc chung triêu tuý,
Thế sự phù vân chân khả ai.

Dịch nghĩa:

Ngồi xếp bằng tròn trước cửa sổ, rượu vào hơi say mắt lim dim,
Vô số cánh hoa rơi trên thảm rêu xanh.
Lúc sống không uống cạn chén rượu,
Chết rồi, ai rưới trên mồ cho ?
Sắc xuân thay đổi dần, chim hoàng oanh bay đi,
Năm tháng ngầm thôi thúc đầu bạc.
Cuộc đời trăm năm, chỉ mong say suốt ngày.
Thế sự như đám mây nổi, thật đáng buồn.

Tất cả thơ và dịch nghĩa đều lấy trên thivien.net

Đấy, con người văn hay chữ tốt, bình thơ đi.

Đông Phương Hưởng Lạc

Thu chí II – Nguyễn Du

秋至 (2)

四時好景無多日,
拋擲如梭喚不回。
千里赤身為客久,
一庭黃葉送秋來。
簾垂小閣西風動,
雪暗窮村曉角哀。
惆悵流光催白髮,
一生幽思未曾開。

Tứ thì hảo cảnh vô đa nhật,
Phao trịch như thoa hoán bất hồi.
Thiên lý xích thân vi khách cửu,
Nhất đình hoàng diệp tống thu lai.
Liêm thuỳ tiểu các tây phong động,
Tuyết ám cùng thôn hiểu giác ai.
Trù trướng lưu quang thôi bạch phát,
Nhất sinh u tứ vị tằng khai.

Đã tra nghĩa và xem xét cấu tứ – đối từ đối ý của tác giả và tạm dịch nghĩa như sau:

Trong bốn mùa, không được mấy ngày cảnh đẹp.
Thời gian vun vút trôi qua như thoi đưa, gọi không trở lại.
Trơ trọi một mình ngoài ngàn dặm, làm khách đã lâu ngày, (1)
Một sân lá vàng đưa mùa thu tới
Bức mành trước gác nhỏ lay động theo gió tây,
Tuyết phủ thôn nghèo u buồn theo tiếng tù và buổi sớm.(2)
Đau thương thất vọng làm cho mái tóc chóng bạc
Cả cuộc đời vẫn không thoát được những suy nghĩ u uẩn. (3)

Chú giải:

(1) câu này ý rất là tương tự với “Vạn lý bi thu thường tác khách” của Đỗ Phủ. Rất hay!

(2)

Câu 5 và 6 đối nhau: câu 5 gồm

Liêm /thuỳ (v hoặc adj nghĩa là gần, ở bên)/ tiểu các /tây phong/ động (v)

Tuyết / ám (v hoặc agj này cũng nghĩa là gần)/cùng thôn/ hiểu giác /ai (v)

“ai” ở đây có lẽ là động từ “than vãn” thì mới đối chỉnh với “động” ở trên.

Theo tra trên mạng thì “hiểu giác” là cách nói tắt của “Sương thiên hiểu giác” – là 1 điệu từ. Như vậy, có thể hiểu là “tiếng bi thương từ điệu ‘hiểu giác’” ????

(3) E sửa lại luôn 2 câu cuối theo ý tác giả, phần dịch nghĩa của các bạn thivien phóng tác quá ác :P

Rồi đấy, người, bây giờ có thể xắn tay áo xông vào dịch rồi đấy ;)

Bản dịch thất ngôn của Dật Ly

Bốn mùa chẳng có mấy ngày vui

Vun vút thoi đưa chẳng thể lùi.

Đất khách dặm ngàn thân cô độc

Lá vàng sân vắng nhắc sang thu.

Rèm thưa gác nhỏ lay trong gió

Tuyết lạnh cô thôn vẳng tiếng tù. (*)

Dai dẳng  thương đau thay màu tóc

Vẩn vương u uất biết chừng nguôi.

(*) Câu này khó vì quá nhiều thứ, ko chứa dc trong 7 chữ :( ((

Này phải hiểu theo kiểu thơ Bút Tre, tức là “vẳng tiếng tù (và)” he he he.

Đợi bản dịch của bạn HS…

Bản dịch thất ngôn của Yên Liên

Thu đến

Bốn mùa cảnh đẹp được bao ngày

Đi mãi thời gian chẳng tái lai

Ngàn dặm thân cô trơ nỗi khách

Một sân thu lạnh lá vàng bay

Thôn nghèo tuyết ám tù buồn vọng

Gác lẻ gió dồn mành buốt lay

Ngao ngán thương sầu cho tóc bạc

Nỗi niềm u uẩn dứt sao đây.

Bản dịch lục bát của Yên Liên

Bốn mùa cảnh đẹp mấy ngày

Thời gian trôi mãi quay về được đâu

Thân khách ngàn dặm bấy lâu

Thu sang lá rụng vàng mầu sân hoang

Gác mành động, gió luồn ngang

Thôn nghèo tuyết bạc buồn vang tiếng tù

Trắng đầu trăm nỗi sầu tư

Một đời u uẩn có từ được đâu.

—-

YL

Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh – Nguyễn Du

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát hơi may lạnh buốt xương khô
Não người thay buổi chiều thu,
Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng…
Đường bạch dương bóng chiều man mác,
Dịp đường lê lác đác mưa sa
Lòng nào lòng chẳng thiết tha
Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.
Trong trường dạ tối tăm trời đất,
Có khôn thiêng phảng phất u minh…
Thương thay thập loại chúng sing
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người
Hương lửa đã không nơi nương tựa
Hồn mồ côi lần lữa bấy niên…
Còn chi ai khá ai hèn
Còn chi mà nói ai hèn ai ngu!
Tiết đầu thu lập đàn giải thoát
Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi
Muôn nhờ đức Phật từ bi
Giải oan cứu khổ độ về tây phương.

Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh
Chí những lăm cất gámh non sông
Nói chi những buổi tranh hùng
Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!
Bỗng phút đâu mưă sa ngói lở
Khôn đem mình làm đứa thất phu
Giàu sang càng nặng oán thù
Máu tươi lai láng xương khô rụng rời

Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,
Quỷ không đầu đứng khóc đêm mưa
Cho hay thành bại là cơ
Mà cô hồn biết bao giờ cho tan.

Cũng có kẻ màn lan trướng huệ
Những cậy mình cung quế Hằng Nga,
Một phen thay đổi sơn hà,
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?
Trên lầu cao dưới dòng nườc chảy
Phận đã đành trâm gãy bìng rơi
Khi sao đông đúc vui cười
Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

Đau đớn nhẽ không hương không khói
Hồn ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.
Thương thay chân yếu tay mềm
Càng năm càng héo một đêm một dài.

Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,
Ngọn bút son thác sống ở tay
Kinh luân găm một túi đầy
Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.
Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm,
Trăm loài ma mồ nấm chung quanh
Ngàn vàn khôn đổi được mình
Lầu ca viện hát tan tành còn đâu?
Kẻ thân thích vắng sau vắng trước
Biết lấy ai bát nước nén nhang?
Cô hồn thất thểu dọc ngang
Nặng oan khôn nh9e tìm đường hóa sinh?

Kìa những kẻ bài binh bố trận
Đổi mình vào cướp ấn nguyên nhung
Gió mưa sấm sét đùng đùng
Phơi thây trăm họ nên công một người.
Khi thất thế tên rơi đạn lạc
Bãi sa trường thịt nát máu rơi
Mênh mông góc bể chân trời
Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?
Trời thăm thẳm mưa gào gió thét
Khí âm huyền mờ mịt trước sau
Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,
Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú
Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn
Ruột rà khôngkẻ chí thân
Dẫu làm nên để dành phần cho ai?
Khi nằm xuống không người nhắn nhủ
Của phù vân dẫu có như không
Sống thời tiền chảy bạc ròng
Thác không đem được một đồng nào đi.
Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm
Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm
Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm
Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu?

Cũng có kẻ rắp cầu chữ qúy
Dẫn mình vào thành thị lân la
Mấy thu lìa cửa lìa nhà
Văn chương đã chắc đâu mà trí thân.
Dọc hàng qúan gặp tuần mưa nắng
Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng
Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng
Anh em thiên hạ láng giềng người dưng
Bóng phần tử xa chừng hương khúc
Bãi tha ma kẻ dọc người ngang
Cô hồn nhờ gửi tha phương
Gió trăng hiu hắt lửa huơng lạnh lùng.

Cũng có kẻ vào sông ra bể,
Cánh buồm mây chạy xế gió đông
Gặp cơn giông tố giữa dòng
Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê.

Cũng có kẻ đi về buôn bán
Đòn gánh tre chín dạn hai vai
Gặp cơn mưa nắng giữa trời
Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

Cũng có kẻ mắc vào khóa lính
Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan
Nước khe cơm vắt gian nan
Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời
Buổi chiến trận mạng người như rác
Phận đã đành đạn lạc tên rơi
Lập lòe ngọn lửa ma trơi
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp
Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa
Ngẩn ngơ khi trở về già
Ai chồng con tá biết là cậy ai?
Sống đã chịu một đời phiền não
Thác lại nhờ hớp cháo lá đạ
Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất
Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi
Thương thay cũng một kiếp người
Sống nhờ hàng xứ chết vùi đường quan.

Cũng có kẻ mắc oan tù rạc
Gửi mình vào chiếu rách một manh
Nắm xương chôn rấp góc thành
Kiếp nào cỡi được oan tình ấy đi?

Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha
Lấy ai bồng bế xót xa
U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối
Cũng có người sẩy cối sa cây
Có người leo giếng đứt dây
Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.
Người thì mắc sơn tinh thủy quái
Người thì sa nanh sói ngà voi
Có người hay đẻ không nuôi
Có người sa sẩy có người khốn thương.
Gặp phải lúc đi đường lỡ bước
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau
Mỗi người một nghiệp khác nhau
Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi
Hoặc là nương ngọn suối chân mây
Hoặc là điếm cỏ bóng cây
Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ
Hoặc là nương thần từ Phật tự
Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông
Hoặc là trong quãng đồng không
Hoặc nơi gò đống hoặc vùng lau tre

Sống đã chịu một bề thảm thiết
Ruột héo khô dạ rét căm căm
Dãi dầu trong mấy mươi năm
Thở than dưới đất ăn nằm trên sương
Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn
Tắt mặt trời lẩn thẩn tìm ra
Lôi thôi bồng trẻ dắt già
Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.
Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ
Phóng hào quang cứu khổ độ u
Rắp hòa tứ hải quần chu
Não phiền trút sạch oán thù rửa không.
Nhờ đức Phật thần thông quảng đại
Chuyển pháp luân tam giới thập phương
Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương
Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.
Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh
Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao
Mười loài là những loài nào?
Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.
Kiếp phù sinh như hình như ảnh
Có chữ rằng:”Vạn cảnh giai không”
Ai ơi lấy Phật làm lòng
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.
Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo
Của có khi bát cháo nén nhang
Gọi là manh áo thoi vàng
Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.
Ai đến đây dưới trên ngồi lại
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêụ
Phép thiên biến ít thành nhiều
Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sanh.
Phật hữu tình từ bi phổ độ
Chớ ngại rằng có có không không.
Nam mô chư Phật, Pháp, Tăng
Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài

Thu Chí I, II – Nguyễn Du

Dạo này bạn HS lại hăng hái xông vào cuộc chém giết, cho nên có chút bỏ bê văn thơ 😛

Thôi thì bạn A/C, nhân 1 ngày cuối tuần trời đẹp nắng vàng, nhưng mà thân mình lắm bệnh nằm bẹp ở nhà than vãn cho cái kiếp “Vạn lý bi thu thường tác khách”, đành tìm vài bài thơ hay post lên giải trí tiêu sầu vậy, tiện thể cổ vũ bạn HS với sự nghiệp chém giết kia (Mà nghe phong thanh là bạn HS dạo này đang rôi rỗi nhé ;))

Dưới đây là 2 bài thơ có tên là Thu Chí của “đại” thi hào Nguyễn Du:

Bài số 1: Nằm trong tập Nam Trung Tạp Ngâm (南中雜吟 (Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam) gồm những bài thơ làm từ 1805-1812, từ khi được thăng hàm Đông các điện học sĩ ở Huế cho đến hết thời kỳ làm Cai bạ dinh Quảng Bình.

Bài Thu Chí số 2 nằm trong tập Mười Năm Gió Bụi (1786-1795), sáng tác trong thời gian ông lẩn trốn ở Quỳnh Côi (là ở đâu?) (hình như là giai đoạn trước khi bị Triều đình nhà Nguyễn bắt vào Huế làm quan)

Có 1 điều bạn A/C ko hiểu lắm, đó là rõ ràng bài Thu Chí số 2 dc sáng tác trước bài số 1, tại sao người ta lại đánh số như thế này? (Nếu dựa trên thời gian thì bài số 1 phải dc gọi là bài số 2 và ngược lại chứ nhỉ?) Đây là Nguyễn Du tự đánh số hay là những người tập hợp thơ của ông đánh số? Hy vọng các nhà “ngâm cứu” cổ thi VN – HS và VK có kiến giải 😛

秋至 (1)

香江一片月,
今古許多愁。
往事悲青塚,
新秋到白頭。
有形徒役役,
無病故拘拘。
回首藍江浦,
閒心謝白鷗。

Hương Giang nhất phiến nguyệt
Kim cổ hứa đa sầu
Vãng sự bi thanh trủng
Tân thu đáo bạch đầu
Hữu hình đồ dịch dịch
Vô bệnh cố câu câu
Hồi thủ Lam Giang phố
Nhàn tâm tạ bạch âu.

Sông Hương một mảnh trăng
Xưa nay gợi không biết bao nhiêu mối sầu
Chuyện cũ chạnh thương mồ cỏ xanh
Thu mới tới trên đầu tóc bạc
Có hình nên phải chịu vất vả
Không bệnh mà lưng vẫn khom khom
Ngoảnh đầu trông về bến sông Lam
Lòng nhàn xin tạ từ chim âu trắng.

……………….

秋至 (2)

四時好景無多日,
拋擲如梭喚不回。
千里赤身為客久,
一庭黃葉送秋來。
簾垂小閣西風動,
雪暗窮村曉角哀。
惆悵流光催白髮,
一生幽思未曾開。

Tứ thì hảo cảnh vô đa nhật,
Phao trịch như thoa hoán bất hồi.
Thiên lý xích thân vi khách cửu,
Nhất đình hoàng diệp tống thu lai.
Liêm thuỳ tiểu các tây phong động,
Tuyết ám cùng thôn hiểu giác ai.
Trù trướng lưu quang thôi bạch phát,
Nhất sinh u tứ vị tằng khai.

Đã tra nghĩa và xem xét cấu tứ – đối từ đối ý của tác giả và tạm dịch nghĩa như sau:

Trong bốn mùa, không được mấy ngày cảnh đẹp.
Thời gian vun vút trôi qua như thoi đưa, gọi không trở lại.
Trơ trọi một mình ngoài ngàn dặm, làm khách đã lâu ngày, (1)
Một sân lá vàng đưa mùa thu tới
Bức mành trước gác nhỏ lay động theo gió tây,
Tuyết phủ thôn nghèo u buồn theo tiếng tù và buổi sớm.(2)
Đau thương thất vọng làm cho mái tóc chóng bạc
Cả cuộc đời vẫn không thoát được những suy nghĩ u uẩn. (3)

Chú giải:

(1) câu này ý rất là tương tự với “Vạn lý bi thu thường tác khách” của Đỗ Phủ. Rất hay!

(2)

Câu 5 và 6 đối nhau: câu 5 gồm

Liêm /thuỳ (v hoặc adj nghĩa là gần, ở bên)/ tiểu các /tây phong/ động (v)

Tuyết / ám (v hoặc agj này cũng nghĩa là gần)/cùng thôn/ hiểu giác /ai (v)

“ai” ở đây có lẽ là động từ “than vãn” thì mới đối chỉnh với “động” ở trên.

Theo tra trên mạng thì “hiểu giác” là cách nói tắt của “Sương thiên hiểu giác” – là 1 điệu từ. Như vậy, có thể hiểu là “tiếng bi thương từ điệu ‘hiểu giác'” ????

(3) E sửa lại luôn 2 câu cuối theo ý tác giả, phần dịch nghĩa của các bạn thivien phóng tác quá ác 😛

Rồi đấy, người, bây giờ có thể xắn tay áo xông vào dịch rồi đấy 😉

Bản dịch thơ (thô bỉ) của bạn AC 😛

Bốn mùa chẳng có mấy ngày vui

Vun vút thoi đưa chẳng thể lùi.

Đất khách dặm ngàn thân cô độc

Lá vàng sân vắng nhắc sang thu.

Rèm thưa gác nhỏ lay trong gió

Tuyết lạnh cô thôn vẳng tiếng tù. (*)

Dai dẳng  thương đau thay màu tóc

Vẩn vương u uất biết chừng nguôi.

(*) Câu này khó vì quá nhiều thứ, ko chứa dc trong 7 chữ :(((

Này phải hiểu theo kiểu thơ Bút Tre, tức là “vẳng tiếng tù (và)” he he he.

Đợi bản dịch của bạn HS…

…………

Trong 2 bài này thì bài số 1 nổi tiếng hơn, vì có 2 câu thơ rất thường dc nhai đi nhai lại “Hương Giang nhất phiến nguyệt/Kim cổ hứa đa sầu”. Bạn AC cũng thích cái câu này vì bạn AC thích dòng sông Hương này lắm.

Tiện thể post bài thơ, giới thiệu thêm ít cảnh đẹp quê hương đất nước cho mọi người thưởng thức. VN cũng giang sơn gấm vóc, cũng sơn thủy hữu tình lắm chứ bộ 😛

Anh Ca

Tạp thi kỳ 1 – Nguyễn Du

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên.
Xuân lan thu cúc thành hư sự,
Hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên.
Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ,
Bạch vân ngoạ bệnh Quế Giang biên.
Thôn cư bất yếm tần cô tửu,
Thượng hữu nang trung tam thập tiền.

Dịch nghĩa:

Tráng sĩ đầu bạc ngửng nhìn trời, lòng bi đát,
Hùng tâm, sinh kế cả hai đều mờ mịt.
Xuân lan thu cúc đã thành chuyện hão,
Đông rét hè nóng cướp cả tuổi xuân.
Dắt chó đi săn, mãi vui dưới chân núi Hồng,
Trong mây trắng, nằm bệnh bên sông Quế.
Ở thôn quê, thích nhất được mua rượu uống luôn,
Trong túi hãy còn ba mươi đồng tiền đây.

Bản dịch của Vũ Khánh

Kìa ai tóc bạc trông trời

Hùng tâm sinh kế thở dài sầu bi

Xuân lan thu cúc mà chi

Hè nồng đông giá còn gì là xuân

Núi Hồng mê mải cuộc săn

Trắng mây sông Quế bệnh nằm có ai

Thú quê sẵn chén dông dài

Giắt lưng còn những ba mươi đồng này.

Bản dịch của Yên Liên 20101204

Bạc đầu lặng ngắm trời xanh

Hùng tâm sinh kế quẩn quanh thoáng mà

Xuân lan thu cúc đã xa

Hạ nồm đông lạnh chốc đà đuổi xuân.

Núi Hồng dắt chó dạo lần

Sông Quế nằm bệnh mây vần thành chăn

Rượu quê sẵn đãi người nhàn

Dắt lưng còn đủ mươi dăm đồng tiền.

Lạm bàn: Cái tâm tình ý tứ của con người ta, thể hiện khá rõ qua cách chọn từ ngữ dịch thơ. Vũ Khánh là tu mi nam tử, nên mê mải với cuộc săn. Còn Yên Liên tạm gọi là nữ nhi (cho đến khi có bằng chứng xác thực là nàng ta hoặc là người vô tính hoặc là người lưỡng tính hehehe) vốn chẳng thấy cái việc đi săn có gì hay, lại còn là người ăn chay, săn bắt sao đành, mới dịch ra là dắt chó dạo lần. Phân tích ra cũng thật thú vị.

—–
Hoa Sinh

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Rie's Bento & Cooking

in healthy way with Love

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: