Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.8

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.8

1.8. 子曰:“君子,不重则不威; 学则不固。主忠信。无友不如己者。过则勿惮改。”

Zǐ yuē :“jūn zǐ, bù zhòng zé bù wēi ;xué zé bù gù 。Zhǔ zhōng xìn。Wú yǒu bù rú yǐ zhě。 Guò zé wù dàn gǎi 。”

Tử viết: “quân tử (1), bất trọng (2) tắc bất uy; học tắc bất cố (3). Chủ trung tín (4). Vô (5) hữu bất như kỉ giả (6). Quá (7) tắc vật đạn (8) cải.”

(1) 君子 – jūn zǐ – quân tử: từ này liên kết cả đoạn văn từ đầu đến cuối, cho nên ở đây nên đặt một dấu cách câu (dấu phẩy).

(2) 重 – zhòng – trọng: trang trọng (trang nghiêm, thận trọng), khống chế dục vọng và cảm xúc của bản thân.

(3) 学则不固 – xué zé bù gù – học tắc bất cố: có hai cách giải thích. Một giải thích là kiên cố (kiên cường, vững vàng, vững chắc), liền ý với câu trước, nếu như không trang nghiêm thận trọng thì không có uy nghiêm, do đó sở học cũng không kiên cường vững vàng. Hai giải thích là cố lậu (ngoan cố, hủ lậu, học thức nông cạn), nói người ít kiến văn (kiến thức văn hóa), học hành rồi sẽ không ngoan cố hủ lậu nữa.

(4) 主忠信 – Zhǔ zhōng xìn – chủ trung tín: lấy trung tín làm chủ.

(5) 无 – wú – vô: không có, “chớ nên, đừng”, don’t.

(6) 不如己 – bù rú yǐ – bất như kỉ: thường được giải thích là không bằng bản thân ta. Một cách giải thích khác là, 不如己者,不类乎己 – bất như kỉ giả, bất loại hồ kỉ – người không như ta, không cùng loại với ta, cái gọi là “đạo bất đồng bất tương vi mưu” – không cùng một đạo không cùng mưu sự/làm việc với nhau được vậy. Ở đây giải thích “như” thành “cùng loại.” Cách giải thích thứ hai phù hợp hơn với nguyên ý của Khổng tử.

(7) 过 – guò – quá: sai, lỗi.

(8) 惮 – dàn – đạn: sợ, sợ hãi.

[Dịch nghĩa câu]

Khổng tử nói: Quân tử, không trang trọng thì không có uy nghiêm; học tập có thể khiến cho con người hết bế tắc (i); Cần lấy trung tín (ii) làm chủ, đừng kết bạn với người không đồng đạo với mình; Có lỗi, đừng sợ cải chính (iii).

(i) Bế: đóng, khép (như trong bế quan tỏa cảng). Tắc: ngăn trở, cách trở, nghẽn (như trong tắc xe, tắc đường). Bế tắc ở đây là không được mở mang (YL)

(ii) Trung và tín

(iii) Sửa thành đúng, correct.

[Phân tích bình luận – Chưa rõ là ai]

Trong chương này, Khổng tử đề ra các phẩm đức mà quân tử cần có, nội dung chủ yếu bao gồm trang nghiêm cẩn trọng, học tập cẩn thận, thận trọng kết bạn, có lỗi biết sửa mình. Trở thành quân tử thật sự có nhân cách lý tưởng, biểu hiện bên ngoài phải khiến người khác thấy nghiêm túc, thận trọng, đường hoàng, uy nghiêm, thâm trầm sâu sắc, làm cho người khác cảm thấy ổn trọng (ổn định cẩn trọng), có thể tin cậy dựa dẫm được, có thể phụ trách trọng trách được giao phó. Khổng tử coi trọng việc học tập, không tự phong bế bản thân, khéo kết giao bạn bè, có lỗi thì sửa. Bốn nguyên tắc được nêu ra ở trên đều quan trọng như nhau. Làm được một quân tử có nhân cách cao thượng, “quá tắc vật đạn cải” chính là thái độ chính xác đối với lỗi lầm, có thể nói tư tưởng này chiếu rọi hào quang chân lý, phản ảnh phẩm chất đạo đức hoàn mỹ trong lý tưởng của Khổng tử, có ý nghĩa quan trọng đối với việc nghiên cứu và lý giải tư tưởng của Khổng tử.

[Luận ngữ Tân giải – Tiền Mục]

Bất trọng tắc bất uy: Trọng – hậu trọng: nhâu hậu/trung hậu +trang trọng/thận trọng/đường hoàng; uy – uy nghiêm. Người không trung hậu đường hoàng, tất sẽ mất đi sự uy nghiêm, không được người khác kính trọng.

Học tắc bất cố: có hai cách giải thích. Một, là kiên cố, liền với ý của câu trước, người không trung hậu đường hoàng, tất những gì học được cũng không giữ được một cách kiên cố vững chắc mà không mất đi. Hai là cố lậu – kiến thức nông cạn, bốn từ tự làm thành một câu, người có thể hướng đến việc học tập, thì không cố lậu.

Chủ trung tín: có hai cách giải thích. Một, hành sự lấy trung tín làm chủ. Hai, chủ, nghĩa là thân thiết. Như người làm khách, coi gia đình mà mình nương nhờ, hoặc là gặp gỡ là chủ. Đối chiếu với chữ “hữu” ở câu sau, thân thiết với người trung tín. Ở đây theo nghĩa thứ nhất.

Vô hữu bất như kì giả: Vô, không có, cấm chỉ. Làm bạn với ‘bất như kỷ giả’- người không bằng mình, không có ích mà chỉ có tổn hại. Hoặc nói: con người ta nếu như ai cũng muốn làm bạn với người hơn mình, như thế thì người hơn ta sẽ không muốn làm bạn với ta, kỳ thực không phải như vậy. Thầy giáo, bạn hữu, đều cố chọn bạn như chọn thầy, tất phải chọn người hơn mình, thông qua như vậy mà tăng tiến về đạo đức, nhân đức. Có thể có tâm thế này, tự biết ‘kiến hiền tư tề’- (i) gặp được người hiền thì cũng muốn được như vậy, ‘trạch thiện cố chấp’ – (ii) kiên trì không từ bỏ việc tốt, mở lòng hướng học, giữ mình cung kính khiêm nhượng, người hiền tất sẽ vui lòng mà làm bạn với ta. Hoặc nói: chữ “như” này, nghĩa giống như chữ “tự”- 似 – tương tự, giống như. Người hơn ta ở trên ta, người không bằng ta ở dưới ta, người tương tự như ta, ngang bằng với ta. Trộm nghĩ chương này tuyệt không dạy con người ta tính toán bạn nào hơn bạn nào kém, mà đặt thành điều kiện để kết giao. Khổng tử dạy, chủ yếu là chỉ lòng người (nhân tâm).  Tự răn tâm mình thường phải thấy chỗ hơn mình của người ta mà kết giao, vừa dễ có được một người bạn, vừa có thể thu hoạch được ích lợi của “hữu đạo” – đạo bằng hữu/bạn bè. Nếu người nào trong lòng chỉ thích kết giao với người không bằng mình, tất phải cực kỳ cẩn thận. Nói sách Luận ngữ rất dễ hiểu, người học cần tự biết mà chọn lọc cẩn thận, từ những cách giải nghĩa khác nhau mà chọn lấy nghĩa tốt đẹp, tất có thể thấy mình ngày càng tiến bộ.

(i) Kiến hiền tư tề – 见贤思齐 – jiàn xián sī qí (chỉ gặp được người tài đức thì muốn trở nên ngang bằng với người ta, tài đức như người ta, câu này cũng xuất phát từ Luận ngữ).

(ii) Trạch thiện cố chấp -择善固执 – zé shàn gù zhí (trạch có nghĩa là chọn lựa, thiện: việc tốt, việc lành; cố chấp: giữ vững không làm trái. Câu chỉ đã xác định mục tiêu rồi thì kiên trì không từ bỏ, đây cũng là cảnh giới cao nhất của tu dưỡng. Xuất phát từ Lễ ký, Trung Dung)  

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Chữ “trọng” trong “Quân tử bất trọng tắc bất uy” là “tự trọng,” nói theo cách hiện nay là lòng tự tôn, cũng là nói mỗi người đều cần tự trọng. “Quân tử bất trọng tắc bất uy,” nói theo cách hiện nay, cũng có thể nói là bản thân không có “tín tâm” – lòng tự tin.  

Chúng ta nên biết, con người ta ai sinh ra cũng có tính ngạo mạn, nhưng có lúc, giải quyết một vấn đề nào đó , một chút tự tín cũng không có, đây là vấn đề tâm lý, cũng là tâm lý chung của tất cả mọi người […] Do đó một người không có tự tin sẽ không tự coi trọng bản thân, không tự tôn, “học tắc bất cố,” học vấn sẽ không ổn định kiên cố, tức là tri thức này đối với anh ta không hữu dụng, do vậy chúng ta cần xây dựng nhân cách của bản thân, lòng tin vào bản thân trước.

Còn “vô hữu bất như kỉ giả,” giảng giải thế nào? Là nói không nên xem nhẹ bất kỳ ai, không nên cho rằng ai cũng không bằng mình. Câu trước là về tự trọng, câu tiếp theo này là về tôn trọng người khác. Chúng ta mặc dù cần tự tôn, đồng thời cũng phải tôn trọng lòng tự tôn của mọi người khác, “vô hữu bất như kỉ giả,” đừng cho rằng bạn của mình không bằng mình, không có bạn nào là không bằng mình cả, con người trên thế giới này, thông minh trí huệ đại khái là như nhau, phản ứng nhanh gọi là thông minh, phản ứng chậm gọi là ngu độn. Ta lừa người thông minh, họ sẽ biết ngay, ta lừa người ngu độn, bất kể là thời gian dài mấy chục năm, đến chết rốt cuộc họ cũng sẽ biết. Rất hiếm khi có người thực sự ngu đến mức mà ta lừa họ đến chết họ cũng không biết gì, đạo lý này chúng ta nên chú ý.  

Do đó, không nên xem thường bất kỳ người nào, người với người kết giao, mỗi người đều có thế mạnh của mình, anh ta chưa đúng ở điểm này, nhưng sẽ đúng ở điểm khác. Có hai trọng điểm cần chú ý: “bất nhân kì nhân nhi phế kì ngôn, bất nhân kì ngôn nhi phế kì nhân” -不因其人而废其言,不因其言而废其人 – không vì một người (địa vị kém hay đã từng có lỗi lầm gì), mà phủ định cả lời nói đúng đắn của anh ta, không vì một lời nói không hay, mà phủ định cả một con người (i). Có một tên gia hỏa này hành vi vô cùng hỗn đản, nhưng có lúc  hắn nói một câu, ý kiến rất hay. Ta cần chú ý, không nên vì nhân cách của hắn ta có vấn đề, hoặc là ấn tượng với hắn ta không tốt, mà đối với ý kiến hay của hắn ta, cương quyết không thèm nghe, làm như vậy là không đúng. Có lúc “bất nhân kì ngôn nhi phế kì nhân,” có người cứ mở miệng là mắng người khác, nói lời thô lỗ, ta cho rằng người nói năng thô lỗ, không có học vấn, sau đó coi khinh toàn bộ nhân cách của người ta. Như vậy cũng không đúng, không nên thiên lệch, phiến diện, lầm lẫn, “vô hữu bất như kỉ giả,” trên thế giới ai cũng có điểm mạnh của mình, chúng ta nên nhìn vào điểm mạnh của anh ta mà bỏ qua điểm yếu, do đó mới “quá tắc vật đạn cải,” vì nhìn ra điểm mạnh của mỗi người, mà phát hiện ra khuyết điểm của bản thân, sau đó thì không sợ sửa sai, đây mới là học vấn chân chính.

Theo nghiên cứu tâm lý học, con người đối với khuyết điểm, việc làm sai trái của mình, đều rất dễ phát hiện. Mỗi người làm sai việc gì đó, nói sai lời nào đó, tự thân có hiểu rõ hay không? Cực kỳ hiểu, nhưng nhân loại có một loại mao bệnh, đặc biệt là những người mà không thật sự có tu dưỡng, thì loại mao bệnh này không cải biến được. Bệnh này chính là biết rõ mình đã làm sai, nhưng ngay giây phút sau liền tìm ra một đống lý do, bênh những gì mình làm sai là đúng, càng tự nghĩ càng thấy không có gì sai cả, đặc biệt là người sự nghiệp hơi có chút thành tựu, bệnh này một khi phạm phải, là không có cách nào cả. Do đó sau khi làm sai mà phát hiện, có dũng khí sửa, mới là chân học vấn, chân đạo đức.

Như vậy, ta làm cách nào để chứng minh cách giải thích “vô hữu bất như kỉ giả” như thế này? Rất tự nhiên, vẫn là theo Luận ngữ. Nếu Khổng tử đặt chữ “vô” làm động từ, thì không cần dùng đến chữ “vô” này. Tỉ như nói, “vô ý,” “vô ngã” các loại ở phần sau, đều dùng chữ “vô” này. Hơn nữa chiếu theo lời văn ở trên và dưới, theo tinh thần của toàn bộ cuốn Luận ngữ, câu này cực kỳ rõ ràng, ở trên dạy ta tôn trọng bản thân, ở dưới dạy ta tôn trọng người khác. Hơn một nghìn năm qua, giải thích đều biến thành lợi thế của việc kết giao, làm sao mà thông được?

(i) Đây là một ý khác trong Luận ngữ, về sau này sẽ học đến 😛

Si

Advertisements

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.7

* Một chương có nhiều kiến giải khác nhau, dài khủng khiếp, lại còn có thêm mấy thuật ngữ triết học cổ, nhớ đọc kỹ, đọc kỹ, và enjoy!!! 😛

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.7

子夏曰:“贤贤易色;事父母,能竭其力;事君,能致其身;与朋友交,言而有信。虽曰未学,吾必谓之学矣。”

Zǐ xià yuē :“xián xián yì sè ;shì fù mǔ ,néng jié qí lì ;shì jūn ,néng zhì qí shēn ;yǔ péng yǒu jiāo ,yán ér yǒu xìn 。suī yuē wèi xué ,wú bì wèi zhī xué yǐ 。” 

Tử hạ (1) viết“hiền hiền (2) dị (3) sắcsự phụ mẫunăng kiệt kì lựcsự quânnăng trí kì thân (4)dữ bằng hữu giaongôn nhi hữu tínTuy viết vị họcngô tất vị chi học hĩ

(1) Tử Hạ: tức Bốc Thương, học sinh của Khổng tử, kém Khổng tử 44 tuổi. Sau khi Khổng tử mất, Tử hạ ở nước Ngụy tuyên truyền chủ trương tư tưởng của Khổng tử.

(2) 贤贤 – xián xián – hiền hiền: chữ hiền đầu tiên là động từ, có nghĩa là tôn trọng. Hiền hiền là tôn trọng người hiền.

(3) 易 – yì – dị: có hai cách giải thích. Một là có nghĩa cải biến, câu này sẽ là tôn trọng người hiền mà (tự) cải biến lòng háo sắc; Hai mang nghĩa khinh thị, xem nhẹ, câu này sẽ là xem trọng hiền đức mà xem nhẹ nữ sắc.

(4) 致其身 – trí kì thân: trí có ý là “hiến nạp” (cống hiến, cống nạp), “tận lực”. Ở đây là nói đem sinh mệnh cống hiến cho quân chủ.

[Giải nghĩa câu]

Tử Hạ nói: một người có thể đạt đến mức xem trọng hiền đức mà không xem trọng nữ sắc; khi phục dịch cha mẹ, có thể kiệt tận toàn lực; khi phục vụ quân chủ, có thể cống hiến cả sinh mệnh của mình;  khi giao du với bạn bè, nói lời thành thực, nghiêm thủ đức tín. Loại người như thế này, bất kể có nói là bản thân mình chưa từng học hành, ta cũng nhất định nói là anh ta đã học rồi.

[Phân tích bình luận – Chưa rõ là ai]

Chương trước có câu “hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn.” Những gì Tử Hạ nói trong chương này trên thực tế là phát triển ý của chương trước. Tử Hạ cho rằng, một người dù có học vấn hay không, học vấn ít hay nhiều, chủ yếu không phải nhìn ở văn hóa tri thức, mà cần nhìn xem anh ta có khả năng thực hành “hiếu,” “trung,” “tín” các loại đạo đức luân lý truyền thống hay không. Chỉ cần làm được phần sau, thì kể cả anh ta nói anh ta chưa từng học qua, anh ta cũng đã là người có tu dưỡng đạo đức rồi. Do đó, đem chương này với chương trước kết hợp lai phân tích, càng thấy rõ giáo dục của Khổng tử có đặc điểm cơ bản là xem trọng đức hành.

[Luận ngữ tân giải của Tiền Mưu] (viết trước sách của Dương Bá Tuấn)

Hiền hiền dị sắc, có thể chỉ quan hệ phu thê, nói người làm chồng có thể tôn trọng hiền đức hơn là nhan sắc diện mạo của người vợ. 4 câu đầu là lần lượt nói về quan hệ phu thê, phụ tử, quân thần, và bằng hữu.

Chương trước Khổng tử nói học, trước hết phải có đức hành, sau mới học văn (hóa), các nhà biên tập Luận ngữ xưa đặt tiếp theo là chương này của Tử Hạ. Có thể nói ngữ khí của chương này trầm trọng quá mức, đến gần như là phế luôn cả việc học hành. Do đó việc luận học của Khổng môn, vốn chỉ cho rằng cần coi trọng việc đạt được đức hạnh, người đời sau lại phân đức hạnh với học tập làm hai, mà làm mất đi ý nghĩa của hai chương này vậy.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Mấy câu này, là tiếp theo câu trước, chứng minh mục đích của học tập, không phải là văn học, tri thức, mà là làm người biết xử thế. Tử Hạ nhỏ hơn Khổng tử 44 tuổi […]. Sau khi Khổng tử mất, tại giai đoạn đầu của thời kỳ Chiến Quốc, Tử Hạ dạy học ở Hà Tây.  Các học giả có ảnh hưởng lớn tại thời kỳ Chiến Quốc, đều chịu nhiều ảnh hưởng của Tử Hạ. Do đó chúng ta cần chú ý đến điều này. Lãnh đạo lịch sử, lãnh đạo quốc gia xã hội, tới cùng đều là học vấn tư tưởng.

[…] Chúng ta xem nguyên văn “hiền hiền dị sắc,” hai chữ hiền, chữ đầu tiên là động từ, bởi vì văn tự Trung Quốc có lúc là mượn một chữ mà dùng với nghĩa khác. Chữ hiền thứ hai là danh từ, chỉ người hiền, tức là người có tu dưỡng, có học vấn tốt. “Dị sắc,” người xưa như các Nho gia thời Tống (Tống Nho), giải thích như thế nào? Họ đem “sắc” giải thích thành “nữ sắc,” “nữ nhân,” “nam nữ chi sắc.” (Khổng tử bị người ta đả đảo, chính là bị oan thế này). “hiền hiền dị sắc” là khi gặp được người hiền – người có đạo đức học vấn, lập tức phải học tập người đó. “Dị sắc,” đến nữ sắc cũng không cần, vợ cũng không cần, trong tình yêu, bạn gái cũng quăng sang một bên. Nếu như là nữ, đến bạn trai cũng không cần. Nếu thật như cách giải thích của Tống Nho, ta cho rằng Khổng phu tử không phải là thánh nhân vậy. Bởi vì thánh nhân, sẽ không đi trái ngược lại nhân tình. Khổng tử trong “Lễ ký” nói “饮食男女,人之大欲存焉” – ẩm thực nam nữ, nhân chi đại dục tồn yên – ăn uống, tình ái nam nữ, là bản tính và mong cầu lớn của con người. Đích xác cách nhìn của  Khổng tử đối với nhân sinh- là hình nhi hạ, chứ không nói đến hình nhi thượng (i). Đã là đời sống con người, không thể thoát khỏi hai việc lớn: ẩm thực, nam nữ. Một việc là vấn đề ‘tính’ (bản tính, bản chất, bản năng tự nhiên của con người), một việc là vấn đề sinh sống, sinh hoạt. Cái gọi là ẩm thực, bằng với vấn đề dân sinh. Nam nữ thuộc về vấn đề khang lạc [yên vui]. Nhân sinh không thể tách rời hai việc này. Có lúc xem sách vở liên quan đến văn hóa Trung Quốc, nói “食色性也” – thực sắc tính dã (thực và sắc là hai bản tính của con người) là do Khổng tử nói. Sai, câu này không phải là Khổng tử nói, mà là do Cáo tử, cùng thời với Mạnh tử, nói. Về sau dẫn chứng hay sử dụng sách vở, không nên trước sai sau cũng sai, đã sai lại tiếp tục sai.

Vấn đề tính này, đến cuối cùng là tính tiên thiên hay hậu thiên (ii)? Về sau hãy thảo luận. Nhưng Tống Nho giải thích “hiền hiền dị sắc,” vì học tập, mà có thể vất bỏ cả vợ hoặc chồng của mình, điều này thật không thông. Từ “sắc” này, rất đơn giản, chính là sắc thái, thái độ. “Hiền hiền dị sắc” ý nghĩa là: chúng ta gặp một người, học vấn cao, tu dưỡng tốt, năng lực cao, đích xác là rất tài giỏi, gặp được người như vậy sẽ ‘túc nhiên khởi kính’ – sinh ra lòng kính phục (iii),  thái độ cũng tự nhiên theo đó mà chuyển. Điều này là rất rõ ràng, rất thông thường, là tâm lý phổ thông của con người, bất kể là một người có xấu đến mức nào, gặp một người tốt, cũng không tự giác mà đối với người tốt này tương đối hòa thiện hơn, điều này là thường tình của con người.

“Sự phụ mẫu năng kiệt kì lực” là nói về đạo hiếu. Câu này có một vấn đề, Tử hạ tại sao nói đến “kiệt kì lực”? Trọng điểm là ở chữ “kiệt” này.  Xưa ai nói đến hiếu thuận với cha mẹ, đều là “không hiếu không được.” Kỳ thực đạo hiếu cũng cần ‘lượng lực nhi vi’- lượng sức mà làm (iv), hiếu cần “tận kì lực,” nhưng không cần quá phận. Một hai năm trước, có một thanh niên trời sinh có tấm lòng hiếu thảo (không phải là do giáo dục mà nên). Vì hiếu với cha mẹ, mà đi ăn cắp vặt, phạm pháp, đối với người làm việc hiếu theo kiểu này, trên phương diện tâm lý đạo đức, chúng ta cảm thấy người này không có tội, do anh ta vì hiếu thuận, vì chữa bệnh cho cha mẹ nên mới đi trộm tiền, phạm pháp, điều này có thể lượng thứ được. Nhưng nhìn từ phương diện tu dưỡng học vấn, phê bình đối với anh ta sẽ là “người này chưa nhận được giáo dưỡng tốt [giáo dục nuôi dưỡng].” Từ phương diện đạo lý, người thanh niên này có lòng tốt, nhưng lòng tốt cần được vun trồng chăm sóc bằng học vấn tri thức, khiến cho anh ta biết cần “tận kì lực” chứ không phải là làm ra các việc quá phận. Người xưa có câu đối tổng kết rằng:

Bách thiện hiếu vi tiên, nguyên tâm bất nguyên tích, nguyên tích bần gia vô hiếu tử.

Vạn ác dâm vi thủ, luận tích bất luận tâm, luận tâm thế thượng thiểu hoàn nhân (v).

(Trong trăm việc thiện, việc hiếu đứng đầu, hiếu bắt nguồn từ tâm chứ không phải từ tích [sự vật, sự việc, tích trong dấu tích, vết tích, sự tích], nếu bắt nguồn từ tích thì nhà nghèo không có ai là có hiếu. Trong vạn việc xấu, việc dâm đứng đầu, để đánh giá dựa vào tích chứ không dựa vào tâm, vì nếu tính theo tâm thì thế gian quá thiếu người hoàn mĩ/người không có khuyết điểm).

“Nguyên tâm bất nguyên tích” của câu trên chính là xem lòng anh ta có hiếu hay là không có hiếu. Ví dụ một người rất nghèo, muốn mua 1 lọ sữa bột cho cha mẹ ăn, nhưng lại không có tiền, không mua được, do vậy trong lòng anh ta rất thống khổ, chỉ hy vọng dần dần tích cóp đủ tiền để mua. Chỉ cần có tấm lòng này, chỉ cần phần tình cảm này của anh ta là chân thực, chúng ta không thể nói là anh ta bất hiếu. “Nguyên tích bần gia vô hiếu tử,” nếu nhất định cần phải có biểu hiện trên thực tế, thì nhà nghèo chẳng có nổi người có hiếu. Đạo lý này vô cùng rõ ràng minh bạch, chúng ta dùng đạo lý này để giải thích, chính là nói rõ “sự phụ mẫu năng tận kì lực” có nghĩa là tận hết tâm lực của mình để làm được chính là hiếu.

“Sự quân năng trí kì thân”, chữ “quân” đã trở thành điểm để đả đảo Khổng gia, và thâm chí là cớ để một số người vu cáo khinh thường coi rẻ Khổng tử, phỉ báng văn hóa Trung Quốc. Họ cho rằng đây là tư tưởng chuyên chế, là đề cao đế vương, đề cao giáo điều cổ lỗ của chế độ độc tài. Sự thực không phải là như vậy, chúng ta trước hết cần hiểu chữ “quân” trong văn hóa Trung Quốc có ý nghĩa là gì. Từ khía cạnh tượng hình của văn tự [chữ viết], người xưa viết chữ “quân” -君, ở phía trên là chữ “doãn”- “尹”, chữ này thời cổ viết là “丮” Trong tay cầm một cây quải trượng [gậy chống],  ở dưới là một chữ khẩu, đại diện cho một người, người này tuổi tác cao, học vấn đạo đức rất cao, cầm cây quải trượng, cũng ngang với chỉ một cây huy trượng [gậy chỉ huy], do vậy người cầm cây gậy chống, hay gậy chỉ huy, đều là “quân”-  君. Về sau mới dần biến thành từ chuyên dụng cho hoàng đế, kỳ thực “quân” trong văn hóa Trung Quốc cũng không phải là từ chuyên dụng cho hoàng đế, ví dụ trong quá khứ chúng ta viết thư cho người ngang hàng, không tiện gọi anh ta là ‘tiên sinh,’ cũng không tiện gọi anh ta là ‘lão đệ,’ cho đến một người thầy giáo viết cho học sinh, người thầy giáo này khiêm tốn một chút liền gọi học sinh “某某君” – “mỗ mỗ quân” […] Người Nhật Bản học văn hóa Trung Quốc của chúng ta, viết thư thông thường đều dùng quân là từ xưng hô tôn trọng.

Câu “sự quân năng trí kì lực” này, ý nghĩa là: bất luận là bạn bè hay đồng nghiệp, anh ta với ta có giao tình tốt, anh ta hiểu ta, nhận biết về ta, cho rằng chỉ có ta có thể giúp đỡ anh ta, còn ta đã đáp ứng giúp đỡ, thì anh ta chính là quân, còn ta đã tự đáp ứng giúp đỡ anh ta làm một việc, nếu cần bỏ ra nhiều công sức thì cũng nhất định phải tận tâm, đáp ứng rồi thì lời nói phải có tín. “Năng trí kì lực,” kiệt tận năng lực của tâm, của thân mình […]. Còn không thì lúc đầu đừng có nhận lời, một khi đã nhận lời rồi, nói đến đạo lý làm người, thì cần phải có tín. Còn đạo lý của việc thay người khác làm việc thì là trung, cũng là tận hết sức lực của mình. Không nên ngoài mặt thì bằng lòng giúp đỡ, khi làm bộ hạ [người thuộc cấp, người dưới quyền] thì tỏ ra dáng vẻ cung kính, sau lưng lại không đồng ý, ngược lại còn làm lộn xộn, gây rối, phá hoại, hoặc là rút lui không làm. Đây chính là làm người chưa đạt được “thần đạo,” nói một cách đơn giản thì chính là không thành khẩn [chân thành].

Do đó “hiền hiền dị sắc, sự phụ mẫu năng kiệt kì lực, sự quân năng trí kì thân” có nghĩa là gặp được người tốt nên có lòng và thái độ kính phục, ở nhà nên kiệt tâm tận lực yêu gia đình, yêu cha mẹ, ra xã hội làm việc, đối với người khác, đối với đất nước, bỏ đi tư tâm, cái gọi là phụng thân vì nước. Còn có “dữ bằng hữu giao ngôn nhi hữu tín,” câu này phải nhắc đi nhắc lại, trên phương diện cảm tình, mỗi người đều tự cho mình là đối với bạn bè làm được “ngôn nhi hữu tín.” Theo ta tự nhận thấy, mặc dù rất muốn làm được đến cùng, trên thực tế vô cùng khó. Có lúc có việc đã đáp ứng với bạn rồi nhưng làm không được, trong lòng vô cùng buồn bực, vì yêu cầu đạo đức của bản thân, muốn tìm hết mọi cách để làm, do đó chú tâm nghiên cứu thấy, câu “dữ bằng hữu giao ngôn nhi hữu tín” này, thực tại rất không dễ dàng. Do đó Tử Hạ nói, nếu có thể làm được như vậy, “tuy viết vị học, ngô tất vị chi học hĩ.” Bất kể người này chưa đọc qua một chương sách nào, ta nhất định nói rằng người này thật là có học vấn, điều này giải thích “học nhi thời tập chi”  không phải là nhất định chỉ đọc sách một cách cứng nhắc, không phải vậy sao? Do đó, chúng ta không nên theo giải thích từng chỗ một của Tống Nho, đọc liên kết cả một thiên, tự sẽ thấy rõ ràng.

(i) 形而下- “Hình nhi hạ” và 形而上 – “hình nhi thượng”  là hai phạm trù quan trọng của triết học Trung Quốc cổ đại. Triết học Nho gia dùng “hình nhi hạ” để chỉ những thứ hữu hình, đã thành hình, còn “hình nhi thượng” để chỉ những thứ vô hình, hoặc chưa thành hình. Trong Chu Dịch – Hệ từ thượng viết: “形而上者谓之道,形而下者谓之器” – hình nhi thượng giả vị chi đạo, hình nhi hạ giả vị chi khí, cho rằng phép tắc là vô hình, gọi là hình nhi thượng; vật dụng khí cụ là thứ hữu hình, gọi là hình nhi hạ.

(ii) 先天 – “tiên thiên”: từ lúc sinh ra đã có, đã tồn tại, hay còn gọi là thiên tính. 后天 – “hậu thiên”: ngược lại với tiên thiên, sau khi sinh ra mới có được, đạt được. Tiếng Anh gọi là nature versus nurture.

(iii) Túc nhiên khởi kính – 肃然起敬 – sù rán qǐ jìng (túc nhiên: dáng vẻ cung kính; khởi kính: sinh ra lòng kính phục. Dùng để hình dung việc sinh ra lòng kính phục, thái độ kính phục. Tiếng Anh là feel deep respect for).

(iv) Lượng lực nhi vi – 量力而为 – liàng lì ér wéi (lượng sức mà làm, lượng được sức của bản thân rồi làm theo năng lực của bản thân, làm theo năng lực (hưởng theo nhu cầu :-P)).

(v) Bách thiện hiếu vi tiên, nguyên tâm bất nguyên tích, nguyên tích bần gia vô hiếu tử. Vạn ác dâm vi thủ, luận tích bất luận tâm, luận tâm thế thượng thiểu hoàn nhân- 百善孝为先,原心不原迹,原迹贫家无孝子。万恶淫为首,论迹不论心,论心世上少完人。

Si

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.4

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.4

1.4. 曾子曰:“吾日三省吾身:为人谋而不忠乎?与朋友交而不信乎?传不习乎?”

Zēng  zǐ  yuē  wú sān xǐng wú shēn wèi  rén móu ér bú zhōng hū  yǔ péng yǒu  jiāo ér bú xìn  hū chuán bù xí hū 

Tăng t (1) viết: Ngô nhật tam tỉnh (2) ngô thân: vi nhân mưu nhi bất trung (3) hồ? Dữ bằng hữu giao nhi bất tín (4) hồ? Truyền bất tập(5) hồ (6)?

(1) 曾子 – Zēng  zǐ – Tăng tử: tức Tăng Sâm, tự là Tử Dư, sinh năm 505 trước Công nguyên, người nước Lỗ. Tăng Sâm là môn sinh đắc ý của Khổng tử, lấy hiếu thành danh. Người đời cho rằng “Hiếu kinh” là do Tăng Sâm biên tập.

(2) 三省 – sān xǐng- tam tỉnh: Tỉnh – kiểm tra, kiểm điểm, xem xét. Tam tỉnh có một vài cách giải thích: một là kiểm tra/kiểm điểm ba lần; hai là kiểm điểm từ ba phương diện; ba là kiểm điểm nhiều lần. Kỳ thực, ở thời cổ đại, thêm số từ vào trước động từ chỉ động tác, thường biểu thị động tác lặp lại nhiều lần, không nhất thiết cho rằng 3 lần.

(3) 忠 – zhōng – trung: Chú thích xưa viết: 尽己之谓忠 – tận kỉ chi vị trung – tận hết sức mình gọi là trung. Ở đây chỉ đối với người cần tận tâm kiệt lực.

(4) 信- xìn- tín: Chú thích xưa viết: 信者,诚也 – tín giả, thành dã. Lấy thành thực gọi là tín. Yêu cầu mọi người theo các quy định về lễ mà thủ tín với nhau, dùng đó mà điều chỉnh mối quan hệ giữa con người với nhau.

(5) 传不习 – chuán bù xí – truyền bất tập: Chú thích xưa viết: 受之于师谓之传 – thụ chi ư sư vị chi truyền – nhận được những gì thầy dạy gọi là truyền. Những thứ được thầy giáo truyền thụ cho. Tập giống như trong “học nhi thời tập chi,” chỉ ôn tập, thực tập, diễn tập.

(6) 乎- hū – hồ: đặt ở cuối câu, khi biểu thị nghi vấn, thường được dịch thành: chăng, không, ư?

 [Dịch nghĩa câu]

Tăng tử nói: Ta mỗi ngày đều tự phản tỉnh (i) bản thân, đối với người khác đã tận tâm kiệt lực chưa? Cùng bạn hữu giao thiệp đã đạt đến thành thực khả tín chưa? Học nghiệp do thầy giáo truyền thụ cho ta, đã ôn luyện, thực tập chưa?

(i) Phản tỉnh: tiếng Anh là to reflect upon oneself, to examine one’s conscience, to question oneself, to search one’s soul. Tự vấn, tự hỏi.

[Phân tích bình luận- Không rõ của ai]

Nho gia vô cùng coi trọng việc tu dưỡng đạo đức của con người, muốn hình thành nên nhân cách lý tưởng. “Tự tỉnh” do chương này giảng giải, chính là phương pháp cơ bản để tự tu dưỡng.

Trong thời Xuân Thu, xã hội biến động không ngừng, phản ảnh trong lĩnh vực ý thức, tư tưởng tín ngưỡng của nhân dân đã bắt đầu phát sinh dao động, quan niệm truyền thống trong lòng của người dân đã bất đầu xuất hiện nguy cơ. Vì vậy, Tăng Sâm đã đề xuất phương pháp tu dưỡng “phản tỉnh nội cầu,” không ngừng kiểm tra ngôn ngữ hành vi của bản thân, để bản thân tu thành nhân cách lý tưởng. Trong Luận ngữ nhiều lần đề cập đến chủ đề tự tỉnh, yêu cầu đệ tử Khổng môn tự giác phản tỉnh bản thân, tiến hành tự phê bình, tăng cường tu dưỡng tư tưởng và đạo đức, sửa chữa các khuyết điểm về ngôn hành cử chỉ. Loại phương thức tu dưỡng đạo đức tự tỉnh này cho đến nay vẫn còn có chỗ giá trị để học tập, do loại phương thức này đặc biệt nhấn mạnh sự tự giác tiến hành tu dưỡng.

Trong chương này, Tăng Tử cũng đề cập đến phạm trù 忠 “trung” và 信 “tín.” Đặc điểm của trung là một chữ 尽 “tận,” làm việc tận lực, “tử nhi hậu kỉ” – đến chết mới thôi. Giống như Nho gia đời sau nói, “tận kỉ chi vị trung” – tận hết sức mình gọi là trung. “Vi nhân mưu nhi bất trung hồ”- đối với người khác đã tận tâm kiệt lực chưa,  là chỉ đối với tất cả mọi người nói chung, chứ không phải là chỉ riêng đối với bậc quân chủ. Chính xác là chỉ đối với tất cả mọi người trong đó có quân chủ, đều phải tận lực giúp đỡ. Do đó, “trung” từ thời nhà Tần trở về trước là một phạm trù đạo đức nói chung, chứ không chỉ dùng để chỉ quan hệ quân thần. Từ thời nhà Hán trở về sau mới dần dần đem chữ “trung” biến hóa thành “trung quân.” “Trung quân” này có liên hệ với “trung” của Nho gia, nhưng cũng có khác biệt quan trọng. (cúc cung tận tụy, tử nhi hậu dĩ – 鞠躬尽瘁、死而后已 – jū gōng jìn cuì,sǐ ér hòu yǐ, câu của Gia Cát Lượng thần tượng đây.)

“Tín” có hai hàm ý, một là tín nhiệm, hai là tín dụng (tin dùng/ tin theo và sử dụng). Nội dung của tín là thành thực không dối trá, được thực hành trong mối quan hệ giữa bạn bè cũng như với người trên người dưới. Tín đặc biệt có quan hệ với lời nói, biểu thị phải nói lời thành thực, nói lời giữ lời. Đây chính là nền tảng trong việc lập thân xử thế của một con người.

 

 

 

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: