Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.4

子曰:“吾十有(1)五而志于学,三十而立(2),四十而不惑(3),五十而知天命(4),六十而耳顺(5),七十而从心所欲, 不逾矩(6)。”

Zǐ yuē: wú shí yǒu wǔ ér zhì yú xué, sānshí érlì, sìshí ér bù huò, wǔshí ér zhī tiān mìng, liùshí ér ěr shun, qīshí ér cóng xīn suǒ yù bù yú jǔ.

Tử viết: “Ngô thập hữu (1) ngũ nhi chí ư học, tam thập nhi lập (2), tứ thập nhi bất hoặc (3), ngũ thập nhi tri thiên mệnh (4), lục thập nhi nhĩ thuận (5), thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ (6).”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 有 – yǒu – hữu: giống又 – yòu – hựu, cộng thêm.
  2. 立 – lì – lập: ý là đứng vững.
  3. 不惑 – bù huò – bất hoặc: nắm chắc kiến thức, không bị sự vật ngoại cảnh gây mê hoặc.
  4. 天命 – tiān mìng – thiên mệnh: chỉ sự tình mà sức người không thể chi phối.
  5. 耳顺 – ěr shun – nhĩ thuận: có nhiều cách giải thích. Nhưng nói chung, chỉ việc đối với những ý kiến bất lợi cho bản thân cũng có thể đối đãi đúng/xác đáng.
  6. 从心所欲, 不逾矩 – cóng xīn suǒ yù bù yú jǔ – tòng tâm sở dục, bất du củ: tòng- thuận theo; du- vượt qua; củ- quy củ.

[Diễn dịch văn – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Ta mười lăm tuổi lập chí học tập; ba mươi tuổi có thể tự lập; bốn mươi tuổi có thể không bị sự vật ngoại cảnh mê hoặc; năm mươi tuổi hiểu được thiên mệnh; sáu mươi tuổi có thể đối đãi xác đáng với mọi loại ngôn luận, không cảm thấy có gì là không thuận [quy luật]; bảy mươi tuổi có thể tùy theo lòng mình mà không vượt qua quy củ.”

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Trong chương này, Khổng tử tự thuật lại quá trình học tập và tu dưỡng của bản thân. Quá trình này, là một quá trình cảnh giới tư tưởng dần dần nâng cao, theo sự tăng tiến của độ tuổi. Về cảnh giới tư tưởng, toàn bộ quá trình phân thành ba giai đoạn: mười lăm tuổi đến bốn mươi tuổi là giai đoạn học tập lĩnh hội; năm mươi, sáu mươi tuổi là giai đoạn an tâm lập mệnh, cũng là giai đoạn không chịu sự tác động của hoàn cảnh; bảy mươi tuổi là giai đoạn ý thức chủ quan và quy tắc làm người dung hợp làm một. Trong giai đoạn này, tu dưỡng đạo đức đạt đến cảnh giới cao nhất. Quá trình tu dưỡng đạo đức của Khổng tử, có nhân tố hợp lý: một là, ông đã thấy được tu dưỡng đạo đức không phải việc một sớm một chiều, không thể hoàn thành ngay, không thể có đột phá, cần phải trải qua quá trình rèn luyện học tập lâu dài, cần phải có một quá trình tuần tự tiệm tiến. Hai là, cảnh giới cao nhất của đạo đức là tư tưởng và ngôn hành dung hợp, tự giác tôn thủ quy phạm đạo đức, mà không phải là miễn cưỡng làm. Hai điểm này đối với bất kỳ người nào, đều có thể đem ra áp dụng được.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

志於学 – chí ư học: người có chí, tất cả mọi ý nguyện trong lòng, đều một lòng hướng đến mục tiêu này. Vốn có chí tất có học, chí và học tương sinh mà phát triển. Cái chí cái học của Khổng tử, thông qua đọc chương này có thể thấy được, càng thông qua đọc toàn bộ Luận ngữ mà có thể hiểu cặn kẽ. Có thể có chí như cái chí của Khổng tử, học như cái học của Khổng tử, là tôn chỉ lớn nhất của việc đọc Luận ngữ.

而立 – nhi lập: lập, nghĩa là thành lập (trưởng thành đến mức có thể tự lập). Có thể có khả năng tự lập một cách vững chãi, không suy giảm không chuyển đổi, tức là chí đã đạt được thành tựu, có được phẩm cách. Đây là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình học tập của Khổng tử.

不惑 – bất hoặc: con người và sự việc có dị đồng (điểm khác nhau/tương đồng), có  nghịch thuận, dù cho có chí, có khả năng tự lập, nếu với ngoại cảnh có sự đối nghịch, thì lòng dễ nảy sinh hoài nghi mê hoặc. Nếu có thể đối với mọi loại ngôn luận, sự việc biến hóa thuộc ngoại cảnh, hiểu đến chỗ thâm sâu, chỗ tận cùng, với mọi thứ liên quan đều thông suốt, mà không có gì phải hoài nghi, thì không những có khả năng tự lập giữ phẩm cách, còn có thể biết chỗ sáng mà ở vào chỗ an, là giai đoạn thứ hai trong tiến trình học tập của Khổng tử.

知天命 – tri thiên mệnh: tuy đối với đạo lý của mọi sự đều không còn nghi hoặc, nhưng việc thực hành chí hướng vẫn có chỗ gian khổ. Chí càng tiến, việc làm càng tiến, càng gặp phải việc gian khổ gây nghi hoặc. Cho nên đã có thể tự lập không còn gì nghi hoặc, càng ngày càng phải tri thiên mệnh (hiểu mệnh trời). Thiên mệnh chỉ các loại đạo nghĩa và chức trách đương nhiên của nhân sinh. Đạo nghĩa chức trách có vẻ không khó biết, song vẫn có việc dù “thủ đạo tận chức” (giữ đạo, tận lực với chức phận) mà vẫn gặp phải cảnh khốn cùng, không thuận lợi. Việc đương nhiên mà lại vẫn không thể thuận lợi thông suốt, có thể không được thuận lợi mà vẫn là đương nhiên, nghĩa lý này rất khó để hiểu. Để đạt đến cảnh giới này, cần phải học “tri thiên mệnh.” Khổng tử nói: “trời sinh ta có đức tính thiện, Hoàn Đồi có thể làm gì ta?” (i), lại nói “Văn Vương đã mất,  lễ nhạc văn hóa không phải đều ở tại chỗ của ta sao? Trời nếu như muốn tiêu diệt văn hóa này, người sau (ta) đã không thể có được văn hóa này. Trời nếu như không tiêu diệt văn hóa này, người Khuông có thể làm gì ta?” (ii). Khổng tử theo đuổi việc học, đạt đến cùng cực của “bất hoặc,” lòng tự tin cực chân thực cực vững chắc, dường như đã lên đến cảnh giới người không thể hiểu, duy trời có thể hiểu. Như thế đạo và thiên đã hợp làm một, do đâu đến cuối cùng không thể thực hành, đến đây buộc phải tiến đến cảnh giới tri thiên mệnh. Cho nên tri thiên mệnh, là tiến thêm một bước so với “bất hoặc,” là cảnh giới cao hơn, là giai đoạn thứ ba trong tiến trình học tập của Khổng tử.

Khổng tử không phải là người đứng đầu một tôn giáo, nhưng Khổng tử lại có một tín ngưỡng cao vô thượng, loại tín ngưỡng này, như đã cao hơn của các giáo chủ tôn giáo trên thế giới. Khổng tử do học mà sinh tín (niềm tin/lòng tin), chứ không phải là có tín trước mới học sau. Cho nên Khổng tử dạy mọi người, cũng là lấy việc học làm trọng. Tử cống nói: “Phu tử [giảng] về các loại học vấn văn hiến, chúng ta nghe có thể hiểu được; phu tử [giảng] về các loại thiên tính thiên đạo, chúng ta nghe không hiểu” (iii). Đại khái là Khổng tử dựa vào sở học mà dạy người, không dựa vào tín mà dạy người. Khổng tử có ý, dường như không học đến cảnh giới này, tất không dễ có niềm tin này, do đó không lấy tín để dạy. Đây là điểm khác biệt giữa Khổng tử với các vị đứng đầu tôn giáo khác. Cho nên học cái học của Khổng tử, không nên cẩu thả nói tri thiên mệnh, nhưng đồng thời nên biết trong lòng của Khổng tử thực chất có cảnh giới này. Khổng tử đã chỉ ra cảnh giới này, thứ gọi là “Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hàng hành chỉ, tuy bất năng chí, tâm hướng vãn chi”- [đức hạnh như] núi cao khiến [người] ngưỡng vọng, hành vi [chính đại quang minh] như con đường rộng, tuy không thể đạt đến trình độ này, nhưng lòng luôn hướng về đó (iv). Người học cũng nên đặt cảnh giới này trong tâm, mà mỗi ngày đều hướng về.

耳顺 – nhĩ thuận: đối với tất cả các loại ý kiến hoặc ngôn luận khác biệt, tất cả các loại phản ứng hoặc kích động trái nghịch bất thuận ở bên ngoài, khi đã đạt tới khả năng tự lập bất hoặc, lại tri thiên mệnh, có thể lấy đó để xử lý, không vì những thứ bên ngoài mà bị dao động mê hoặc, là càng tiến thêm một bước mà đạt đến cảnh giới “nhĩ thuận.” Người nhĩ thuận, tất cả đều nghe vào tai, không còn cảm thấy cái gì là có chỗ không thuận với bản thân, không thuận với đạo. Trong khi biết ngoại cảnh tất cả đều đối lập khác biệt nhau, trái nghịch bất thuận, tuy nhiên không cái gì là không có lý do của nó. Có thể hiểu được tất cả những lý do này, tất không chỉ hiểu bản thân, lại còn hiểu được người. Không chỉ hiểu một việc từ đâu là phải, mà còn hiểu từ đâu là không phải. Bên phản bên chính, bên nó bên ta, tất cả là theo ý trời. Lại không ở bất kỳ chỗ nào mà không thấy có thiên mệnh, do đó nói nhĩ thuận, là giai đoạn thứ tư của tiến trình học tập của Khổng tử.

Sự vật khi đi vào trong tâm của ta, chỗ trọng yếu nhất, là ở tại tai và mắt. Chương này đặc biệt nêu nhĩ thuận, thực chất là nêu cái này có thể bao gồm cả cái kia. Thêm vào đó mắt nhìn do ta hướng ra bên ngoài, tai nghe do bên ngoài rót vào ta, nói về mức độ tự chủ, hơi có sự khác biệt. Nhìn bằng mắt hướng đến hình dáng vật thể, nghe qua tai thâm nhập vào tâm ý. Mắt chỉ nhìn thấy ở gần mà tai nghe được ở xa, tức là lời nói hành động của cổ nhân, cũng có thể đi vào tai như vậy. Do đó nói về tai có thể bao quát cả mắt. Học đến mức tri thiên mệnh, tất xa gần chính phản, cổ kim thuận nghịch, những gì gặp được đều là đạo, đều ở trong thiên mệnh. (Nhờ đó) sẽ càng trung (dốc lòng) đến mức tận mọi sức lực, sẽ càng thứ (đặt mình vào vị trí của người khác mà suy nghĩ) mà đối đãi vật. Đối với những gì bản thân coi trọng xem xét để biết đâu là chỗ [ta cho là] đương nhiên; đối với việc người khác coi trọng xem xét để hiểu lý do tại sao. Hiểu rõ lý do tại sao tất nhĩ thuận, với mọi thứ đều không cảm thấy có gì trái nghịch,  từ đó mà có thể thi hành giáo hóa, có thể vi chính, có thể dựa vào “lập kỷ” mà “lập nhân,” “đạt kỷ” mà “đạt nhân” (bản thân có thể tự lập, đứng vững mà giúp người người tự lập; bản thân đã thông hiểu mà giúp người người khác thông hiểu – nd). Như thế chỗ cùng cực của thiên mệnh, chẳng phải luôn là việc hành đạo (đi theo con đường) này sao? Cội nguồn đạo của cổ nhân, cốt yếu ở chỗ có khả năng “phản cầu chư kỉ” –   trách bản thân chứ không phải trách người khác (v). Chỗ cùng cực của trung thứ (vi), tức là chỗ cùng cực của minh thành (明诚 – minh triết, chân thành), trời và người cùng một lẽ mà thông suốt, mà việc phát dương đạo xuất phát bản thân.

从心所欲不踰矩 – tòng tâm sở dục bất du củ: tòng, nghĩa là tuân theo, thuận theo. Hoặc có thuyết: chữ tòng đọc giống như túng (纵), nghĩa là “phóng nhiệm” (放任) – không có ước thúc, để mọi việc diễn ra tự nhiên, không can thiệp.  Củ- thước kẻ góc vuông. Quy-viên quy – thước để vẽ đường tròn. Quy củ vô cùng vuông, tròn, dùng để nói về luật lệ chuẩn tắc của các loại ngôn hành. Ở đây nói đến củ mà không nói đến quy, càng thấy lời nói cẩn trọng. Thánh nhân đến cảnh giới này, đều mặc theo lòng mình, có thể phóng tâm đến mức cùng cực, không kiểm điểm quản thúc (đạo đức ngôn hành của bản thân), mà bản thân lại không có gì là không theo quy củ luật lệ. Do đó nội tâm của thánh nhân vô cùng tự do, cùng với các loại luật lệ quy củ đương nhiên ở bên ngoài tự nhiên tương hợp. Học vấn đạt đến cảnh giới này, tâm cũng chính là đạo nghĩa, nội ngoại hợp nhất. Mọi việc làm của bản thân, không gì là không phải các khuôn phép cao nhất của thiên mệnh. Trời không dụng tâm đối với bất kỳ cái gì (vii) mà không có gì là không phải, trời không chịu bất kỳ ước thúc nào nhưng là chuẩn tắc cho tất cả mọi thứ. Sự học của thánh nhân, đến cảnh giới này, nhân cách  cao thượng vĩ đại sánh với trời, mà việc học cũng không thể tiến thêm nữa. Chương này của Khổng tử, chỉ là tự nói về quá trình đạt được trong học vấn của bản thân, chưa từng tự sánh với trời. Song đệ tử của Khổng tử đã ví nhân cách của Khổng tử sánh với trời mà (người khác) không thể bắc thang lên được vậy. Như ở trên đã cho thấy rõ, cũng không thấy có gì là quá cả.

Chương này là Khổng tử tự thuật về những thứ bản thân đạt được trong một đời học tập, các bậc thang tiến bộ qua các năm như thế nào. Người học kiên trì noi theo nỗ lực này, ngày qua ngày đều tiến bộ (viii), hy vọng xuất sắc mà tiến vào lãnh địa của thánh nhân.  Nhưng người học cố gắng theo khả năng của mình, cũng thường ở ba cấp bậc là “chí học,” “lập” hay “bất hoặc.” Còn từ tri thiên mệnh trở lên, nếu không nỗ lực hết sức, không nên hy vọng có thành tích hy hữu. Biết có cảnh giới này, mà vẫn canh cánh trong lòng cho rằng có thể đạt được, nếu tùy tiện đem bản thân đi bắt chước, chỉ là vọng tưởng tu dưỡng được đến cảnh giới tối cao, nhưng lại trở thành ngụy quân tử, thành tiểu nhân không biết sợ cái gì, mà không tự biết mình vậy. Người học thử nghiền ngẫm chương đầuchương cuối của thiên Học nhi, dần dần tự cố gắng, hy vọng dần có thể nhìn ra chỗ thâm thúy của chương này. Vì hai chương đầu và cuối của thiên Học nhi, từ chỗ dễ hiểu nhất chân thực nhất mà chỉ cho người ta (con đường) lĩnh hội, người học có thể từ đây mà noi theo. Chương này tuy là Khổng tử tự nói về bản thân, không có lời nào là không chân thực, ở bên trong lại có rất nhiều chỗ thâm sâu ảo diệu. Không dựa trên cái gì mà vọng cầu đột nhiên đạt được, thì biến thành nói hão không đáng tin, không phải là chủ ý lúc bình thường dạy học sinh của Khổng tử.

Khổng tử lại nói: “bất oán thiên, bất vưu nhân, hạ học nhi thượng đạt, tri ngã giả kì thiên hồ” – không oán trời, không trách người, dưới học mà trên suốt mọi sự lý/thiên mệnh, hiểu được ta chỉ có trời chăng? (ix), ý nghĩa của câu cùng với chương này tương thông. Từ chí học, nhi lập, nhi bất hoặc, đều là “hạ học.” Sau đó trở lên, là thượng đạt vậy. Tri thiên mệnh nên không oán thiên, nhĩ thuận nên không trách người. Tấm lòng này đạt đến cái đức của trời, nên có thể tòng tâm sở dục bất du củ, mà hiểu ta chỉ có trời. Tri mệnh nhĩ thuận, vốn không phải là thứ dễ dàng đạt được của người học, nhưng không oán không trách, chính là nỗ lực nên có của người học. Hành viễn tự nhĩ, đăng cao tự ti – đi đường xa bắt đầu từ bước gần nhất, leo núi cao bắt đầu từ chỗ thấp nhất (x), thiên lý chi hành, khởi ư túc hạ – đường xa ngàn dặm, bắt đầu từ từ việc đi bước đầu tiên (xi), người học theo khả năng có thể làm mà nỗ lực làm, cũng không phải lo lắng nghĩ đến chỗ khó khăn của việc học đến cấp bậc của thánh nhân.

Tiên sinh nói: Ta lúc mười lăm tuổi, bắt đầu có chí học tập. Đến ba mươi tuổi, có thể kiên định tự lập. Đến bốn mươi, ta đối với mọi loại đạo lý, có thể thông đạt không còn nghi hoặc. Đến năm mươi, ta có thể biết cái gì là thiên mệnh. Đến sáu mươi, tất cả những gì ta nghe được, đều có thể thông hiểu minh bạch hoàn toàn, không còn cảm thấy trong lòng có gì là trái ngược. Đến bảy mươi, ta chỉ mặc cho lòng tự nhiên không còn gì ước thúc, mà cũng sẽ không có chỗ nào là vượt qua quy củ pháp độ.

(i) “天生德於予,桓魋其如予何?”- thiên sinh đức ư dư, Hoàn Đồi kì như dư hà? – trời sinh ta có đức tính thiện, Hoàn Đồi có thể làm gì ta? (Hoàn Đồi là tư mã nước Tống, từng muốn giết hại Khổng tử). Đây cũng là câu trong Luận ngữ.

(ii) 文王既没,文不在兹乎?天之将丧斯文也,后死者不得与於斯文也。天之未丧斯文也,匡人其如予何?”- “Văn Vương kí một, văn bất tại tư hồ? Thiên chi tương táng tư văn dã, hậu tử giả bất đắc dữ ư tư văn dã. Thiên chi vị táng tư văn dã, Khuông nhân kì như dữ hà?” – Vua Văn Vương đã mất,  lễ nhạc văn hóa không phải đều ở tại chỗ của ta sao? Trời nếu như muốn tiêu diệt văn hóa này, người sau đã không thể có được văn hóa này. Trời nếu như không tiêu diệt văn hóa này, người Khuông có thể làm gì ta? Đây cũng là một câu trong Luận ngữ.

(iii) 子贡曰:“夫子之文章,可得而闻也。夫子之言性与天道,不可得而闻也。”- Tử cống viết: “Phu tử chi văn chương, khả đắc nhi văn dã. Phu tử chi ngôn tính dữ thiên đạo, bất khả đắc nhi văn dã.”

(iv) “高山仰止,景行行止,虽不能至,心向往之”- “Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hàng hành chỉ, tuy bất năng chí, tâm hướng vãn chi” – cao sơn: núi cao; cảnh hàng: con đường lớn (đại lộ); chữ “chỉ” là trợ từ cuối câu để nhấn mạnh; đức hạnh như núi cao khiến mọi người ngưỡng vọng, hành vi quang minh chính đại như con đường lớn, tuy không thể đạt đến trình độ này, nhưng tâm luôn hướng về điều đó. Haiz, thật lằng nhằng. Đầu tiên, 2 câu đầu là từ một bài trong Kinh Thi, Tiểu Nhã. Sau đại ca Tư Mã Thiên khi viết Sử ký, Khổng tử thế gia đã mượn hai câu này mà viết ra 4 câu trên.

(v) Phản cầu chư kỉ – 反求诸己 fǎn qiú zhūjǐ: Câu trong Lễ ký, nhìn nhận lỗi của bản thân, từ đó sửa cho đúng, chứ không trách người khác. Tiếng Anh: to seek the cause in oneself rather than sb else.

(vi) Nguyên văn là chữ này: 忠恕 – trung có nghĩa là tận tâm kiệt lực, dốc lòng, hết lòng; thứ là dùng tâm ý của mình mà suy ra tâm ý của người khác, đặt mình vào vị trí của người khác mà suy nghĩ.

(vii) Nguyên văn: 无所用心 – wú suǒ yòng xīn – vô sở dụng tâm.

(viii) Nguyên văn: 日就月将 – rì jiù yuè jiāng – nhật tựu nguyệt tương: câu xuất xứ từ Kinh Thi, mỗi ngày đều tiến đến gần hơn một tý, hình dung tinh tiến không ngừng.

(ix) Nguyên văn: 不怨天,不尤人,下学而上达,知我者其天乎 – bất oán thiên, bất vưu nhân, hạ học nhi thượng đạt, tri ngã giả kì thiên hồ – không oán trời, không trách người, dưới học mà trên suốt mọi sự lý/thiên mệnh, hiểu được ta chỉ có trời chăng?. Đây cũng là một câu trong Luận ngữ.

(x) Nguyên văn: 行远自迩,登高自卑 – xíng yuǎn zì ěr, dēng gāo zì bēi – Hành viễn tự nhĩ, đăng cao tự ti. Đi đường xa bắt đầu từ bước gần nhất, leo núi cao bắt đầu từ chỗ thấp nhất. Ví dụ với việc để đạt được mục tiêu cao xa, cần phải bắt đầu từ bước gần nhất. Câu trong Trung dung.

(xi) Nguyên văn: 千里之行,起于足下 – Qiān lĭ zhī xíng, shĭ yú zú xià – thiên lý chi hành, khởi ư túc hạ. Đi xa ngàn dặm, bắt đầu bằng việc hạ chân xuống. Câu của Lão tử.

[Luận ngữ biệt tài – Nam hoài Cẩn]

Đây là Khổng tử tự bạch, tại sao Khổng tử đang nói đến vi chính, lại phải tự bạch như vậy? Khổng tử 72 tuổi mất. Ông dùng mấy câu đơn giản, nói về trải nghiệm một đời của bản thân, tinh thần gian khó phấn đấu. Thân thế của ông rất đáng thương, lúc phụ thân qua đời, ông hãy còn một người anh bán tàn phế và một người chị, đối với gia đình, ông phải gánh trách nhiệm này, tránh nhiệm của ông rất nặng. Ông nói lúc 15 tuổi, lập chí học tập, qua 15 năm, dựa theo kinh nghiệm phong phú của ông, cũng như tôi luyện của cuộc đời, đến 30 tuổi mới “lập.” “Lập” chính là “bất động,” đạo lý làm người, hành xử, xử thế đã bất biến không thay đổi, đã xác định rồi, trong cuộc đời này không đi theo con đường này không được. Nhưng đến lúc này hãy còn hoài nghi, hãy còn hiện tượng dao động, “tứ thập nhi bất hoặc,” đến 40 tuổi, mới không hoài nghi, nhưng đây là lời nói đối với học vấn nhân sinh thuộc phạm trù hình nhi hạ. Vẫn cần thêm 10 năm nữa, đến 50 tuổi, mới “ngũ thập nhi tri thiên mệnh.” Thiên mệnh là lai nguyên của vũ trụ, đây là phạm vi bản thể tư tưởng hình nhi thượng.

Đến “lục thập nhi nhĩ thuận,” ở đây lại có vấn đề, Khổng tử trước 60 tai có vấn đề gì không thuận, khoang tai phát nóng? Câu này rất khó giải thích, có khả năng là thời đó khắc thiếu chữ. Có khả năng là sau “lục thập nhi” có một nửa câu nữa. Nếu theo giảng giải của ngày xưa, đạo lý của “nhĩ thuận” là nói, từ 15 tuổi bắt đầu tu dưỡng học vấn, làm người xử thế, đến 60 tuổi, lời tốt lời xấu bất kể người khác nói gì, bản thân đều nghe được mà tuyệt không động tâm, không tức giận, người khác mắng chửi, cũng nghe được, trong tâm bình tĩnh. Chú ý! Tâm lý bình tĩnh  không phải là tử khí tối sầm, mà là rất hoạt bát có sinh khí, rất hiểu thị phi thiện ác, đối với người tốt cảm thấy đáng yêu đáng quý, đối với người xấu, cảm thấy cần giúp đỡ sửa thành người tốt, để có loại bình tĩnh này, loại học vấn này rất khó vậy. Sau đó lại thêm 10 năm nữa, mới “tòng tâm sở dục.” Văn hóa của Tây phương là tự do, nhưng phía sau còn một lời rất quan trọng nữa, “bất du củ.” Chúng ta ra đường mà xem, bánh bao nhà kia làm rất ngon, liền cầm ăn, “tòng tâm sở dục.” Như thế có được không? Cần “bất du củ.” Giữa người với người cần có 1 giới hạn. “Tòng tâm sở dục” – tự do nhưng không thể vượt qua giới hạn này, do đó “bất du củ,” đồng thời câu này cũng đạt tới đạo lý hình nhi thượng.

Nói đến đây, chúng ta cần nghiên cứu Khổng tử tại sao lại đem kinh nghiệm làm người, hành xử, học tập mấy chục năm đặt vào trong thiên “Vi chính.” Kinh nghiệm này vô cùng quan trọng, nguyên lai Vi chính chính là kinh nghiệm cuộc đời cần có.

Trên thế giới có hai thứ không có cách nào thực nghiệm được, chính là chính trị và quân sự. hai thứ này, bao la vạn tượng, biến động không ngừng. Nhìn từ lịch sử, chính trị của cổ kim đông tây, chuyên chế, quân chủ, dân chủ, tập thể, rốt cuộc như thế nào là tốt? Ai dám đưa ra kết luận? Đặc biệt là Trung Quốc hiện đại, vài chục năm gần đây, các loại văn hóa tư tưởng Tây phương, đều đến qua vũ đài Trung Quốc, nhưng tư tưởng Tây phương là từ văn hóa Tây phương, kết quả như thế nào? Do đó người vi chính cần hiểu nhân sinh, cần có kinh nghiệm, cần biết cách thấu hiểu. Do đó Khổng tử nói về kinh nghiệm của bản thân, tập hợp thành thiên Vi chính này, chính là nhắn nhủ những người liên quan đến chính trị, từ tu dưỡng của bản thân cho đến các gian nan của việc làm người, làm việc, đều không hề đơn giản, cần theo gương tinh thần này của ông, trong công việc cần hiểu rõ việc, mới đem đoạn này đưa vào thiên Vi chính.

Từ các đoạn ở trên, chúng ta đi đến một kết luận: bất kể là vi chính hay làm việc gì, cần dựa vào tích lũy kinh nghiệm cuộc sống. Nhưng tích lũy kinh nghiệm cuộc sống thành cái gì? Đơn giản 4 chữ: “nhân tình thế cố” (i).

Nói đến nhân tình thế cố, người Trung Quốc hiện tại đem danh từ này dùng ngược lại, đây là việc rất không hay. Ví dụ nói “tên này quá thế cố,” là đang mắng người. Đặc biệt khi người ngoại quốc phê bình người Trung Quốc, mấy năm trước trong Trung ương Nhật báo tôi đã thấy bài viết kiểu này, nói người Trung Quốc cái gì cũng tốt, nhưng quá trọng nhân tình. Phản ứng của thanh niên nói chung đều như nhau, cho rằng người ngoại quốc này viết văn phi thường thấu triệt, tôi nói các bạn không cần cho rằng người ngoại quốc ở Trung Quốc học hai ba năm, có thể hiểu văn hóa Trung Quốc, vậy thì các bạn đang làm cái gì? Vài chục năm ăn cơm đều là ăn không. Văn hóa Trung Quốc luôn nói về nhân tình, thứ gọi là “nhân tình,” không phải là đến dịp lễ tết, đem một cây thịt muối, đầu đường biếu đến cuối ngõ, nhà trái biếu đến nhà phải, ở ngoài biếu đi biếu lại truyền tay đến cả tháng, không chừng lại vật quy nguyên chủ. Đây chỉ là tượng trưng của tình lễ, “nhân tình” mà văn hóa Trung Quốc nói đến là chỉ “tính tình” (tư tưởng, cảm tình) giữa người với người. Nhân tình hai chữ này, bây giờ giải thích ra, bao gồm cả xã hội học, chính trị học, tâm lý học, khoa học hành vi các loại, cũng là cảm tình dung hợp của con người với nhau.

“Thế cố” chính là thấu triệt hiểu rõ sự vật, hiểu được quá khứ, hiện tại, tương lai. “Cố” là sự tình, “thế cố” là các loại sự tình trên thế giới, cần phải hiểu về người, hiểu về sự tình, mới gọi là đạt được “nhân tình thế cố.” Nhưng hiện tại sau khi dùng theo nghĩa ngược lại, những thứ gì mà tên này quá “thế cố,” trở thành tên khác của giảo hoạt, không thành thật; “Nhân tình” biến thành từ dùng để chỉ vỗ mông ngựa (nịnh nọt). Như thế này đã làm hoàn toàn làm sai đi văn hóa Trung Quốc, đặc biệt người ngoại quốc viết càng không đúng.

Vi chính lấy “đức” làm gốc, lại dùng học để bồi dưỡng giáo dục tinh thần đôn hậu ôn nhã của “thi,” đây không phải là đã chuẩn bị đầy đủ điều kiện cho vi chính sao? Không phải. Mà là giống như một người quân nhân, các loại lý luận tư tưởng quân sự cổ kim đông tây đều học kỹ càng, nhưng đến súng bắn thế nào cũng không biết, binh nhất binh nhì là thế nào cũng không hiểu, loại người này cùng lắm chỉ có thể làm tham mưu, tuyệt đối không thể dẫn binh ra chiến trường được. Do đó phong thái hành văn của “Luận ngữ,” nhẹ nhàng chuyển, đem lời tự bạch giản lược của Khổng tử cho vào đây. Cũng là nói với chúng ta, đạo lý của vi chính chính là cần thấu hiểu một cách chân chính về nhân tình thế cố.

Tôi từng nói qua, các loại tư tưởng chính trị trên thế giới tổng kết lại, bất kể là của Trung Quốc hay thế giới, điểm trọng yếu nhất, ở bốn chữ “an cư lạc nghiệp.” Bất kỳ tư tưởng, lý luận chính trị nào, đều chưa vượt qua phạm vi của bốn chữ này; đều không có ngoại lệ mà hướng đến làm sao để khiến con người có thể an cư, có thể lạc nghiệp. Đồng thời chúng ta ở nông thôn đến đâu cũng có thể thấy câu “phong điều vũ thuận, quốc thái dân an.” Tám chữ này, theo cách nhìn của người ngày nay, thấy vô cùng cổ. Nhưng trong lịch sử cổ kim đông tây, nếu thật sự có thể đạt đến cảnh giới 8 chữ này, đối với bất kỳ quốc gia nào, dân tộc nào, thời đại nào mà nói, vô luận là lý tưởng chính trị gì thì cũng là cũng đạt được rồi. Mà mấy câu cổ này, chính là đã thấu triệt tư tưởng triết học chính trị do nhân tình thế cố sinh ra.

(i) Nhân tình thế cố -人情世故 – rén qíng shì gù (lại là 1 câu của Văn thiên Tường; cố có nghĩa là việc; đây là chỉ kinh nghiệm, đạo lý, phương pháp xử thế làm người).

[Lời bàn của YL]

Hihi, đúng là “thiên mệnh” là danh từ con người đặt cho những thứ mình không đạt được, nhưng giới hạn của thiên mệnh là gì, không ai nói được. Vì thế để tri thiên mệnh, chắc là việc không tưởng.

Đùa vậy thôi, theo cách hiểu cụ Tiền Mưu, có vẻ cái gì cũng là thiên mệnh. Thiên mệnh ở khắp mọi nơi (hơi giống với khái niệm Đạo trong Đạo học). Thiên mệnh là giới hạn, là đạo, là đạo nghĩa. Như thế càng trừu tượng nữa, khác gì bảo cái gì cũng biện chứng :-P.

Các nhà Nho, có vẻ cũng tránh bàn sâu về thiên mệnh (hoặc là vì bàn không ra được, mà ai cũng không muốn tỏ ra nói nhiều, cái văn hóa đề cao chữ “ngộ” nó khổ thế :-P).

Cụ Tiền Mưu đúng là đặt Luận ngữ lên bàn thờ mà thờ, chết chết, lại cho là Khổng tử/Nho giáo cao hơn các loại tôn giáo khác.

Nho học thiên về dạy đạo đức, luân lý, nhưng lại bỏ qua các vấn đề triết học cơ bản, ví dụ như bàn cãi cho ra nhẽ thiên mệnh là gì và vị trí của thiên mệnh trong mối quan hệ với các khái niệm khác. Mà tác động của việc thiếu đào sâu phân tích, thiếu tranh luận “cho ra nhẽ,” dẫn đến cái gì cũng mơ mơ hồ hồ (hay còn gọi là trừu tượng??? cao siêu???), thiếu lập luận chặt chẽ. Ngay như cụ Tiền Mưu mỗi chỗ cũng quan niệm thiên mệnh một khác, tổng hợp lại cứ thấy tù mù, ý tứ đá nhau chan chát….

 

Advertisements

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.3

2.3. 子曰:“道之以政,齐之以刑,民免而无耻,道之以德,齐之以礼,有耻且格。”

Zǐ yuē: dào zhī yǐ zhèng, qí zhī yǐ xíng, mín miǎn ér wúchǐ, dào zhī yǐ dé, qí zhī yǐ lǐ, yǒu chǐ qiě gé.

Tử viết: đạo (1) chi dĩ chính, tề (2) chi dĩ hình, dân miễn (3) nhi vô sỉ (4), đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách (5).

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 道 – dào – đạo: có hai cách giải thích: một là “dẫn đạo” – dẫn dắt lãnh đạo; hai là “trị lý” – cai trị xử lý. Ý đầu so ra thỏa đáng hơn.
  2. 齐 – qí – tề: chỉnh tề, ước thúc, quản thúc.
  3. 免 – miǎn – miễn: tránh khỏi.
  4. 耻 – chǐ – sỉ: lòng hổ thẹn.
  5. 格 – gé – cách: có hai cách giải thích: một là “chí” –đạt đến, rất; hai là “chính.”

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Dùng pháp chế cấm lệnh để dẫn dắt bách tính, dùng hình pháp để quản thúc họ, bách tính chỉ mong tránh phạm tội chịu trừng phạt, nhưng mất đi lòng liêm sỉ; dùng đạo đức giáo hóa dẫn dắt bách tính, dùng lễ chế để thống nhất ngôn ngữ hành vi của bách tính, bách tính không những có lòng liêm sỉ, mà còn giữ gìn quy củ.”

[Bình luận- Chưa rõ là ai]

Trong chương này, Khổng tử nêu ra hai hai phương kế trị quốc khác nhau rành rành. Khổng tử cho rằng, hình phạt chỉ có thể khiến con người tránh phạm tội, không thể khiến họ hiểu được đạo lý là phạm tội đáng hổ thẹn thế nào, mà đạo đức giáo hóa so với hình phạt cao minh hơn nhiều, có thể khiến họ tuân thủ pháp luật quy củ, lại có thể khiến họ có lòng biết được thế nào là hổ thẹn. Điều này phản ảnh điểm đặc biệt của đạo đức trong việc trị lý quốc gia so với pháp chế. Nhưng cũng nên chỉ ra rằng: tư tưởng “vi chính dĩ đức” của Khổng tử, xem trọng đạo đức là cần thiết, nhưng lại xem nhẹ tác dụng của hình chính, pháp chế trong trị quốc.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu] 

道之以政- Đạo chi dĩ chính: chi – chữ chỉ người dân; đạo – nghĩa là lãnh đạo, dẫn dắt. Lấy chính sự mà lãnh đạo dân chúng, chính là cư thượng lâm hạ (ở trên cao nhìn xuống), pháp chế cấm lệnh, không thể thâm nhập vào lòng người.

齐之以刑- Tề chi dĩ hình: lãnh đạo mà nhân dân không theo, dùng hình phạt để khiến họ quy củ, dân biết là (lãnh đạo) có uy, nhưng lòng không được cảm hóa.

民免而无耻- Dân miễn nhi vô sỉ: miễn: muốn miễn bị phạt. Sỉ, lòng “sỉ” có điều bất cập (không tốt).  Chỉ nhanh tìm cách miễn bị hình phạt, lòng không có chút xấu hổ, không cảm giác gì mà tự thay đổi.

道之以德 – đạo chi dĩ đức: đức, là nhân cách và tâm địa của bản thân của người ở phía trên, dùng những phẩm chất này để lãnh đạo, mà người với người, tâm với tâm tương cảm tương thông, khác xa với việc ở trên cao mà nhìn xuống.

齐之以礼- tề chi dĩ lễ: lễ, là chế độ/hệ thống phẩm cách. Người người đều tuân thủ theo hệ thống phẩm cách, cũng đem lại hiệu quả là dân đi vào quy củ. Nhưng theo lễ, khác với dùng hình. Bản chất của lễ là ở chỗ hai bên tình ý tương thông, do tình cảm mà ra, không phải do sợ hãi.

有耻且格- hữu sỉ thả cách: cách, nghĩa là rất, (đạt đến) cùng cực. Người ở trên  dùng đức cảm hóa quần chúng, lại có thể lấy lễ để dân đi vào quy củ, người ở dưới tự biết đến lòng hổ thẹn, mà muốn đạt được như người trên. Cách còn có nghĩa là “chính” (đúng, thích đáng, hợp lẽ) như trong cách thức, quy cách. Người ở dưới có điều hổ thẹn, tất cố gắng đạt được tiêu chuẩn mà người ở trên định ra. Hai nghĩa tương thông với nhau.

Lý tưởng chính trị của Khổng môn, chủ về đức hóa, lễ trị. Chương này phát huy sâu sắc ý nghĩa của nó. Đại khái nhân đạo (đạo của con người) là ăn ở với nhau hòa bình, bình đẳng, đạo lý tương thông. Điều chủ chốt của nhân đạo này là ở tại tâm. Giáo dục chính trị, đạo của nó là nhất quán, sự việc có thể khác nhau nhưng đều theo một hướng chúng. Đây cũng là ý nghĩa xuyên suốt của Khổng môn, tuy cổ kim thời đại khác nhau, nhưng đạo này không thể vi phạm.

Khổng tử nói: ‘Dùng chính trị để lãnh đạo dân, dùng hình pháp để đưa dân vào trật tự, dân chỉ muốn tránh hình phạt là được, không cảm thấy việc không phục tùng lãnh đạo là đáng hổ thẹn. Nếu đem đức để lãnh đạo dân, đem lễ để đưa dân đi vào trật tự, trong lòng ai cũng cảm thấy vi phạm lãnh đạo là điều hổ thẹn, tự có thể đạt được một cách chính xác những gì người ở trên muốn lãnh đạo họ để đạt tới.’ 

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Tử viết: đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ, đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách.

“Đạo” này là đạo trong lãnh đạo. Ở phần trước chúng ta vừa mới chỉ ra, Khổng tử bàn luận về vi chính, không phải là nói về chính trị, dùng quan niệm hiện đại miễn cưỡng mà nói, Khổng tử bàn luận là về triết học chính trị, hoặc là nguyên lý của chính trị. Khổng tử nói lãnh đạo một quốc gia, một xã hội, nếu như dùng chính trị thể chế để lãnh đạo, lại dùng pháp chế để quản lý, “tề chi dĩ hình,” khiến cho mọi người không phạm pháp, phạm pháp liền bị phạt. Nhưng dùng pháp chế để quản lý nhân dân, một mặt “dân miễn” (dân tìm cách để miễn bị tội), ai cũng sẽ trốn tránh, tìm lỗ hổng của luật pháp, hơn nữa họ trốn tránh được trách nhiệm, pháp luật và xử phạt, còn tự đắc ý (i), cho rằng anh chẳng làm gì được họ, không có chút lòng hổ thẹn nào. Điều này cùng với lời giảng của Lão tử của Đạo gia về “法令滋彰,盗贼多有” – “pháp lệnh tư chương, đạo tặc đa hữu – pháp luật càng dày đặc, đạo tặc càng nhiều – đạo lý như nhau.

Do đó Khổng tử lại nói: “đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách.” Giả dụ dùng đạo đức để lãnh đạo, mỗi người dân đều có hàm dưỡng đạo đức, “tề chi dĩ lễ,” lấy lễ giáo hóa. Đây là nói đến tinh thần lễ nghĩa, mọi người đều tự động tự phát, nếu như làm sai, có lòng hổ thẹn, như thế khiến người người  đều có liêm sỉ, không dám làm việc thiếu đạo đức, không cần đợi đến pháp luật chế tài, tự bản thân đã thấy vô cùng khó chịu, đây chính là có liêm sỉ. Đạt đến cảnh giới này, tất “thả cách,” chính là đạt được mục tiêu của chính trị. Do đó Khổng tử chủ trương dùng chính trị đạo đức, cảm hóa đạo đức, đây chính là chỗ bất đồng giữa tinh thần Nho gia và Pháp gia. Tuy nhiên, chính trị Trung Quốc, trước nay vẫn luôn là Đạo gia, Nho gia, Pháp gia kết hợp với nhau.

(i) Nguyên văn: Tự minh đắc ý -自鳴得意 – zì míng dé yì (tự cho mình là hay, biểu hiện đắc ý; hình dung tự tán thưởng bản thân)

[Lời bàn của YL]   

Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức vốn là rất hay nhưng cũng rất phức tạp, tiếc là các nhà bình luận về Luận ngữ không đi sâu vào. Có lẽ phải đọc các sách mang tính tổng kết và phân tích, hoặc các sách so sánh đối chiếu giữa Nho gia và Pháp gia, hoặc các sách đi sâu vào từng khái niệm cụ thể như đạo đức, pháp luật, lễ, hình? Nhìn từ góc nhìn kiến tạo, đạo đức phần nhiều được thể hiện trong pháp luật, mà pháp luật cũng góp phần xây dựng nên các chuẩn mực đạo đức, hai phạm trù này không nhất thiết nằm trong mối quan hệ đối lập nhau như cách nhấn mạnh ở đây. Tất nhiên, cần lưu ý rằng, Nho gia có khái niệm “lễ” đi kèm với đạo đức, mà ý nghĩa bao hàm cả luật pháp, như một chương nào đó trong thiên Học nhi đã đề cập đến, mỗi tội “lễ” có vẻ thiếu đi sự răn đe của “hình.”

Hàn

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.1

Thiên 2: Vi Chính

Thiên Vi chính bao gồm 24 chương. Thông thường các học giả có lời mở đầu, giới thiệu nội dung chủ đạo của thiên là gì. Nhưng xét thấy điều này có thể ảnh hưởng đến hướng suy nghĩ của người đọc về thiên, cho nên ta thấy tốt nhất là đọc nội dung trước, rồi mỗi người tự tổng kết sau. Một ví dụ, nếu đọc lời bình của Nam Hoài Cẩn ở dưới, sẽ thấy lập luận của tác giả này về ý nghĩa của “vi chính” khác với cách hiểu thông thường rằng vi chính là về tư tưởng chính trị của Khổng tử.

Chú thích thêm là cụ Nam Hoài Cẩn hay tán lan man, nhưng lại cung cấp nhiều kiến thức có giá trị. Ví dụ, giải thích về ý nghĩa của chữ “đức,” cụ Tiền Mưu bê nguyên chú thích của Chu Hy vào, không giải thích gì thêm, vô cùng khó hiểu (mà cụ vốn luôn khó hiểu). Phải thông qua giải thích của cụ Nam Hoài Cẩn, mới hiểu định nghĩa về “đức” của người xưa. 

2.1子曰:“为政以德,譬如北辰,居其所而众星共之。”

Zǐ yuē: wéi zhèng yǐ dé, pì rú běi chén, jū qí suǒ ér zhòng xīng gòng zhī.

Tử viết: Vi chính dĩ đức (1), thí như bắc thần (2), cư kì sở (3) nhi chúng tinh củng (4) chi.

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 为政以德 – wéi zhèng yǐ dé – vi chính dĩ đức: dĩ, ý nghĩa là dùng, sử dụng. Câu này là nói bậc thống trị nên dùng đạo đức tiến hành thống trị, tức là “đức trị.”
  2. 北辰 – běi chén – bắc thần: sao Bắc cực.
  3. 所 – suǒ – sở: xứ sở, vị trí.
  4. 共 – gòng – củng: giống như 拱 (gǒng: vây quanh, vòng quanh), ý là vây quanh, bao quanh.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “(Vua nhà Chu) dùng đạo đức giáo hóa để trị lý (cai trị, xử lý) chính sự, giống như sao Bắc thần vậy, bản thân ở tại một phương vị cố định, mà các sao khác đều vây xung quanh mà chuyển động.”

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Câu này đại biểu cho tư tưởng “vi chính dĩ đức” của Khổng tử, ý nghĩa là nói, bậc thống trị nếu như thực hành đức chính, quần thần bách tính sẽ tự động vây xung quanh. Đây là cường điệu tác dụng có ý nghĩa quyết định của đạo đức đối với đời sống chính trị, chủ trương lấy đạo đức giáo hóa làm nguyên tắc trị quốc. Đây là phần khá có giá trị trong học thuyết của Khổng tử, thể hiện rõ nguyên tắc cơ bản của trị quốc của Nho gia là đức trị, chứ không phải là hình pháp nghiêm khắc.

[Bình luận – Tiền Mưu]

为政以德 – Vi chính dĩ đức: đức, (là) đắc (được ) vậy (i). Hành đạo mà có [sự] đắc [đạo] tại tâm, thứ đạt được, cũng như thứ vốn đã có, cho nên là tính (bản chất/bản tính-nd) ‘đức.’(ii). Người làm việc trị lý lấy tính“đức” của bản thân mình làm gốc, cho nên gọi là dùng người trị người.

Bắc thần: sao Bắc Cực, người xưa cho là ở trung tâm của trời.

众星共之 – chúng tinh củng chi: vây xung quanh sao Bắc Cực mà xoay chuyển vận hành. Đối với bậc lãnh tụ chính trị, có thể dùng đạo đức của bản thân để lãnh đạo, thì người bên dưới sẽ tôn kính tin tưởng trông cậy vào, giống như các ngôi sao vây quanh hướng về Bắc thần, thuận theo Bắc thần mà xoay chuyển.

Khổng môn bàn luận về việc học, coi trọng nhất là nhân đạo (đạo của con người, đạo làm người-nd). Chính trị là một việc lớn trong nhân đạo. Con người vì có nhóm, bầy mà tương sinh tương dưỡng tương an (sinh sống, nuôi dưỡng, ổn định với nhau), do đó người biên tập Luận ngữ để thiên Vi chính sau thiên Học nhi. Khổng môn bàn về chính trị, chủ trương “đức hóa” (dùng đức để cảm hóa – nd), vì chính trị cũng là một phương diện của sinh hoạt con người, sinh hoạt con người gốc tại nhân tâm. Người có đức, tâm chân thực nhất, có thể nương tựa được nhất, mà lại cũng không thể che lấp đi. Cho nên tuy ở trong tâm, nhưng trên thực tế lại là thứ quan trọng nhất của đời sống con người. Làm chính trị cũng không ngoại lệ. Đây cũng là ý nghĩa sâu rộng nhất của việc luận học của Khổng môn, cho đến tận ngày nay.

Các chú thích cũ của chương này, thường lấy “vô vi” để giải thích cho chữ “đức.” Kỳ thực tính “đức” của người có đức, cũng là phẩm hạnh “đức” của con người. Khổng từ là nói với lãnh tụ chính trị, chủ yếu từ tính “đức” của họ, từ phẩm “đức” của bản thân họ, mà chủ động cho mọi việc lãnh đạo. Như chương trước nói về “đạo thiên thặng chi quốc,” cũng là ‘vi chính dĩ đức.’ Duy chỉ có đức mới có thể cảm hóa hiệu triệu, thi hành, không phải là vô vi. Như là lời so sánh ở phía sau. Bắc thần chuyển động trong một chỗ vô cùng nhỏ, sự chuyển động này không thể thấy. Ở tại vị trí đó, như nói không rời khỏi chỗ, tự làm việc của mình, không phải là “vô sở vi” – cái gì cũng không làm. “Mạnh tử” nói “chí thành động vật” – vô cùng chân thành có thể lay động được ngoại vật, “Đại học” lấy tu thân làm căn bản, đều cùng chương này mà dẫn đến nhau.

Câu này có thể diễn giải thành như sau: Làm việc trị lý lấy đức làm chủ, ví dụ như Bắc thần ở trên trời, ở yên tại chỗ của mình, các sao khác vây quanh, hướng về phía đó mà xoay chuyển.

(i) Nguyên văn chú thích của Chu Hi: 德者得也- Đức giả, đắc dã – đức, là được vậy.

(ii) Chú ý là chữ “tính” trong cách hiểu của Nho gia ngày xưa khác với “tính” trong tính cách mà chúng ta hiểu ngày nay. Đại khái là, tính như trong “nhân chi sơ, tính bản thiện,” là chỉ bản chất “thiện,” “đức” của con người.

 [Bình luận – Nam Hoài Cẩn]

Thiên một Học nhi là giảng về một người qua học vấn để tu dưỡng ở bên trong, tiếp theo thiên hai Vi chính là giảng về việc sử dụng học vấn ở bên ngoài.

Nhưng nói đến Vi chính, có một điểm cần chú ý: chúng ta thường phát hiện trong một số trước tác, rất nhiều người cho rằng ‘Vi chính’ là “tư tưởng chính trị” của Khổng tử, hoặc dùng ngôn ngữ hiện đại để nói, gọi là “triết học chính trị.” Theo kết quả nghiên cứu của tôi, cho rằng cách lý giải này không đúng. Khổng tử rất ít khi đề cập đến một quan niệm “chính trị” hoàn chỉnh, Khổng tử chỉ nói “vi chính,” điểm này chúng ta cần đặc biệt chú ý. Đứng tại lập trường học thuật, thái độ cần phi thường nghiêm túc cẩn thận. Chúng ta thường nói một câu: ‘trước pháp luật, mọi người bình đẳng, cần phục tùng chân lý.’ Lập trường của việc học vấn, thì là ‘trước học thuật, thái độ cần phi thường nghiêm túc cẩn thận, phục tùng chân lý.’ Khổng tử chỉ nói về “vi chính,” không bàn về chính trị; “chính trị” như quốc phụ (người cha của dân tộc, ở đây là chỉ Tôn Trung Sơn – nd) từng nói, là “việc quản lý chúng nhân.” “Vi chính” mà Khổng tử nói đến là giáo hóa, giáo hóa là một danh từ của văn hóa Trung Quốc, không nên xem thành như giáo dục. Giáo là giáo dục, hóa là cảm hóa, nhưng trong quá khứ cũng không gọi là cảm hóa, mà gọi là phong hóa. Ý nghĩa của Vi chính bao gồm giáo hóa. Trọng điểm này chúng ta cần phải nắm vững. Do đó thiên hai Vi chính, cũng là nói về đạo lý dùng học vấn ở bên ngoài.

Phong phạm của đại chính trị gia

Tử viết: Vi chính dĩ đức, thí như bắc thần, cư kì sở nhi chúng tinh củng chi.

[…] Mấy câu này, ở bên ngoài, vô cùng dễ hiểu. Khổng tử đề ra rằng, vi chính, trọng yếu nhất là “đức.” Nói đến đây, chúng ta cần chú ý, thời đại Xuân thu Chiến quốc, hai chữ “đạo đức,” rất ít khi được dùng kết hợp với nhau, tại thời gian đó, đạo là đạo, đức là đức. Sau Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều, tới thời Đường, Tống, mới đem hai chữ này kết hợp lại, biến thành một danh từ “đạo đức”; hiện tại khi người trẻ tuổi nhắc đến đạo đức, đều cho đây là một danh từ đáng ghét. Đây là một diễn biến của văn hóa tư tưởng. Do đó chúng ta cần biết, trước thời Tần, Hán, đức là đức; mà “đạo” và “thiên,” vào lúc đó có thể nói là phiền phức nhất, là hai chữ khó giải thích nhất, giống như nhau có ý nghĩa vô cùng. Có lúc chữ “đạo,” là đại diện của bản thể hình nhi thượng, có lúc là đạo của đạo lộ (đường đi), có lúc ý nghĩa là quy tắc, giống như trong “Tôn tử binh pháp”: “Binh giả quỷ đạo dã,” đạo này ý nghĩa chính là quy tắc; có lúc lại là đại biểu của đạo đức. Chữ “thiên” cũng như vậy, bao hàm hơn bốn năm ý nghĩa. Trong cùng một quyển sách, thậm chí trong cùng một câu, chữ đạo ở trước và ở sau, ý nghĩa đã bất đồng. Đây như là một căn bệnh của văn hóa Trung Quốc, kỳ thực cũng là một điểm mạnh, đặc biệt trong thời cổ đại khi kỹ thuật ấn loát chưa được phát minh, 1 quan niệm dùng 1 chữ để đại biểu, dùng dao khắc trên thẻ trúc, vào thời đó đã đủ để biểu đạt hoàn toàn.

Lại nói đến ý nghĩa của chữ “đức” này, chữ “đức” trong quá khứ biểu thị thành quả và tác dụng của hành vi tốt. Người thời cổ đại giải thích “德者得也” – đức giả đắc dã – đức, có nghĩa là được. Do đó chúng ta hiểu lời Khổng tử giảng về “vi chính dĩ đức,” là thành quả của hành vi tốt, cùng với “đạo đức” mà hậu thế nói không khác biệt lớn lắm. Nếu như không nghiên cứu sâu, thông thường trong trường đại học, sẽ nói với học sinh, ‘đức’ ở đây chính là ‘đạo đức,’ vì học sinh chưa đạt đến trình độ tương đối, thầy cô giáo cũng không có cách nào đem nhiều những thứ đồ cổ giảng giải tỉ mỉ kỹ càng được. Khổng tử tại sao lại đề ra chữ “đức” này, đây là vấn đề đầu tiên.

Sao trên trời biết có bao nhiêu

Vấn đề thứ hai nói đến “Bắc thần.” Văn hóa Trung Quốc phát triển sớm nhất là thiên văn. Trong quá khứ chúng ta chúng ta đem thiên thể (bầu trời) chia thành “nhị thập bát tú” – hai mươi tám “tú” và ba “viên” – ba chòm sao: tử vi, thiếu vi, thái vi, giống như chúng ta ngày nay nói về kinh vĩ độ của thiên văn. Kinh vĩ độ là phương pháp phân chia của phương Tây. Từng có nhà thiên văn học chủ trương, chúng ta tự tính toán lại, không theo cách tính số độ của phương Tây, như thời gian Greenwich là người Anh tính ra, với chúng ta không liên can. Chúng ta tại sao không nói về thời gian ở trung nguyên của bản thân, hoặc lấy Đài Loan làm trung tâm, lấy kinh vĩ độ tính lại? Nhưng thực ra, trong quá khứ chúng ta đã từng tính toán phân chia rồi. Thiên thể (bầu trời) phân chia thành tam viên, nhị thập bát tú, chính là đem phạm vi của tinh tọa (vị trí sao/ chùm sao), tính toán phân chia thành hai mươi tám phần. Tại sao gọi là宿- “tú”? Đây là chỉ mỗi ngày thời gian mặt trời từ phương Tây lặn xuống, trên bầu trời phương Đông có một tinh tọa xuất hiện, tinh tọa này là “tú.” Tinh tọa này xuất hiện, mỗi tháng không giống nhau, mỗi nửa tháng không giống nhau, mỗi tuần không giống nhau, do đó phân thành hai mươi tám tú, lại phân thành mười hai thần (giờ), tạo thành quan hệ thời gian và thiên thể. Trong quá khứ phát hiện bắc đẩu thất tinh, chính là chòm sao đại hùng tinh tiểu hùng tinh mà hiện tại người phương Tây nói đến. Trong mùa hè chúng ta có thể thấy một dải ngân hà, ở phía bắc của ngân hà, bảy ngôi sao sáng nhất là (chùm) sao Bắc Đẩu, bảy ngôi sao này liên kết với nhau, giống như gáo múc nước, thời xưa gọi là “đẩu.” Thiên văn học hiện đại, cũng không khác so với nguyên tắc của tổ tiên chúng ta. Cả một bầu trời bao nhiêu ngôi sao, đều lấy sao bắc cực làm trung tâm, các sao khác vây quanh sao bắc cực, mỗi lần đến buổi tối, cán đẩu phía trước của bắc đẩu thất tinh, nhất định có hai ngôi sao sáng nhất, gọi là Chiêu Diêu nhị tinh, ánh sáng lấp lánh nhất, rất dễ nhìn thấy. Mùa xuân Bắc Đẩu tinh nhất định chỉ về cung Dần ở phía Đông. Ngày xưa làm Đại tướng, cần trên thông thiên văn, dưới thông địa lý, giữa thông nhân sự, không gì không biết, mới có thể cầm quân. Do đó trong quân sự thiên văn vô cùng quan trọng, lấy việc hành quân mà nói, ví dụ như trong đêm mà không phân biệt được phương hướng, liền quan sát tinh đẩu, không cần dùng máy móc, mà có thể phân biệt được phương hướng. Nước ta trước kia loại văn hóa này rất phổ biến, hiện tại đối với “thiên văn học” vốn có, chúng ta lại chẳng biết một chút gì. Đối với kiến thức này do tổ tiên truyền lại, chúng ta không thể không chú ý, cần phải xem lại.

Một năm bốn mùa, trên trời tinh tọa di động, giống như nghe chỉ huy của Bắc Đẩu tinh, theo hướng Bắc Đẩu tinh, vây quanh Bắc Đẩu tinh mà chuyển động. Không những một năm bốn mùa, mỗi tháng phương hướng Bắc Đẩu tinh chỉ đều không giống nhau, cả bầu trời theo đó mà vận chuyển. Mỗi ngày mười hai thời thần (canh giờ), phương hướng của Bắc Đẩu tinh cũng lại biến động, do đó đây là một loại biến động cố định hàng nghìn triệu năm, không thể rối loạn, trên thực tế cũng quyết không rối loạn.

Đối với “Bắc thần” chúng ta hiểu, vậy câu này của Khổng tử ý là gì? Chính là nói “vi chính dĩ đức,” trong tâm có đạo, hành vi biểu hiện bên ngoài sẽ ‘vô giải khả kích’ – không có chỗ trễ nải nào có thể công kích được (i). Ví dụ như Bắc thần, có tư tưởng trung tâm, tác phong trung tâm, dùng cảm hóa của đạo đức, ở đó bản thân không cần phải động, chỉ cần phát hiệu lệnh, người ở dưới liền như vô số tinh tọa khắp bầu trời, đều hướng về phía đó mà vận động.

Lưu Bị mắc lừa Tào Tháo

Trong tư tưởng quân sự, mọi người đều biết hai câu “vạn chúng nhất tâm” – vạn người một lòng (ii) cho đến “vận dụng chi diệu, tồn hồ nhất tâm” – sự tinh diệu của việc vận dụng, là ở trong tim (iii). Mọi người đối với hai câu này mỗi người lại có một kiến giải khác nhau. Có người giải thích thành ‘thiên vạn hùng sư thiên vạn tâm’ – nghìn vạn hùng quân nghìn vạn tâm, như thế không tốt lắm, chủ soái giỏi nhất trong tình hình này cũng không có biện pháp, đây là vấn đề tư tưởng, tư tưởng nhất định cần tập trung.

“Vận dụng chi diệu, tồn hồ nhất tâm,” là Nhạc Phi đề ra. Hiện tại chúng ta nếu như giải thích thành sự linh hoạt trong tâm kế của chủ soái, cái gọi là “sơn nhân tự hữu diệu kế” – ẩn sĩ tự có kế sách tinh diệu của mình, như thế là vô cùng hỏng. Chúng tôi nghiên cứu, “nhất tâm” trong câu “tồn hồ nhất tâm” này, ý nghĩa là “vạn chúng nhất tâm” có vẻ thích đáng nhất. Như vậy “cư kì sở nhi chúng tinh củng chi” chính là đạo lý này.

Tiếp đến, chúng ta biết rằng, tư tưởng hai nhà Nho Đạo, trước thời Tần Hán không phân chia. Mọi người đều biết, tư tưởng Lão Trang của Đạo gia nói “无为而治” – “vô vi nhi trị” (iv), có một số người nói về tư tưởng “vô vi nhi trị” của Đạo gia, đều giải thích thành người làm lãnh đạo ở phía trên, cái gì cũng không quản, chính là “vô vi nhi trị.” Đây là hiểu sai hoàn toàn, Đạo gia không có thuyết pháp như thế, mà là “vô vi vô bất vi.” Cái gọi là “vô vi nhi trị” là kiểm soát lúc sự việc chưa có dấu hiện phát sinh, sau xem ra như là không có việc gì. Ví dụ nói, một người lãnh đạo, một người chủ trì, đối với bất kỳ một phương pháp nào, khi bắt đầu trước hết cần biết rõ các tai hại về sau này của nó, vấn đề xuất hiện ở đâu, trước hết tìm ra nguyên nhân của nó, khai thông vấn đề, sẽ không xuất hiện vấn đề nữa, sau đó mới có thể “无为而无所不为” – vô vi nhi vô sở bất vi – không làm gì nhưng không gì là không làm.

Nói đến đây, nói một chuyện cười, năm đó trong thời kỳ kháng chiến, có một người bạn ở một cơ quan hành chính đốc sát chuyên viên làm phó tư lệnh bảo an, anh ta gần như ngày nào cũng ở bên ngoài diệt phỉ, tôi hỏi anh ta: “chỗ của các anh lấy đâu ra lắm thổ phỉ thế?” Anh ta trách tôi cả một ngày là không quan tâm đến đại sự thiên hạ, đến quạt lông ngỗng cũng không cầm, không thể làm quân sư. Tôi hỏi lời này ý là gì. Anh ta nói: ‘Nếu như diệt hết thổ phỉ, chúng tôi sẽ như thế nào?’ Tôi nói các anh hóa ra là giữ như thế này. Anh ta nói: “Không phải là chúng tôi cần giữ như thế này, mà là huyện bên cạnh cần giữ như thế này, đem thổ phỉ đuổi tới đuổi lui, số lần diệt trừ nhiều, công lao nhiều, họ cần giữ như thế này, chúng tôi còn biện pháp nào khác?” cũng có người nói Lưu Bị là do Tào Tháo bồi dưỡng ra, giả dụ Tào Tháo không bồi dưỡng ra Lưu Bị này, thì không thể kiềm chế thiên tử để ra lệnh cho chư hầu được.

Việc thiên hạ nguyên là như vậy. Hiện tại nói về câu chuyện xấu như thế này, để giải thích một đạo lý – loại vô vi nhi trị này, thực tại rất không đạo đức. Chúng ta từ tư tưởng chính trị trong chính trị học, quân sự học, đều có thể thấy được, cái gọi là “làm đại tướng không có chiến công hiển hách,” ý nghĩa của câu này trong tư tưởng quân sự, là thứ gọi là “quân không đánh mà khuất phục được người.” Chỉ cần có đại tướng ở đó, quân địch liền sợ, không dám động, chiến tranh không đánh được. Điều này đương nhiên là tuyệt vời. Giả dụ là một người bình thường có chiến công hiển hách, lại là một việc khác. Thứ gọi là đạo lý vô vi, điểm trọng yếu đại loại cũng ở chỗ này, Khổng tử giảng về chính trị đạo đức, cũng là đạo lý này.

Tại sao Khổng tử luôn đề cập đến những thứ như thế này? Người xưa đối với phương pháp nghiên cứu lịch sử Trung Quốc, có một câu gọi là “经史合参” – kinh sử hợp tham. Cái gì gọi là “kinh”? Chính là thường đạo, chính là các nguyên tắc lớn, vĩnh hằng bất biến, ở bất kỳ thời đại nào, bất kỳ địa phương nào, nguyên tắc này sẽ không biến động. Nhưng không phải là chúng ta có khả năng quy định nó không được phép biến động, mà là nó bản thân tất nhiên đã là như vậy, do đó mới được gọi là “kinh.” Mà “sử” là ghi lại biến động thời đại, biến thiên xã hội theo nguyên tắc này. Chúng ta nếu muốn hiểu được kinh, tất phải hiểu được sử. Đem mỗi thời đại lịch sử, mỗi xã hội ra phối hợp. Nghiên cứu kinh sử như thế này, mới có ý nghĩa. Ví dụ Khổng tử nói “vi chính dĩ đức,” nhìn biểu hiện bên ngoài, giống như một thứ giáo điều cứng nhắc. Kỳ thực không phải như vậy. Chúng ta học lịch sử liền biết, thời đại Khổng tử sinh ra, hậu thế chúng ta gọi là “thời đại Xuân Thu,” chính là thời đại giữa Tây Chu và Đông Chu, Khổng tử viết một cuốn sách gọi là “Xuân Thu,” về sau “Xuân Thu” trở thành danh từ chỉ thời đại lịch sử. Trong khoảng thời gian của Khổng tử, có người viết lịch sử, đều gọi là “Xuân Thu.” Trong văn hóa Trung Quốc tại sao lại gọi lịch sử là “Xuân Thu” mà không gọi là “Đông Hạ”? Theo lý lạnh là lạnh, nóng là nóng, gọi là “Đông Hạ” cũng không có gì là không được. Có người nói do câu đầu tiên của sách Xuân Thu “春王正月”- “Xuân vương chính nguyệt” – thời sau đem “Xuân vương chính nguyệt” đọc thành một câu, là đọc sai. Do đó chúng tôi nhấn mạnh một lần nữa, đọc sách cổ cần chú ý, do thời xưa vẫn chưa có giấy viết, văn tự cần dùng dao khắc vào thanh trúc, rất khó khăn, do đó thường một chữ đại biểu cho một ý nghĩa phức tạp. Chữ “Xuân” là mùa xuân; “Vương” là chính phủ trung ương, là triều đình nhà Chu; “Chính Nguyệt” là tháng đầu tiên trong lịch thời tiết triều Chu; do đó mà thành “Xuân vương chính nguyệt” – đem điều này để giải thích nguyên nhân gọi lịch sử là Xuân Thu, đây là không đúng.

Vừa mới đề cập, văn hóa Trung quốc phát triển sớm nhất là khoa học, mà trong khoa học phát triển sớm nhất là thiên văn, nói đến lịch sử khoa học thế giới, thậm chí là khoa học, nhất định nghiên cứu thiên văn trước tiên. Muốn nói đến thiên văn, thiên văn Trung Quốc, từ ba nghìn năm trước đã phát triển. Tính trên toàn thế giới, là phát triển đầu tiên. Nói đến thiên văn tất yếu cần phải nói đến số học, mà số học Trung Quốc, từ sáu ngàn năm trước, cũng rất phát triển. Các phương diện này đợi tương lai khi có cơ hội bàn về “Dịch kinh,” sẽ nói đến.

Văn hóa Trung Quốc là từ thiên văn mà tới – chúng ta biết một năm bốn mùa khí hậu không đồng đều, mùa đông rất lạnh, mùa hạ rất nóng. Nói đến ngày đêm, vào mùa đông ban ngày rất ngắn, vào mùa hạ rất dài, đều không đồng đều. Chỉ có trong tháng hai mùa xuân và  tháng tám mùa thu, hai tiết khí “xuân phân,” “thu phân,” chính là tại kinh vĩ độ, mặt trời vừa mới đến thời khắc hoàng đạo, ngày trắng đêm đen dài bằng nhau, khí hậu không lạnh không nóng rất ôn hòa, do đó gọi lịch sử là Xuân Thu. Đây chính là nhà lịch sử học Trung Quốc nhận định rằng trong thời đại đó, xã hội, chính trị tốt hay không tốt, đặt tại một cán cân cân bằng như xuân phân thu phân mà phê bình phán định. Lấy quan niệm ngày nay mà nói, anh có đủ phân lượng không? Anh làm hoàng đế bao nhiêu năm? Có đối xử tốt với quốc gia không? Anh làm quan bao nhiêu năm? Có đối tốt với bách tính không? Đều thay mặt anh mà cân đo đánh giá. Lịch sử gọi là “Xuân Thu” chính là đạo lý này.

Từ gió bão hiểu nhân sinh

Chúng ta xem “Xuân Thu,” xem lịch sử thời Xuân Thu Chiến quốc, Khổng tử trong系传 –“Hệ truyện,” “Kinh Dịch” nói: “臣弑其君,子弑其父,非一朝一夕之故,其所由来者,渐矣” – “thần thí kì quân, tử thí kì phụ, phi nhất triêu nhất tịch chi cố, kì sở do lai giả, tiệm hĩ” – Tôi giết vua, con giết cha, nguyên do không ở trong một sớm một chiều, điều đó dần dần mà đến. Nhưng Khổng tử cho rằng “phi nhất triêu nhất tịch chi cố” – không phải là hình thành nên trong một ngày. Trang tử của Đạo gia nói: “飓风起于萍末” – “cự phong khởi ư bình mạt”- gió lốc bắt đầu từ đầu cánh bèo, cự phong chính là từ địa phương Quảng Đông, Phúc Kiến để chỉ bão (台风 – đài phong), hiện tại người phương Tây dùng ngữ âm Trung Quốc dịch ra, cũng gọi là đài phong (typhoon). Chúng ta thấy bão có sức rất mãnh liệt, nhưng lúc bắt đầu từ mặt nước, chỉ thấy một lá bèo ở trên mặt nước, hơi động một chút, ngay sát mặt nước một cỗ khí lưu sinh ra, dần dần lớn lên, biến thành bão. Câu này của Đạo gia là nói, một người cũng thế, gia đình cũng thế, việc của xã hội, quốc gia, thiên hạ đều như thế, nếu như việc nhỏ không để ý đến, tất từ việc nhỏ này sẽ phát sinh ra vấn đề lớn. “Cự phong khởi ư bình mạt,” gió bão lớn xuất phát từ gió nhỏ nơi  đầu sóng (phong ba). Do đó Khổng tử trong Kinh dịch nói câu ở phía trên, thuyết minh mọi việc trong thiên hạ hình thành không phải ngẫu nhiên, gần như không có ngẫu nhiên. Bình thường nghe người ta nói “cơ hội này rất ngẫu nhiên,” trên thực tế không có việc nào ngẫu nhiên cả.

Theo đạo lý Kinh dịch của văn hóa Trung Quốc mà nói, mọi sự trong thiên hạ đều có nguyên nhân, có rất nhiều nhân tố. Ví dụ có người nhặt được một đồng tiền, “Thật ngẫu nhiên!” nhưng nếu phân tích kỹ, một chút cũng không ngẫu nhiên, nguyên nhân của việc này là gì? Do anh ta đi ra khỏi nhà, nếu như không có tiền nhân là anh ta đi ra khỏi nhà, sẽ không có hậu quả là nhặt được một đồng tiền. Hoặc nói, ngồi trong nhà đánh rơi một đồng tiền, đây có thể là ngẫu nhiên không? Nhưng do anh ta ngồi trong nhà, đồng tiền này rơi ra anh ta mới nhặt được. Giả dụ anh ta đi ra khỏi nhà không ngồi ở trong nhà, tiền rơi xuống, cũng không chắc là của anh ta, do đó ngồi trong nhà không ra ngoài, cũng là tiền nhân của việc nhặt được đồng tiền này. Vì vậy đây đều là nhân tố, “kì sở do lai giả, tiệm hĩ.” Đều là dần dần biến hóa mà sinh ra. “Kinh dịch” nói với chúng ta, việc trong thiên hạ, không có đột biến, chỉ có vào lúc trí tuệ của chúng ta không đủ, mới nhìn mỗi một sự việc là đột biến, kì thực sớm đã có một nguyên nhân tiềm phục tại đó.

Chúng ta hiểu mấy câu “Kinh dịch” này, Khổng tử viết “Xuân Thu,” chính là gặp đúng thời đại đó, Khổng tử do đó đặt nặng về giáo hóa, chính là trong ba bốn trăm năm này, phong khí xã hội loạn đến mức trầm trọng.  Chúng ta không ngại có thể dẫn lời vài người, có thể biết thời Xuân Thu loạn đến trình độ nào.

Tư Mã Quang nói: “Nay đại phu nước Tấn hãm hại vua, phân chia nước Tấn (chỉ Triệu, Ngụy, Hàn ba nước phân chia Tấn), thiên tử đã không thể trừng trị, lại dung túng, khiến cho các chư hầu, phân liệt nhỏ ra không thể giữ, mà đều bỏ cả, lễ của tiên vương, đã đến lúc tận vậy.”

Lại nói: “Thiên hạ lấy trí lực xưng hùng, theo việc dùng con cháu của thánh hiền thành bậc chư hầu, xã tắc không gì không tan tành, các loại dân, tan tác hết cả, há chẳng bi ai ư!”

[Lười dịch nên bỏ một đoạn]

Từ các ghi chép ở trên, chứng minh sự hỗn loạn xã hội thời Xuân thu Chiến quốc, biến loạn vô cùng trầm trọng. Đương thời, mọi người xem trọng tranh đấu quyền lợi, loạn trật tự xã hội, suy bại văn hóa, so sánh với một số tình hình xã hội của chúng ta ngày nay, có điểm gần tương đồng. Khổng tử đối diện với biến động hỗn loạn này, vô cùng phiền não, do đó Khổng tử nói vi chính, quyền lực chẳng hữu dụng gì, duy “đức”  mới được.

Thánh nhân cũng hợm mình chăng?

Nói đến “đức,” có một quan niệm thứ ba, chúng ta thấy lịch sử Trung Quốc, tư tưởng Nho gia tại sao tôn sùng Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ, Chu Công như vậy? Trước đây tôi có một người bạn, hơn tôi vài chục tuổi, là bạn vong niên, người Tứ Xuyên, tự xưng là “Giáo chủ Hậu Hắc” Lý Tông Ngô, người này người cùng thời đều biết. Bản thân con người ông đạo đức vô cùng tốt, nhưng lại thích cố ý mắng người, tôi khuyên ông  bớt mắng người ta một chút, đừng đề xướng Hậu Hắc học, tôi nói bản tính con người đều là như vậy, mặt dày tâm đen, nhưng vẫn dùng một tấm màn che để che đậy lại, tại sao nhất định phải vén ra? Ông nói: “Vén ra ư? Anh nhầm rồi, tôi là kéo ra tấm màn xấu xa, dậy người ta nhìn sự chân thực ở đằng sau.” Lý Tông Ngô đối với lịch sử vô cùng hoài nghi, ông nói không thánh nhân không đáng tin, tại sao chuyên tôn sùng Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ, Chu Công mấy người thành công này? Không thành công thì không phải thánh nhân ư? Do đó ông có một bài viết tên là “Hoài nghi thánh nhân.” Vị lão huynh này, chuyên viết văn chương tiêu cực, hỏi ông tại sao lại phải làm như thế?  Ông nói: “Lão đệ, anh không biết, tôi với Albert Einstein cùng tuổi, vị cùng tuổi đó đã phát minh ra thuyết tương đối nổi tiếng thiên hạ. Tôi thì sao? Làm một giáo chủ Hậu Hắc vẫn còn làm không tốt, do đó tôi không ngỗ nghịch một chút không được.” Con người này rất tuyệt diệu, lúc tôi biết ông, ông đã hơn sáu mươi tuổi, cả ngày không ăn cơm, suốt ngày uống rượu, uống rượu là no. Tinh thần, đạo đức đều rất tốt (iv).

Nói đến đây, lại quay lại nói chủ đề chính, Khổng tử tại sao lại đề cao Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ, Chu Công vân vân? Thứ nhất, có tư tưởng đạo đức,  không có thành quả của việc thực hành đức, chỉ có thể nói anh ta có đạo, không thấy được là có đức. Có tư tưởng đạo đức, lại có thành quả của việc làm đạo đức, đạo và đức phối hợp, mới gọi là “đạo đức.”

Trong lịch sử, Đạo gia, Nho gia đều đề cập cao Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ, Chu Công, là vì thời kỳ đó nói đến “vi chính,” chú ý đến chữ “đức,” đến Tần, Hán về sau, chỉ nói đến sự nghiệp công hạng, cái gọi là “tam vương chi trị tại đạo đức, ngũ bá chi chí tại sự công” – việc trị quốc của tam vương ở tại đạo đức, ý chí của ngũ bá ở tại sự nghiệp công hạng (v). Điểm bất đồng của bậc vương, bá là ở chỗ này, từ cấp này trở xuống, đến bá nghiệp cũng không nói đến được, đến sự nghiệp công hạng đều không có, chỉ có dùng thủ đoạn trộm gà cắp chó (vi) để ăn trộm một quốc gia mà thôi.

Mấy câu này tuy là đơn giản, giải thích ra, lại có  ý tứ vô cùng nhiều, chúng ta hiểu được toàn bộ, mới có thể hiểu được giá trị của nó.

 

(i) Vô giải khả kích – 无懈可击 – wú xiè kě jī (giải: lỏng lẻo trễ nải, suy ra là có lỗ hổng, khe hở; câu này có nghĩa là không có nhược điểm nào khiến người khác có thể công kích được, hình dung rất nghiêm khắc chặt chẽ chu đáo không có sơ hở, không thấy sơ hở nào; câu bắt nguồn từ kế sách Tôn tử: 攻其无备,出其不意 – công kì vô bị, xuất kì bất ý: khi tấn công quân địch, hành động vào lúc địch chưa phòng bị hoặc chưa tính đến. Tào tháo chú thích là: 击其懈怠,出其空虚 – kích kì giải đãi, xuất kì không hư: tấn công lúc địch lười biếng trễ nải, hoặc rỗng không).

(ii) Vạn chúng nhất tâm -万众一心 – wàn zhòng yī xīn (câu trong Hậu Hán thư; ngàn vạn người một lòng, hình dung đoàn kết nhất trí).

(iii) Vận dụng chi diệu, tồn hồ nhất tâm -运用之妙,存乎一心 – yùn yòng zhī miào,cún hū yī xīn (câu trong Tống sử, Nhạc Phi truyện, câu Nhạc Phi nói: 阵而后战,兵法之常,运用之妙,存乎一心: trận nhi hậu chiến, binh pháp chi thường, vận dụng chi diệu, tồn hồ nhất tâm: bày trận thế sau đó xuất chiến, đây là quy tắc thông thường của việc chiến đấu, nhưng có thể khéo léo linh hoạt sử dụng, tất cả là do giỏi giang thiện nghệ trong suy nghĩ, phân tích, nghiên cứu. Chỉ cao chiêu trong nghệ thuật chỉ huy tác chiến; đây là cách giải thích thông thường, còn tác giả Nam Hoài Cẩn có cách giải thích khác như trong bài).

(iv) Sách Hậu Hắc học của Lý Tông Ngô đã dịch sang tiếng Việt. Hậu là dày, Hắc là đen, sách của ông bàn về “mặt dày tâm đen.” Đọc thêm ở đây, tiếng Anh ghi là Thick Black Theory https://en.wikipedia.org/wiki/Thick_Black_Theory.

(v) Tam vương ngũ bá: các vị quân chủ kiệt xuất trước thời Tần; tam vương bao gồm vua Hạ Vũ, Thương Thang, Chu Văn Vương; ngũ bá bao gồm Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công, Sở Trang Vương, Ngô vương Hạp Lư.

(vi) Thâu kê mạc cẩu – 偷鸡摸狗 – tōu jī mō gǒu (trộm gà cắp chó; chỉ hành động ăn cắp, hoặc việc làm bất chính).

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.14

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.14

1.14 子曰:“君子食无求饱,居无求安,敏于事而慎于言,就有道而正焉,可谓好学也已。”

Zǐ yuē :“jūn zǐ shí wú qiú bǎo ,jū wú qiú ān ,mǐn yū shì ér shèn yū yán ,jiù yǒu dào ér zhèng yān ,kě wèi hào xué yě yǐ 。” 

Tử viết: “Quân tử thực vô cầu bão, cư vô cầu an, mẫn ư sự nhi thận ư ngôn, tựu (1) hữu đạo (2) nhi chính (3) yên, khả vị hiếu học dã dĩ.”

[Chú thích]

(1) 就 – jiù – tựu: tiếp cận, tiến gần đến, tiếp bước, noi theo

(2) 有道 – yǒu dào – hữu đạo: chỉ người có đạo đức.

(3) 正 – zhèng – chính: khuông chính, đoan chính – sửa chữa, sửa cho đúng lại.

[Giải nghĩa câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Quân tử, ăn uống không cầu no đủ, ở không cầu dễ chịu, đối với công việc cần lao mẫn tiệp, nói lời cẩn thận thận trọng, đến gần người có đạo đức mà tự sửa bản thân, như thế có thể nói là hiếu học vậy.”

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Trọng điểm của chương này là đề ra yêu cầu đạo đức đối với quân tử. Khổng tử cho rằng, một người có đạo đức, không nên chú tâm quá mức về các vấn đề ăn uống ở của bản thân, mà trong công việc nên cần lao (siêng năng chịu khó) mẫn tiệp (nhanh nhẹn), cẩn thận, thận trọng, lại còn có thể thường xuyên kiểm điểm bản thân, nhờ người có đạo đức giúp mình sửa chữa ngôn hành cử chỉ. Làm nên quân tử cần khắc chế truy cầu các dục vọng thụ hưởng vật chất, mà đem lực chú ý vào bồi dưỡng phẩm chất đạo đức của bản thân, điều này mới đáng học hỏi.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Thực vô cầu bão, cư vô cầu an: không cầu ấm no, chí hướng ở tại việc học hành, không rảnh rỗi mà cầu chuyện ấm no. Một giỏ thức ăn, một bầu nước uống, ở nơi ngõ hẹp, mà vẫn vui trong hoàn cảnh của mình. Nếu như chí hướng ở tại việc cầu ấm no, rồi cả đời cũng sẽ bận rộn không có thời gian.

Mẫn ư sự nhi thận ư ngôn: mẫn: nhanh nhẹn, mau lẹ; thận: thận trọng. Đối với sự việc cố gắng hết sức của mình cũng không đủ, đối với lời nói không dám nói dư lời nào.

Tựu hữu đạo nhi chính yên: hữu đạo, là nói người có đạo đức hoặc học đạo; chính: hỏi mình đúng hay sai. Nếu có thể làm được như những điều kể trên, lại vừa tựu hữu đạo nhi chính (hướng đến người có đạo đức mà hỏi việc đúng sai), lúc đó có thể gọi là hiếu học.

Chương này có thể diễn giải như sau: quân tử, ăn không cầu no, ở không cầu an, làm việc nhanh nhẹn, nói lời thận trọng, lại có thể thường xuyên theo người có đạo mà tự nhận ra và sửa chữa việc đúng sai của bản thân, như thế có thể tính là hiếu học vậy.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Nói về đạo lý của học vấn, không chỉ là đọc sách “chết,” mà còn là chú trọng đến việc làm người xử thế trong hiện thực nhân sinh. Khổng tử nói sinh hoạt không cần quá xa xỉ, “thực vô cầu bão,” đặc biệt là trong hoàn cảnh khổ nạn khó khăn, không cần có yêu cầu quá mức, quá đầy đủ xa xỉ. Thái độ của Khổng tử đối với sinh hoạt đời sống của bản thân, tiêu chuẩn làm người được ghi trong thiên Hương đảng. “Cư vô cầu an,” nơi ở chỉ cần thỏa đáng, có thể an bần lạc đạo (i), không cần tham lam truy cầu sự an dật (yên vui an nhàn) quá độ, tham lam truy cầu sự thụ hưởng quá độ. Ý nghĩa của hai câu này, là không truy cầu hưởng thụ vật chất sinh hoạt, mà coi trọng sự thăng hoa của đời sống tinh thần. “Mẫn ư sự nhi thận ư ngôn,” bao gồm tất cả các loại trách nhiệm, các loại việc nên làm, cần mẫn tiệp – lập tức làm. “Thận ư ngôn,” không nên nói loạn. “Tựu hữu đạo nhi chính yên,” “đạo” này là chỉ học vấn, tu dưỡng. Thế thì nơi nào gọi là “hữu đạo”? Sách của người xưa, trong sách chính là “hữu đạo”, từ các đạo lý làm người xử thế trong sách mà tu thân sửa mình, như thế này gọi là hiếu học. Có thế thấy thiên Học nhi này, không hề nói đọc sách là học vấn, trước sau có rất nhiều chỗ, đều chứng minh như vậy.

(i) An bần lạc đạo – 安贫乐道 – ān pín lè dào (câu trong Hậu Hán Thư. An ổn với việc nghèo khó, lấy việc kiên trì với đạo của mình làm lạc – niềm vui. Đạo trước chỉ đạo đức, sau chỉ cả lý tưởng, niềm tin ).

Si

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.9

Thiên 1. Học nhi. Chương 1.9

1.9. 曾子曰:“慎终追远,民德归厚矣。”

Zēng zǐ yuē :“Shèn zhōng zhuī yuǎn ,mín dé guī hòu yǐ 。” 

Tăng tử viết: “Thận chung (1) truy viễn (2), dân đức quy hậu hĩ.”

(1) Thận chung –慎终 – Shèn zhōng: người chết là chung. Ở đây chỉ bố mẹ mất. Chú thích xưa viết: 慎终者丧尽其哀 – thận chung giả táng tận kì ai – cẩn thận để tang cha mẹ để tận lòng bi thương.

(2) Truy viễn – 追远 – zhuī yuǎn: viễn chỉ tổ tiên. Chú thích xưa viết: 追远者祭尽其敬 – truy viễn giả tế tận kì kính – nhớ tế bái tổ tiên để tận lòng kính trọng.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Tăng tử nói: cẩn thận đối với việc tang của cha mẹ, truy niệm tổ tiên, lâu dần tự nhiên có thể khiến cho lão bách tính trung hậu thật thà.

[Giải thích- Chưa rõ là ai]

Khổng tử vốn không tin sự tồn tại của quỷ thần, từng nói “kính quỷ thần nhi viễn chi” -敬鬼神而远之 – kính trọng quỷ thần nhưng tránh xa (i), chứng tỏ điều này. Mặc dù Khổng tử không đề cập đến việc con người chết đi có thứ gọi là linh hồn tồn tại hay không, nhưng Khổng tử cực kỳ coi trọng lễ tiết để tang, tế bái. Trong quan niệm của Khổng tử, việc tế tự đã mang ý nghĩa khác, không đơn giản chỉ là tế tự vong linh, mà là đem lễ tiết tế tự xem thành một loại biểu hiện đạo hiếu của con người, thông qua lễ tế, có thể ký thác và bồi dưỡng lòng tận hiếu của một người đối với cha mẹ và tổ tiên. Do đó, chương này tiếp tục tăng thêm nội dung cho quan niệm đạo đức và hành vi đạo đức của “hiếu.”

Nho gia coi trọng giá trị đạo đức “hiếu,” do hiếu là cơ sở của “trung,” một người không thể tận hiếu với cha mẹ, anh ta sẽ không thể tận trung với nước. Do đó trung là sự tiếp nối, mở rộng ra bên ngoài (xã hội) của hiếu. Quan niệm về “trung,” “hiếu” thường được nhắc đến trong Luận ngữ, chứng minh Nho gia cực kỳ coi trọng quan niệm đạo đức luân lý trung hiếu các loại, hy vọng lấy các giá trị này để tạo thành quân tử có giáo dưỡng “trung hiếu lưỡng toàn.” Điều này phù hợp với chế độ tông pháp thời Xuân Thu. Chỉ cần đạt được trung và hiếu, xã hội và gia đình đều có thể đạt được yên ổn.

(i) Câu này cũng trong Luận ngữ

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mục]

Thận chung: chung, từ ngữ chỉ tang lễ. Người mất sẽ không quay lại, hơn nữa càng đi càng xa. Nếu như lễ tiễn người đi  mà không làm hết sức, sau có hối cũng không kịp, do đó cần làm cẩn thận.

Truy viễn: viễn, từ ngữ chỉ tế lễ. Người đã mất cách ta lâu rồi, vẫn có thể luôn nhớ đến không quên, mà sau đó làm lễ tế. Con người ở cùng với nhau, dễ sinh lòng tính toán so đo công danh lợi lộc, mà tình thâm ý trọng đáng ra phải có giữa người với người, cũng thường bị che khuất đi không dễ thấy. Nay đối với người đã mất, trước chỉ có  tình nghĩa, sau càng không nhận được báo đáp gì [mà vẫn nhớ đến và tế bái – YL], thì càng thấy độ sâu đậm của tình ý trong đó. Do đó làm lễ tang và lễ tế mà dùng tận bi ai và thành tâm, có thể khai mở, phát dương nhân tâm (人心 – lòng người/ trái tim của con người), khiến cho đạo đức của con người hàng ngày đều hướng về sự đôn hậu (thật thà trung hậu).

Nho gia không đề xướng tín ngưỡng tông giáo, cũng không chủ trương tồn tại linh hồn sau khi chết, nhưng vẫn cực kỳ coi trọng lễ tang tế bái, vì đây là một biểu hiện của thứ tình cảm  chân thực thuần khiết nhất trong việc sinh tử, chính là thứ mà Khổng tử gọi là 仁心 -“nhân tâm” và 仁道- “nhân đạo” (lòng nhân/đạo nhân)(i). Khổng môn thường lấy việc giáo dục con người ta đức “hiếu” để đạt được đến “nhân tâm” của nhân loại. Lễ tang tế bái, là biểu hiện cuối cùng của đạo hiếu. Đối với người mất có thể tận chân tình, từ chỗ người mất không đạt được lợi ích thực tế nào, từ chỗ người sống cũng không hy vọng báo đáp nào, việc này vượt ra ngoài phạm vi của tính toán công danh lợi lộc, do đó càng thấy tình ý chân thực. Biết rõ người đã mất rồi, mà không nhẫn tâm đối đãi chung chung, điều này tức là thứ mà Mạnh tử gọi là “bất nhẫn chi tâm.” Đối với người đã mất rồi mà còn không thể nhẫn tâm, thì đối với người vẫn sống có thể biết thế nào rồi. Cho nên một Nho giả có thể theo lý và trí mà nói rằng, mặc dù không khẳng định người sau khi mất đi có ma quỷ hay không, nhưng vẫn từ chỗ tình cảm sâu sắc nhất của  con người mà thiết lập việc giáo dục,  mà tuân theo việc thận chung truy viễn,  xác thực cũng là điều bắt buộc. Chương này của Tăng tử, là một phần của việc đề cao đạo nhân của Khổng môn vậy.

Câu này có thể diễn giải là,

Tăng tử nói: đối với lễ tang người mất có thể cẩn thận, đối với người mất đã lâu có thể không ngừng nhớ đến, như thế có thế làm cho phong tục đạo đức của xã hội hàng ngày đều hướng theo sự trung hậu thành thật. 

(i) Chú ý hai chữ “nhân” khác nhau. Chữ nhân trong 人心 -“nhân tâm” là chỉ con người. Chữ nhân trong 仁心 -“nhân tâm” – lòng nhân và 仁道 ” – nhân đạo” – đạo nhân, cũng là chữ nhân trong “nhân nghĩa lễ trí tín” mà chúng ta hay nói, là giá trị  đạo đức, khoan dung, thương yêu người khác, thiện lương, vân vân và vân vân. 

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Cách giải thích của người xưa với câu này, ta cũng có chút ý kiến. Giảng đến đạo hiếu, thời xưa giảng về đạo hiếu trong văn hóa của Trung Quốc,  nguyên là rất quan trọng, chúng ta thấy trong lịch sử tấu sớ gửi lên hoàng đế, thường có câu “thánh triều dĩ hiếu trị thiên hạ” – triều ta lấy hiếu trị thiên hạ (i). Giống như là cơ sở tinh thần của hiến pháp, thời xưa chúng ta không có danh từ “hiến pháp”, nhưng có tinh thần này  – tinh thần triết học của hiến pháp, lấy đạo hiếu làm cơ sở, làm trung tâm. Do đó các hoàng đế thời xưa, quyền khuynh thiên hạ (ii), một khi về nội cung, gặp mẫu hậu, hoàng đế cũng phải quỳ xuống, hoàng thái hậu đối với một vấn đề nào đó nói một câu không nên, hoàng đế liền không thể không thay đổi (nhưng ở nội cung, mẫu hậu tất không can dự triều chính). Dĩ nhiên, chúng ta trước giờ luôn lấy hiếu trị thiên hạ, nhưng gượng ép lôi vào để giải thích, cũng không đúng, người xưa đã giải thích “thận chung truy viễn” là đạo hiếu. Do đó ngày xưa ở đại lục, trên bài vị tổ tông đặt trong phòng thờ của người ta, luôn là 4 từ “thận chung truy viễn,” đây chính là do người xưa giải thích “thận chung truy viễn” là lời riêng dành cho đạo hiếu. Họ giải thích như sau: cẩn thận đối với người đã mất, là nói đối với người đã mất, tiền nhân đã mất, chúng ta phải hoài niệm họ (nhớ đến/ nghĩ đến). “Dân đức quy hậu hĩ,” được giải thích là, nếu như ai cũng có thể hiếu thuận với cha mẹ, hiếu với tổ tông, phong tục xã hội có thể trở nên nhân hậu.

Ở đây có vấn đề là,  ý tứ thì đúng, nhưng giải thích khiên cưỡng. Tại sao lại trích dẫn câu này của Tăng tử mà thực chất nói về học vấn? “Thận chung truy viễn” có ý nghĩa gì? “终-Chung” là kết quả, “远-viễn” là nguyên nhân rất xa, dùng một câu theo quan niệm hiện đại để nói là có thể giải thích ngay, “một người nếu hy vọng có một kết quả tốt, không bằng có một mở đầu tốt.” Muốn cẩn thận đối với kết quả, trước hết cần truy về nguyên nhân sâu xa, kết quả của mỗi việc, đều là do nguyên nhân sâu xa mà nên, ở đây chúng ta có thể trích dẫn một câu Phật học: Bồ tát úy nhân, phàm phu úy quả – Bồ tát sợ nhân, phàm phu sợ quả (iii). Bồ tát của Phật gia, đại loại như thánh nhân của Nho gia Trung Quốc, bậc thánh nhân cực kỳ coi trọng động cơ của một sự việc. Ví dụ có một người bạn đến rủ ta làm ăn, động cơ của anh ta, cũng tức là nguyên nhân ban đầu, chúng ta cần phải chú ý, có thể là nguyên nhân tốt, cũng có thể là nguyên nhân xấu, nếu như là nguyên nhân xấu, liền bảo ta làm giám đốc, tương lai nếu phải ngồi tù cũng là ta, nếu như vậy thì nguyên nhân này ta cần chú ý, do đó bồ tát chính là sợ “nhân” này. Còn “phàm phu” – người bình thường/phổ thông sợ “quả,” giống như người phạm tội tử hình đến khi chấp hình mới hối hận, hậu quả này đến rồi anh ta mới biết sợ. Cần chú ý người có học vấn, đối với mỗi sự việc, lúc có động cơ cần chuẩn bị tốt, cũng như vừa mới nói, muốn có kết quả tốt, không bằng có khởi đầu tốt, cũng có ý là lúc bắt đầu cần thận trọng.

Do đó ý nghĩa của “thận chung truy viễn,” là nói bất kỳ vấn đề gì nếu muốn kết quả tốt, cần có khởi đầu tốt, văn hóa phương Tây có một câu tục ngữ: khởi đầu tốt đã là thành công một nửa (iv), cũng chính là đạo lý này. Tất cả mọi người đều đều hiểu đạo lý này, liền “dân đức quy hậu hĩ.” Phong tục đạo đức xã hội, tự nhiên đều hướng về nhân hậu nghiêm cẩn (nghiêm túc, cẩn thận). Đây là đạo lý của học vấn.

(i) thánh – 圣 – shèng: là từ thánh trong thánh nhân, thần thánh, cũng là từ tôn xưng vua chúa hoàng đế.

(ii) Quyền khuynh thiên hạ – 权倾天下: quyền lực khuynh đảo thiên hạ – có thể làm nghiêng ngửa thiên hạ.

(iii) Bồ tát úy nhân, phàm phu úy quả -菩萨畏因,凡夫畏果 – Bồ tát sợ nhân, phàm phu sợ quả.

(iv) Ta thấy câu này: A good beginning makes a good ending; the beginning is the half of every action.

[Nhận xét của YL]

Dương Bá Tuấn/Tiền Mục giải nghĩa “đức” dày thành “trung hậu, thật thà.” Có vẻ như trong Nho giáo, rất coi trọng các giá trị này, lấy đây làm nền tảng cho việc tu tâm dưỡng tính, làm người tốt, nền tảng của đạo đức, của đức nhân. Các mối quan hệ bắc cầu, mạng lưới: hiếu- trung – trung hậu – thật thà- nhân đức- đạo đức, thật là phức tạp, làm người học loạn hết cả lên 🙂

Đoạn phân tích của Tiền Mục tiền bối, viết như lối văn cổ, thật khó hiểu, làm ta vò đầu bứt tai cả tuần, rất có tính gây trầm cảm.

Riêng cách giải thích của Nam Hoài Cẩn là khác với mọi người khác, cũng tức là khác so với số đông. Nếu đặt câu “thận chung truy viễn, dân đức quy hậu hĩ” riêng biệt, ta thấy cách giải nghĩa của Nam tiền bối có lý. Khi đọc cách giải thích của người khác, từ cẩn thận việc tang lễ mà suy ra tận đức hạnh của nhân dân sẽ đôn hậu hơn, quả có thấy con đường suy diễn hơi lắt léo (hoặc do đạo hiếu của ta không đủ, nên không thấy được sự tinh vi vi diệu trong đó). Tuy nhiên do vốn kiến thức ít ỏi, ta không dám khẳng định là cách giải nghĩa này có đúng với tinh thần của Tăng tử hay không, bởi vì để khẳng định, cần phải đọc rất nhiều sách vở thời xa xưa, để xem thời đó, người ta hay dùng từ “chung” với “viễn” theo nghĩa gì, cha mẹ mất – tổ tiên, hay là kết quả – nguyên nhân, hay có những câu nào tương tự hay không…

Tốt nhất vẫn là, “to each according to his needs” hả, hôm nay ta Marxist dễ sợ, 🙂

Si

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: