Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.4

子曰:“吾十有(1)五而志于学,三十而立(2),四十而不惑(3),五十而知天命(4),六十而耳顺(5),七十而从心所欲, 不逾矩(6)。”

Zǐ yuē: wú shí yǒu wǔ ér zhì yú xué, sānshí érlì, sìshí ér bù huò, wǔshí ér zhī tiān mìng, liùshí ér ěr shun, qīshí ér cóng xīn suǒ yù bù yú jǔ.

Tử viết: “Ngô thập hữu (1) ngũ nhi chí ư học, tam thập nhi lập (2), tứ thập nhi bất hoặc (3), ngũ thập nhi tri thiên mệnh (4), lục thập nhi nhĩ thuận (5), thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ (6).”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 有 – yǒu – hữu: giống又 – yòu – hựu, cộng thêm.
  2. 立 – lì – lập: ý là đứng vững.
  3. 不惑 – bù huò – bất hoặc: nắm chắc kiến thức, không bị sự vật ngoại cảnh gây mê hoặc.
  4. 天命 – tiān mìng – thiên mệnh: chỉ sự tình mà sức người không thể chi phối.
  5. 耳顺 – ěr shun – nhĩ thuận: có nhiều cách giải thích. Nhưng nói chung, chỉ việc đối với những ý kiến bất lợi cho bản thân cũng có thể đối đãi đúng/xác đáng.
  6. 从心所欲, 不逾矩 – cóng xīn suǒ yù bù yú jǔ – tòng tâm sở dục, bất du củ: tòng- thuận theo; du- vượt qua; củ- quy củ.

[Diễn dịch văn – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Ta mười lăm tuổi lập chí học tập; ba mươi tuổi có thể tự lập; bốn mươi tuổi có thể không bị sự vật ngoại cảnh mê hoặc; năm mươi tuổi hiểu được thiên mệnh; sáu mươi tuổi có thể đối đãi xác đáng với mọi loại ngôn luận, không cảm thấy có gì là không thuận [quy luật]; bảy mươi tuổi có thể tùy theo lòng mình mà không vượt qua quy củ.”

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Trong chương này, Khổng tử tự thuật lại quá trình học tập và tu dưỡng của bản thân. Quá trình này, là một quá trình cảnh giới tư tưởng dần dần nâng cao, theo sự tăng tiến của độ tuổi. Về cảnh giới tư tưởng, toàn bộ quá trình phân thành ba giai đoạn: mười lăm tuổi đến bốn mươi tuổi là giai đoạn học tập lĩnh hội; năm mươi, sáu mươi tuổi là giai đoạn an tâm lập mệnh, cũng là giai đoạn không chịu sự tác động của hoàn cảnh; bảy mươi tuổi là giai đoạn ý thức chủ quan và quy tắc làm người dung hợp làm một. Trong giai đoạn này, tu dưỡng đạo đức đạt đến cảnh giới cao nhất. Quá trình tu dưỡng đạo đức của Khổng tử, có nhân tố hợp lý: một là, ông đã thấy được tu dưỡng đạo đức không phải việc một sớm một chiều, không thể hoàn thành ngay, không thể có đột phá, cần phải trải qua quá trình rèn luyện học tập lâu dài, cần phải có một quá trình tuần tự tiệm tiến. Hai là, cảnh giới cao nhất của đạo đức là tư tưởng và ngôn hành dung hợp, tự giác tôn thủ quy phạm đạo đức, mà không phải là miễn cưỡng làm. Hai điểm này đối với bất kỳ người nào, đều có thể đem ra áp dụng được.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

志於学 – chí ư học: người có chí, tất cả mọi ý nguyện trong lòng, đều một lòng hướng đến mục tiêu này. Vốn có chí tất có học, chí và học tương sinh mà phát triển. Cái chí cái học của Khổng tử, thông qua đọc chương này có thể thấy được, càng thông qua đọc toàn bộ Luận ngữ mà có thể hiểu cặn kẽ. Có thể có chí như cái chí của Khổng tử, học như cái học của Khổng tử, là tôn chỉ lớn nhất của việc đọc Luận ngữ.

而立 – nhi lập: lập, nghĩa là thành lập (trưởng thành đến mức có thể tự lập). Có thể có khả năng tự lập một cách vững chãi, không suy giảm không chuyển đổi, tức là chí đã đạt được thành tựu, có được phẩm cách. Đây là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình học tập của Khổng tử.

不惑 – bất hoặc: con người và sự việc có dị đồng (điểm khác nhau/tương đồng), có  nghịch thuận, dù cho có chí, có khả năng tự lập, nếu với ngoại cảnh có sự đối nghịch, thì lòng dễ nảy sinh hoài nghi mê hoặc. Nếu có thể đối với mọi loại ngôn luận, sự việc biến hóa thuộc ngoại cảnh, hiểu đến chỗ thâm sâu, chỗ tận cùng, với mọi thứ liên quan đều thông suốt, mà không có gì phải hoài nghi, thì không những có khả năng tự lập giữ phẩm cách, còn có thể biết chỗ sáng mà ở vào chỗ an, là giai đoạn thứ hai trong tiến trình học tập của Khổng tử.

知天命 – tri thiên mệnh: tuy đối với đạo lý của mọi sự đều không còn nghi hoặc, nhưng việc thực hành chí hướng vẫn có chỗ gian khổ. Chí càng tiến, việc làm càng tiến, càng gặp phải việc gian khổ gây nghi hoặc. Cho nên đã có thể tự lập không còn gì nghi hoặc, càng ngày càng phải tri thiên mệnh (hiểu mệnh trời). Thiên mệnh chỉ các loại đạo nghĩa và chức trách đương nhiên của nhân sinh. Đạo nghĩa chức trách có vẻ không khó biết, song vẫn có việc dù “thủ đạo tận chức” (giữ đạo, tận lực với chức phận) mà vẫn gặp phải cảnh khốn cùng, không thuận lợi. Việc đương nhiên mà lại vẫn không thể thuận lợi thông suốt, có thể không được thuận lợi mà vẫn là đương nhiên, nghĩa lý này rất khó để hiểu. Để đạt đến cảnh giới này, cần phải học “tri thiên mệnh.” Khổng tử nói: “trời sinh ta có đức tính thiện, Hoàn Đồi có thể làm gì ta?” (i), lại nói “Văn Vương đã mất,  lễ nhạc văn hóa không phải đều ở tại chỗ của ta sao? Trời nếu như muốn tiêu diệt văn hóa này, người sau (ta) đã không thể có được văn hóa này. Trời nếu như không tiêu diệt văn hóa này, người Khuông có thể làm gì ta?” (ii). Khổng tử theo đuổi việc học, đạt đến cùng cực của “bất hoặc,” lòng tự tin cực chân thực cực vững chắc, dường như đã lên đến cảnh giới người không thể hiểu, duy trời có thể hiểu. Như thế đạo và thiên đã hợp làm một, do đâu đến cuối cùng không thể thực hành, đến đây buộc phải tiến đến cảnh giới tri thiên mệnh. Cho nên tri thiên mệnh, là tiến thêm một bước so với “bất hoặc,” là cảnh giới cao hơn, là giai đoạn thứ ba trong tiến trình học tập của Khổng tử.

Khổng tử không phải là người đứng đầu một tôn giáo, nhưng Khổng tử lại có một tín ngưỡng cao vô thượng, loại tín ngưỡng này, như đã cao hơn của các giáo chủ tôn giáo trên thế giới. Khổng tử do học mà sinh tín (niềm tin/lòng tin), chứ không phải là có tín trước mới học sau. Cho nên Khổng tử dạy mọi người, cũng là lấy việc học làm trọng. Tử cống nói: “Phu tử [giảng] về các loại học vấn văn hiến, chúng ta nghe có thể hiểu được; phu tử [giảng] về các loại thiên tính thiên đạo, chúng ta nghe không hiểu” (iii). Đại khái là Khổng tử dựa vào sở học mà dạy người, không dựa vào tín mà dạy người. Khổng tử có ý, dường như không học đến cảnh giới này, tất không dễ có niềm tin này, do đó không lấy tín để dạy. Đây là điểm khác biệt giữa Khổng tử với các vị đứng đầu tôn giáo khác. Cho nên học cái học của Khổng tử, không nên cẩu thả nói tri thiên mệnh, nhưng đồng thời nên biết trong lòng của Khổng tử thực chất có cảnh giới này. Khổng tử đã chỉ ra cảnh giới này, thứ gọi là “Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hàng hành chỉ, tuy bất năng chí, tâm hướng vãn chi”- [đức hạnh như] núi cao khiến [người] ngưỡng vọng, hành vi [chính đại quang minh] như con đường rộng, tuy không thể đạt đến trình độ này, nhưng lòng luôn hướng về đó (iv). Người học cũng nên đặt cảnh giới này trong tâm, mà mỗi ngày đều hướng về.

耳顺 – nhĩ thuận: đối với tất cả các loại ý kiến hoặc ngôn luận khác biệt, tất cả các loại phản ứng hoặc kích động trái nghịch bất thuận ở bên ngoài, khi đã đạt tới khả năng tự lập bất hoặc, lại tri thiên mệnh, có thể lấy đó để xử lý, không vì những thứ bên ngoài mà bị dao động mê hoặc, là càng tiến thêm một bước mà đạt đến cảnh giới “nhĩ thuận.” Người nhĩ thuận, tất cả đều nghe vào tai, không còn cảm thấy cái gì là có chỗ không thuận với bản thân, không thuận với đạo. Trong khi biết ngoại cảnh tất cả đều đối lập khác biệt nhau, trái nghịch bất thuận, tuy nhiên không cái gì là không có lý do của nó. Có thể hiểu được tất cả những lý do này, tất không chỉ hiểu bản thân, lại còn hiểu được người. Không chỉ hiểu một việc từ đâu là phải, mà còn hiểu từ đâu là không phải. Bên phản bên chính, bên nó bên ta, tất cả là theo ý trời. Lại không ở bất kỳ chỗ nào mà không thấy có thiên mệnh, do đó nói nhĩ thuận, là giai đoạn thứ tư của tiến trình học tập của Khổng tử.

Sự vật khi đi vào trong tâm của ta, chỗ trọng yếu nhất, là ở tại tai và mắt. Chương này đặc biệt nêu nhĩ thuận, thực chất là nêu cái này có thể bao gồm cả cái kia. Thêm vào đó mắt nhìn do ta hướng ra bên ngoài, tai nghe do bên ngoài rót vào ta, nói về mức độ tự chủ, hơi có sự khác biệt. Nhìn bằng mắt hướng đến hình dáng vật thể, nghe qua tai thâm nhập vào tâm ý. Mắt chỉ nhìn thấy ở gần mà tai nghe được ở xa, tức là lời nói hành động của cổ nhân, cũng có thể đi vào tai như vậy. Do đó nói về tai có thể bao quát cả mắt. Học đến mức tri thiên mệnh, tất xa gần chính phản, cổ kim thuận nghịch, những gì gặp được đều là đạo, đều ở trong thiên mệnh. (Nhờ đó) sẽ càng trung (dốc lòng) đến mức tận mọi sức lực, sẽ càng thứ (đặt mình vào vị trí của người khác mà suy nghĩ) mà đối đãi vật. Đối với những gì bản thân coi trọng xem xét để biết đâu là chỗ [ta cho là] đương nhiên; đối với việc người khác coi trọng xem xét để hiểu lý do tại sao. Hiểu rõ lý do tại sao tất nhĩ thuận, với mọi thứ đều không cảm thấy có gì trái nghịch,  từ đó mà có thể thi hành giáo hóa, có thể vi chính, có thể dựa vào “lập kỷ” mà “lập nhân,” “đạt kỷ” mà “đạt nhân” (bản thân có thể tự lập, đứng vững mà giúp người người tự lập; bản thân đã thông hiểu mà giúp người người khác thông hiểu – nd). Như thế chỗ cùng cực của thiên mệnh, chẳng phải luôn là việc hành đạo (đi theo con đường) này sao? Cội nguồn đạo của cổ nhân, cốt yếu ở chỗ có khả năng “phản cầu chư kỉ” –   trách bản thân chứ không phải trách người khác (v). Chỗ cùng cực của trung thứ (vi), tức là chỗ cùng cực của minh thành (明诚 – minh triết, chân thành), trời và người cùng một lẽ mà thông suốt, mà việc phát dương đạo xuất phát bản thân.

从心所欲不踰矩 – tòng tâm sở dục bất du củ: tòng, nghĩa là tuân theo, thuận theo. Hoặc có thuyết: chữ tòng đọc giống như túng (纵), nghĩa là “phóng nhiệm” (放任) – không có ước thúc, để mọi việc diễn ra tự nhiên, không can thiệp.  Củ- thước kẻ góc vuông. Quy-viên quy – thước để vẽ đường tròn. Quy củ vô cùng vuông, tròn, dùng để nói về luật lệ chuẩn tắc của các loại ngôn hành. Ở đây nói đến củ mà không nói đến quy, càng thấy lời nói cẩn trọng. Thánh nhân đến cảnh giới này, đều mặc theo lòng mình, có thể phóng tâm đến mức cùng cực, không kiểm điểm quản thúc (đạo đức ngôn hành của bản thân), mà bản thân lại không có gì là không theo quy củ luật lệ. Do đó nội tâm của thánh nhân vô cùng tự do, cùng với các loại luật lệ quy củ đương nhiên ở bên ngoài tự nhiên tương hợp. Học vấn đạt đến cảnh giới này, tâm cũng chính là đạo nghĩa, nội ngoại hợp nhất. Mọi việc làm của bản thân, không gì là không phải các khuôn phép cao nhất của thiên mệnh. Trời không dụng tâm đối với bất kỳ cái gì (vii) mà không có gì là không phải, trời không chịu bất kỳ ước thúc nào nhưng là chuẩn tắc cho tất cả mọi thứ. Sự học của thánh nhân, đến cảnh giới này, nhân cách  cao thượng vĩ đại sánh với trời, mà việc học cũng không thể tiến thêm nữa. Chương này của Khổng tử, chỉ là tự nói về quá trình đạt được trong học vấn của bản thân, chưa từng tự sánh với trời. Song đệ tử của Khổng tử đã ví nhân cách của Khổng tử sánh với trời mà (người khác) không thể bắc thang lên được vậy. Như ở trên đã cho thấy rõ, cũng không thấy có gì là quá cả.

Chương này là Khổng tử tự thuật về những thứ bản thân đạt được trong một đời học tập, các bậc thang tiến bộ qua các năm như thế nào. Người học kiên trì noi theo nỗ lực này, ngày qua ngày đều tiến bộ (viii), hy vọng xuất sắc mà tiến vào lãnh địa của thánh nhân.  Nhưng người học cố gắng theo khả năng của mình, cũng thường ở ba cấp bậc là “chí học,” “lập” hay “bất hoặc.” Còn từ tri thiên mệnh trở lên, nếu không nỗ lực hết sức, không nên hy vọng có thành tích hy hữu. Biết có cảnh giới này, mà vẫn canh cánh trong lòng cho rằng có thể đạt được, nếu tùy tiện đem bản thân đi bắt chước, chỉ là vọng tưởng tu dưỡng được đến cảnh giới tối cao, nhưng lại trở thành ngụy quân tử, thành tiểu nhân không biết sợ cái gì, mà không tự biết mình vậy. Người học thử nghiền ngẫm chương đầuchương cuối của thiên Học nhi, dần dần tự cố gắng, hy vọng dần có thể nhìn ra chỗ thâm thúy của chương này. Vì hai chương đầu và cuối của thiên Học nhi, từ chỗ dễ hiểu nhất chân thực nhất mà chỉ cho người ta (con đường) lĩnh hội, người học có thể từ đây mà noi theo. Chương này tuy là Khổng tử tự nói về bản thân, không có lời nào là không chân thực, ở bên trong lại có rất nhiều chỗ thâm sâu ảo diệu. Không dựa trên cái gì mà vọng cầu đột nhiên đạt được, thì biến thành nói hão không đáng tin, không phải là chủ ý lúc bình thường dạy học sinh của Khổng tử.

Khổng tử lại nói: “bất oán thiên, bất vưu nhân, hạ học nhi thượng đạt, tri ngã giả kì thiên hồ” – không oán trời, không trách người, dưới học mà trên suốt mọi sự lý/thiên mệnh, hiểu được ta chỉ có trời chăng? (ix), ý nghĩa của câu cùng với chương này tương thông. Từ chí học, nhi lập, nhi bất hoặc, đều là “hạ học.” Sau đó trở lên, là thượng đạt vậy. Tri thiên mệnh nên không oán thiên, nhĩ thuận nên không trách người. Tấm lòng này đạt đến cái đức của trời, nên có thể tòng tâm sở dục bất du củ, mà hiểu ta chỉ có trời. Tri mệnh nhĩ thuận, vốn không phải là thứ dễ dàng đạt được của người học, nhưng không oán không trách, chính là nỗ lực nên có của người học. Hành viễn tự nhĩ, đăng cao tự ti – đi đường xa bắt đầu từ bước gần nhất, leo núi cao bắt đầu từ chỗ thấp nhất (x), thiên lý chi hành, khởi ư túc hạ – đường xa ngàn dặm, bắt đầu từ từ việc đi bước đầu tiên (xi), người học theo khả năng có thể làm mà nỗ lực làm, cũng không phải lo lắng nghĩ đến chỗ khó khăn của việc học đến cấp bậc của thánh nhân.

Tiên sinh nói: Ta lúc mười lăm tuổi, bắt đầu có chí học tập. Đến ba mươi tuổi, có thể kiên định tự lập. Đến bốn mươi, ta đối với mọi loại đạo lý, có thể thông đạt không còn nghi hoặc. Đến năm mươi, ta có thể biết cái gì là thiên mệnh. Đến sáu mươi, tất cả những gì ta nghe được, đều có thể thông hiểu minh bạch hoàn toàn, không còn cảm thấy trong lòng có gì là trái ngược. Đến bảy mươi, ta chỉ mặc cho lòng tự nhiên không còn gì ước thúc, mà cũng sẽ không có chỗ nào là vượt qua quy củ pháp độ.

(i) “天生德於予,桓魋其如予何?”- thiên sinh đức ư dư, Hoàn Đồi kì như dư hà? – trời sinh ta có đức tính thiện, Hoàn Đồi có thể làm gì ta? (Hoàn Đồi là tư mã nước Tống, từng muốn giết hại Khổng tử). Đây cũng là câu trong Luận ngữ.

(ii) 文王既没,文不在兹乎?天之将丧斯文也,后死者不得与於斯文也。天之未丧斯文也,匡人其如予何?”- “Văn Vương kí một, văn bất tại tư hồ? Thiên chi tương táng tư văn dã, hậu tử giả bất đắc dữ ư tư văn dã. Thiên chi vị táng tư văn dã, Khuông nhân kì như dữ hà?” – Vua Văn Vương đã mất,  lễ nhạc văn hóa không phải đều ở tại chỗ của ta sao? Trời nếu như muốn tiêu diệt văn hóa này, người sau đã không thể có được văn hóa này. Trời nếu như không tiêu diệt văn hóa này, người Khuông có thể làm gì ta? Đây cũng là một câu trong Luận ngữ.

(iii) 子贡曰:“夫子之文章,可得而闻也。夫子之言性与天道,不可得而闻也。”- Tử cống viết: “Phu tử chi văn chương, khả đắc nhi văn dã. Phu tử chi ngôn tính dữ thiên đạo, bất khả đắc nhi văn dã.”

(iv) “高山仰止,景行行止,虽不能至,心向往之”- “Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hàng hành chỉ, tuy bất năng chí, tâm hướng vãn chi” – cao sơn: núi cao; cảnh hàng: con đường lớn (đại lộ); chữ “chỉ” là trợ từ cuối câu để nhấn mạnh; đức hạnh như núi cao khiến mọi người ngưỡng vọng, hành vi quang minh chính đại như con đường lớn, tuy không thể đạt đến trình độ này, nhưng tâm luôn hướng về điều đó. Haiz, thật lằng nhằng. Đầu tiên, 2 câu đầu là từ một bài trong Kinh Thi, Tiểu Nhã. Sau đại ca Tư Mã Thiên khi viết Sử ký, Khổng tử thế gia đã mượn hai câu này mà viết ra 4 câu trên.

(v) Phản cầu chư kỉ – 反求诸己 fǎn qiú zhūjǐ: Câu trong Lễ ký, nhìn nhận lỗi của bản thân, từ đó sửa cho đúng, chứ không trách người khác. Tiếng Anh: to seek the cause in oneself rather than sb else.

(vi) Nguyên văn là chữ này: 忠恕 – trung có nghĩa là tận tâm kiệt lực, dốc lòng, hết lòng; thứ là dùng tâm ý của mình mà suy ra tâm ý của người khác, đặt mình vào vị trí của người khác mà suy nghĩ.

(vii) Nguyên văn: 无所用心 – wú suǒ yòng xīn – vô sở dụng tâm.

(viii) Nguyên văn: 日就月将 – rì jiù yuè jiāng – nhật tựu nguyệt tương: câu xuất xứ từ Kinh Thi, mỗi ngày đều tiến đến gần hơn một tý, hình dung tinh tiến không ngừng.

(ix) Nguyên văn: 不怨天,不尤人,下学而上达,知我者其天乎 – bất oán thiên, bất vưu nhân, hạ học nhi thượng đạt, tri ngã giả kì thiên hồ – không oán trời, không trách người, dưới học mà trên suốt mọi sự lý/thiên mệnh, hiểu được ta chỉ có trời chăng?. Đây cũng là một câu trong Luận ngữ.

(x) Nguyên văn: 行远自迩,登高自卑 – xíng yuǎn zì ěr, dēng gāo zì bēi – Hành viễn tự nhĩ, đăng cao tự ti. Đi đường xa bắt đầu từ bước gần nhất, leo núi cao bắt đầu từ chỗ thấp nhất. Ví dụ với việc để đạt được mục tiêu cao xa, cần phải bắt đầu từ bước gần nhất. Câu trong Trung dung.

(xi) Nguyên văn: 千里之行,起于足下 – Qiān lĭ zhī xíng, shĭ yú zú xià – thiên lý chi hành, khởi ư túc hạ. Đi xa ngàn dặm, bắt đầu bằng việc hạ chân xuống. Câu của Lão tử.

[Luận ngữ biệt tài – Nam hoài Cẩn]

Đây là Khổng tử tự bạch, tại sao Khổng tử đang nói đến vi chính, lại phải tự bạch như vậy? Khổng tử 72 tuổi mất. Ông dùng mấy câu đơn giản, nói về trải nghiệm một đời của bản thân, tinh thần gian khó phấn đấu. Thân thế của ông rất đáng thương, lúc phụ thân qua đời, ông hãy còn một người anh bán tàn phế và một người chị, đối với gia đình, ông phải gánh trách nhiệm này, tránh nhiệm của ông rất nặng. Ông nói lúc 15 tuổi, lập chí học tập, qua 15 năm, dựa theo kinh nghiệm phong phú của ông, cũng như tôi luyện của cuộc đời, đến 30 tuổi mới “lập.” “Lập” chính là “bất động,” đạo lý làm người, hành xử, xử thế đã bất biến không thay đổi, đã xác định rồi, trong cuộc đời này không đi theo con đường này không được. Nhưng đến lúc này hãy còn hoài nghi, hãy còn hiện tượng dao động, “tứ thập nhi bất hoặc,” đến 40 tuổi, mới không hoài nghi, nhưng đây là lời nói đối với học vấn nhân sinh thuộc phạm trù hình nhi hạ. Vẫn cần thêm 10 năm nữa, đến 50 tuổi, mới “ngũ thập nhi tri thiên mệnh.” Thiên mệnh là lai nguyên của vũ trụ, đây là phạm vi bản thể tư tưởng hình nhi thượng.

Đến “lục thập nhi nhĩ thuận,” ở đây lại có vấn đề, Khổng tử trước 60 tai có vấn đề gì không thuận, khoang tai phát nóng? Câu này rất khó giải thích, có khả năng là thời đó khắc thiếu chữ. Có khả năng là sau “lục thập nhi” có một nửa câu nữa. Nếu theo giảng giải của ngày xưa, đạo lý của “nhĩ thuận” là nói, từ 15 tuổi bắt đầu tu dưỡng học vấn, làm người xử thế, đến 60 tuổi, lời tốt lời xấu bất kể người khác nói gì, bản thân đều nghe được mà tuyệt không động tâm, không tức giận, người khác mắng chửi, cũng nghe được, trong tâm bình tĩnh. Chú ý! Tâm lý bình tĩnh  không phải là tử khí tối sầm, mà là rất hoạt bát có sinh khí, rất hiểu thị phi thiện ác, đối với người tốt cảm thấy đáng yêu đáng quý, đối với người xấu, cảm thấy cần giúp đỡ sửa thành người tốt, để có loại bình tĩnh này, loại học vấn này rất khó vậy. Sau đó lại thêm 10 năm nữa, mới “tòng tâm sở dục.” Văn hóa của Tây phương là tự do, nhưng phía sau còn một lời rất quan trọng nữa, “bất du củ.” Chúng ta ra đường mà xem, bánh bao nhà kia làm rất ngon, liền cầm ăn, “tòng tâm sở dục.” Như thế có được không? Cần “bất du củ.” Giữa người với người cần có 1 giới hạn. “Tòng tâm sở dục” – tự do nhưng không thể vượt qua giới hạn này, do đó “bất du củ,” đồng thời câu này cũng đạt tới đạo lý hình nhi thượng.

Nói đến đây, chúng ta cần nghiên cứu Khổng tử tại sao lại đem kinh nghiệm làm người, hành xử, học tập mấy chục năm đặt vào trong thiên “Vi chính.” Kinh nghiệm này vô cùng quan trọng, nguyên lai Vi chính chính là kinh nghiệm cuộc đời cần có.

Trên thế giới có hai thứ không có cách nào thực nghiệm được, chính là chính trị và quân sự. hai thứ này, bao la vạn tượng, biến động không ngừng. Nhìn từ lịch sử, chính trị của cổ kim đông tây, chuyên chế, quân chủ, dân chủ, tập thể, rốt cuộc như thế nào là tốt? Ai dám đưa ra kết luận? Đặc biệt là Trung Quốc hiện đại, vài chục năm gần đây, các loại văn hóa tư tưởng Tây phương, đều đến qua vũ đài Trung Quốc, nhưng tư tưởng Tây phương là từ văn hóa Tây phương, kết quả như thế nào? Do đó người vi chính cần hiểu nhân sinh, cần có kinh nghiệm, cần biết cách thấu hiểu. Do đó Khổng tử nói về kinh nghiệm của bản thân, tập hợp thành thiên Vi chính này, chính là nhắn nhủ những người liên quan đến chính trị, từ tu dưỡng của bản thân cho đến các gian nan của việc làm người, làm việc, đều không hề đơn giản, cần theo gương tinh thần này của ông, trong công việc cần hiểu rõ việc, mới đem đoạn này đưa vào thiên Vi chính.

Từ các đoạn ở trên, chúng ta đi đến một kết luận: bất kể là vi chính hay làm việc gì, cần dựa vào tích lũy kinh nghiệm cuộc sống. Nhưng tích lũy kinh nghiệm cuộc sống thành cái gì? Đơn giản 4 chữ: “nhân tình thế cố” (i).

Nói đến nhân tình thế cố, người Trung Quốc hiện tại đem danh từ này dùng ngược lại, đây là việc rất không hay. Ví dụ nói “tên này quá thế cố,” là đang mắng người. Đặc biệt khi người ngoại quốc phê bình người Trung Quốc, mấy năm trước trong Trung ương Nhật báo tôi đã thấy bài viết kiểu này, nói người Trung Quốc cái gì cũng tốt, nhưng quá trọng nhân tình. Phản ứng của thanh niên nói chung đều như nhau, cho rằng người ngoại quốc này viết văn phi thường thấu triệt, tôi nói các bạn không cần cho rằng người ngoại quốc ở Trung Quốc học hai ba năm, có thể hiểu văn hóa Trung Quốc, vậy thì các bạn đang làm cái gì? Vài chục năm ăn cơm đều là ăn không. Văn hóa Trung Quốc luôn nói về nhân tình, thứ gọi là “nhân tình,” không phải là đến dịp lễ tết, đem một cây thịt muối, đầu đường biếu đến cuối ngõ, nhà trái biếu đến nhà phải, ở ngoài biếu đi biếu lại truyền tay đến cả tháng, không chừng lại vật quy nguyên chủ. Đây chỉ là tượng trưng của tình lễ, “nhân tình” mà văn hóa Trung Quốc nói đến là chỉ “tính tình” (tư tưởng, cảm tình) giữa người với người. Nhân tình hai chữ này, bây giờ giải thích ra, bao gồm cả xã hội học, chính trị học, tâm lý học, khoa học hành vi các loại, cũng là cảm tình dung hợp của con người với nhau.

“Thế cố” chính là thấu triệt hiểu rõ sự vật, hiểu được quá khứ, hiện tại, tương lai. “Cố” là sự tình, “thế cố” là các loại sự tình trên thế giới, cần phải hiểu về người, hiểu về sự tình, mới gọi là đạt được “nhân tình thế cố.” Nhưng hiện tại sau khi dùng theo nghĩa ngược lại, những thứ gì mà tên này quá “thế cố,” trở thành tên khác của giảo hoạt, không thành thật; “Nhân tình” biến thành từ dùng để chỉ vỗ mông ngựa (nịnh nọt). Như thế này đã làm hoàn toàn làm sai đi văn hóa Trung Quốc, đặc biệt người ngoại quốc viết càng không đúng.

Vi chính lấy “đức” làm gốc, lại dùng học để bồi dưỡng giáo dục tinh thần đôn hậu ôn nhã của “thi,” đây không phải là đã chuẩn bị đầy đủ điều kiện cho vi chính sao? Không phải. Mà là giống như một người quân nhân, các loại lý luận tư tưởng quân sự cổ kim đông tây đều học kỹ càng, nhưng đến súng bắn thế nào cũng không biết, binh nhất binh nhì là thế nào cũng không hiểu, loại người này cùng lắm chỉ có thể làm tham mưu, tuyệt đối không thể dẫn binh ra chiến trường được. Do đó phong thái hành văn của “Luận ngữ,” nhẹ nhàng chuyển, đem lời tự bạch giản lược của Khổng tử cho vào đây. Cũng là nói với chúng ta, đạo lý của vi chính chính là cần thấu hiểu một cách chân chính về nhân tình thế cố.

Tôi từng nói qua, các loại tư tưởng chính trị trên thế giới tổng kết lại, bất kể là của Trung Quốc hay thế giới, điểm trọng yếu nhất, ở bốn chữ “an cư lạc nghiệp.” Bất kỳ tư tưởng, lý luận chính trị nào, đều chưa vượt qua phạm vi của bốn chữ này; đều không có ngoại lệ mà hướng đến làm sao để khiến con người có thể an cư, có thể lạc nghiệp. Đồng thời chúng ta ở nông thôn đến đâu cũng có thể thấy câu “phong điều vũ thuận, quốc thái dân an.” Tám chữ này, theo cách nhìn của người ngày nay, thấy vô cùng cổ. Nhưng trong lịch sử cổ kim đông tây, nếu thật sự có thể đạt đến cảnh giới 8 chữ này, đối với bất kỳ quốc gia nào, dân tộc nào, thời đại nào mà nói, vô luận là lý tưởng chính trị gì thì cũng là cũng đạt được rồi. Mà mấy câu cổ này, chính là đã thấu triệt tư tưởng triết học chính trị do nhân tình thế cố sinh ra.

(i) Nhân tình thế cố -人情世故 – rén qíng shì gù (lại là 1 câu của Văn thiên Tường; cố có nghĩa là việc; đây là chỉ kinh nghiệm, đạo lý, phương pháp xử thế làm người).

[Lời bàn của YL]

Hihi, đúng là “thiên mệnh” là danh từ con người đặt cho những thứ mình không đạt được, nhưng giới hạn của thiên mệnh là gì, không ai nói được. Vì thế để tri thiên mệnh, chắc là việc không tưởng.

Đùa vậy thôi, theo cách hiểu cụ Tiền Mưu, có vẻ cái gì cũng là thiên mệnh. Thiên mệnh ở khắp mọi nơi (hơi giống với khái niệm Đạo trong Đạo học). Thiên mệnh là giới hạn, là đạo, là đạo nghĩa. Như thế càng trừu tượng nữa, khác gì bảo cái gì cũng biện chứng :-P.

Các nhà Nho, có vẻ cũng tránh bàn sâu về thiên mệnh (hoặc là vì bàn không ra được, mà ai cũng không muốn tỏ ra nói nhiều, cái văn hóa đề cao chữ “ngộ” nó khổ thế :-P).

Cụ Tiền Mưu đúng là đặt Luận ngữ lên bàn thờ mà thờ, chết chết, lại cho là Khổng tử/Nho giáo cao hơn các loại tôn giáo khác.

Nho học thiên về dạy đạo đức, luân lý, nhưng lại bỏ qua các vấn đề triết học cơ bản, ví dụ như bàn cãi cho ra nhẽ thiên mệnh là gì và vị trí của thiên mệnh trong mối quan hệ với các khái niệm khác. Mà tác động của việc thiếu đào sâu phân tích, thiếu tranh luận “cho ra nhẽ,” dẫn đến cái gì cũng mơ mơ hồ hồ (hay còn gọi là trừu tượng??? cao siêu???), thiếu lập luận chặt chẽ. Ngay như cụ Tiền Mưu mỗi chỗ cũng quan niệm thiên mệnh một khác, tổng hợp lại cứ thấy tù mù, ý tứ đá nhau chan chát….

 

Advertisements

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.2

 Thiên 1. Học nhi. Chương 1.2

1.2. 有子曰:“其为人也孝弟,而好犯上者,鲜矣;不好犯上而好作乱者,未之有也。君子务本,本立而道生。孝弟也者,其为仁之本与!”

Yǒu zǐ yuē: qí wéi rén yě xiào tì, ér hào fàn shàng zhě, xiǎn yǐ;  bù hào fàn shàng, ér hào zuò luàn zhě, wèi zhī yǒu yě。 Jūn zǐ wù běn, běn lì ér dào shēng。 Xiào tì yě zhě, qí wéi rén zhī běn yú。

Hữu tử (1) viết: kì (2) vi nhân dã hiếu đễ (3), nhi hảo phạm thượng giả (4), tiển (5) hĩ; bất hảo phạm thượng, nhi hảo tác loạn giả, vị chi hữu dã (6). Quân tử vụ bản (7), bản lập nhi đạo sinh (8). Hiếu đễ dã giả, kì vi nhân chi bản dư (9)!

(1) 有子 – Yǒu zǐ- Hữu tử: tức Hữu Nhược, học trò của Khổng tử, kém Khổng tử 13 tuổi. Có thuyết nói kém 33 tuổi, có vẻ đáng tin hơn. Trong sách Luận ngữ đều gọi học sinh của Khổng tử theo tên tự, chỉ có Tăng Sâm và Hữu Nhược xưng là “tử.” Do đó, nhiều người cho rằng Luận ngữ chính là do Tăng Sâm và Hữu Nhược tổng hợp.

(2) 其- qí – kỳ: từ này khó ghê lắm, ý nghĩa vô cùng “linh hoạt,” thấy đặt trong các câu khác nhau, và ở các vị trí khác nhau, lại mang ý nghĩa khác nhau. Để cho đơn giản dễ hiểu, thì tiếng Anh là his, her, its, theirs, that, such, it (refers to something preceding it).

(3) 孝弟 – xiào tì – hiếu đễ: Hiếu là cách đúng đắn, thích đáng của con cái cư xử với bố mẹ; đễ (弟đồng âm đồng nghĩa với悌, hay có thể nói là cách viết khác nhau, nhưng nghĩa như nhau) là thái độ đúng mực, thích đáng của em trai với bậc huynh trưởng. Hiếu, đễ là hai quy chuẩn đạo đức căn bản được Khổng tử và Nho gia đặc biệt đề cao. Chú thích xưa viết: 善事父母曰孝,善事兄长曰弟 – Thiện sự phụ mẫu viết hiếu, thiện sự huynh trưởng viết đễ- làm việc tốt đối với bố mẹ gọi là hiếu, làm việc tốt đối với huynh trưởng gọi là đễ.

(4) 犯上- fàn shàng- phạm thượng: Mạo phạm người ở vị trí cao hơn.

(5) 鲜- xiǎn – tiển: ít, thiếu, hiếm. Trong Luận ngữ, chữ鲜 đều mang ý nghĩa này. Chữ矣 tiếp theo dùng như từ 了 (le) hiện đại.

(6) 未之有也 : câu này theo quy tắc ngữ pháp Hán ngữ thời cổ đại. Trong câu phủ định, nếu tân ngữ (object) là đại từ (pronoun) thì phải đặt lên trước động từ. Chữ 之 (tiếng Anh là him, her, it, thế cho dễ hiểu nhé) chính là đại từ làm tân ngữ (object). Nên thực chất câu này là未有之也 – không có người như thế.

(7) 务本- wù běn – vụ bản: vụ là chuyên tâm, tận lực; bản là căn bản.

(8) 道 – dào – đạo: trong tư tưởng cổ đại Trung Quốc, đạo có rất nhiều hàm nghĩa. Đạo trong câu này, là chỉ仁 “nhân” đạo mà Khổng tử đề cao. Nhân là cốt lõi của toàn bộ hệ thống tư tưởng đạo đức, cũng như của biểu hiện đời sống hàng ngày. Nói một cách đơn giản, nhân là nguyên tắc căn bản của cả việc trị quốc lẫn việc làm người.

(9) 为仁之本 – wéi rén zhī běn – vi nhân chi bản: nhân là phạm trù cao nhất của tư tưởng triết học của Khổng tử, cũng là một chuẩn tắc đạo đức luân lý. Câu này vi nhân chi bản, ở đây có nghĩa là lấy hiếu đễ làm căn bản của đức nhân. Còn có một loại giải thích khác, cho rằng chữ 仁 (nhân) của cổ đại chính là 人 (nhân – người), cho nên “làm căn bản của đức nhân” cũng là “làm căn bản của việc làm người.”

[Giải nghĩa]

Hữu tử nói: hiếu thuận với bố mẹ, thuận phục  theo huynh trưởng, nhưng thích mạo phạm người trên (i), kiểu người như thế rất hiếm thấy. Không thích mạo phạm người trên, nhưng thích tạo phản, kiểu người như thế là không có. Quân tử chuyên tâm tận lực vào việc căn bản, căn bản một khi đã kiến lập được rồi, đạo sẽ theo đó mà sinh ra/xuất hiện (ii). Hiếu thuận với bố mẹ, thuận theo huynh trưởng, đây chính là căn bản của nhân vậy!

(i) Học giả Trung Quốc như Dương Bá Tuấn giải thích câu này là: nhưng thích phạm đến “thượng tầng thống trị giả” – người ở thượng tầng thống trị. Giải thích này đúng. Tuy nhiên, từ khi mặt trời chân lý chói rọi đến tư tưởng triết học, đạo đức luân lý phương Đông, mới có cụm từ gọi là “thượng tầng thống trị”? Và cụm từ này mang ý nghĩa tiêu cực?? Xét đến người xưa chưa chắc nói đến “thượng tầng thống trị” với hàm ý tiêu cực, nên ở đây ta đề chung chung là người trên, nhưng có thể hiểu chính là những người cai trị dân chúng (YL).

(ii) Dương Bá Tuấn giải nghĩa là: căn bản một khi đã kiến lập được rồi, nguyên tắc trị quốc làm người (trị quốc tác nhân) cũng sẽ có. Còn tại sao từ đạo lại suy ra “trị quốc làm người”, là theo chú giải số (8) của chính học giả này ở trên. Ta xét thấy, đạo, như ghi chú, có nhiều hàm nghĩa. Tốt nhất là để nguyên, để mỗi người tự cảm nhận. Chú giải của tiền bối, cũng chỉ là 1 cách luận mà thôi (YL).

[English]

The philosopher You said, “he who is filial toward his parents and obedient toward his elder brothers but is fond of opposing his superiors is rare indeed. He who is not fond of opposing his superiors, but is fond to raise a rebellion surely never exists. The gentleman devotes himself to the roots (=fundamentals). When the roots are well planted, the Way will grow. Filial piety and brotherly obedience are surely the roots of humaneness, aren’t they?”

[Phân tích bình luận] [của Dương Bá Tuấn???]

Có nhận định rằng, con người ta nếu ở nhà có thể tận hiếu với bố mẹ, thuận phục đối với anh trai, ra ngoài có thể tận trung với quốc gia. Hiếu đễ là tiền đề của trung, trung là mục đích của hiếu đễ. Nho gia cho rằng, ở trong nhà thực hành hiếu đễ, trong nội bộ nhóm thống trị sẽ không phát sinh các sự việc “phạm thượng tác loạn”; mang hiếu đễ truyền bá, dạy dỗ cho dân chúng, dân chúng cũng sẽ tuyệt đối phục tùng, chứ không tạo phản. Điều này giúp duy trì sự ổn định của xã hội và quốc gia.

Ở đây đề cập hiếu đễ là căn bản của nhân,  và Khổng tử coi nhân là cốt lõi của triết học, tư tưởng luân lý. Đây là điểm cực kỳ quan trọng. Trong thời Xuân Thu, Chu thiên tử thực hành chính sách con trai trưởng kế thừa ngôi vị, các con thứ phân phong làm chư hầu. Từ chư hầu trở xuống cũng theo chính sách như vậy. Toàn bộ kết câu chính trị của xã hội, từ thiên tử, chư hầu đến đại phu, cơ sở của nó là quan hệ huyết mạch tông pháp phong kiến. Do đó, thuyết hiếu đễ chính là phản ảnh nhu cầu đạo đức của xã hội theo chế độ tông pháp đương thời. (Tông pháp, hiểu một cách đơn giản là chế độ lấy gia tộc làm trung tâm, là phép tắc để điều chỉnh quan hệ gia tộc gần xa thân sơ).

Hiếu đễ có mối quan hệ trực tiếp với ổn định xã hội. Khổng tử đã nhìn ra điểm này, cho nên toàn bộ chủ trương tư tưởng của Khổng tử đều xuất phát từ đây.  Từ việc cho rằng người hiếu đễ sẽ không làm ra việc phạm thượng tác loạn, Khổng tử cho rằng hiếu đễ là căn bản của nhân. Sau thời Xuân Thu Chiến quốc, các triều đại phong kiến thống trị cũng như giới văn nhân đều tiếp nối thuyết hiếu đễ này của Khổng tử, chủ trương “dĩ hiếu trị thiên hạ” (lấy hiếu để trị vì thiên hạ), thời nhà Hán chính là một ví dụ điển hình. Nhà Hán đã biến việc giáo hóa đạo đức thành một thủ đoạn quan trọng để thi hành thống trị phong kiến, cấm túc trói buộc bách tính trong gông cùm của cương thường danh giáo, luân lý đạo đức, tạo ra ảnh hưởng to lớn đối với quan niệm đạo đức cũng như hành vi đạo đức của dân chúng, cũng như đối với toàn bộ văn hóa truyền thống Trung Quốc. Thuyết hiếu đễ là để phục vụ chế độ thống trị phong kiến và gia tộc tông pháp, đối với thuyết này cần có nhận thức, phân tích và phân biệt tỉnh táo, bài trừ độc tố phong kiến, thừa hưởng nội dung hợp lý, phát huy được tác dụng của đạo đức đối với ổn định xã hội.

[Bình luận của Yên Liên]

sẽ viết sau…

mỏi mắt trông chờ 😛

 

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Rie's Bento & Cooking

in healthy way with Love

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: