Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.8

子夏问孝,子曰:“色难(1)。有事,弟子服其劳(2);有酒食,先生(3)馔(4),曾是以为孝乎?”

Zǐ Xià wèn xiào, Zǐ yuē: “Sè nán. Yǒu shì, dìzǐ fù qí láo; yǒu jiǔ shí, xiānshēng zhuàn, zēng shì yǐwéi xiào hū?.”

Tử Hạ vấn hiếu, Tử viết: “Sắc nan (1). Hữu sự, đệ tử phục kỳ lao (2); hữu tửu thực, tiên sinh (3) soạn (4), tằng thị dĩ vi hiếu hồ?.”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 色难- Sè nán – Sắc nan: Sắc, sắc mặt. Nan, ý là không dễ dàng tùy tiện.
  2. 服劳 – fù láo – phục lao: phục, làm việc, gánh vác phụ trách. Phục lao tức là phục thị – phục vụ chiếu cố quan tâm.
  3. 先生 – xiānshēng – tiên sinh: tiên sinh chỉ trưởng bối hoặc cha mẹ, trước đó nói đệ tử, là chỉ vãn bối, con cái vân vân.
  4. 馔 – zhuàn – soạn: ý là ẩm thực, ăn uống.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Tử Hạ hỏi hiếu là gì, Khổng tử nói: “(làm con cái cần tận hiếu), không dễ dàng nhất là đối với cha mẹ nét mặt hòa nhã vui vẻ (i), còn là khi có việc, con cái muốn thay cha mẹ làm, có đồ ăn đồ uống, mời cha mẹ ăn, lẽ nào cho rằng như thế thì có thể tính là hiếu ư?.”

(i) Nguyên văn: 和颜悦色 – hé yán yuè sè – hòa nhan duyệt sắc. Câu này trong Luận ngữ.

[Bình giải – Chưa rõ là ai]

Chương 5, 6, 7, 8 của thiên này, đều là Khổng tử bàn luận các vấn đề liên quan đến hiếu.  Hiếu mà Khổng tử đề xướng, thể hiện ở mọi phương diện và tầng nấc, phản ảnh nhu cầu của chế độ tông pháp, thích ứng với nhu cầu của xã hội đương thời. Tư tưởng chung là, không chỉ cần theo hình thức, tuân theo nguyên tắc của Chu lễ mà phụng dưỡng cha mẹ, mà còn cần từ đáy lòng chân chính tôn kính cha mẹ.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

色难 – sè nán – sắc nan: có hai cách giải thích. Một cách là, khó ở chỗ dự liệu được sắc mặt của cha mẹ. “Tiểu Đái Ký” (cách gọi khác của Lễ Ký) – “Khúc lễ” có câu: “视於无形,听於无声” – “thị ư vô hình, thính ư vô thanh” – nhìn chỗ vô hình, nghe chỗ vô thanh. Có thể từ chỗ vô hình, vô thanh mà hiểu được ý tứ của cha mẹ, đây là hiếu. Một cách khác là, người con có hiếu phụng sự cha mẹ, khó ở chỗ có thể hòa ngôn duyệt sắc (lời nói hòa nhã nhan sắc vui vẻ). “Tiểu Đái Ký” – “Tế nghĩa” có câu: “孝子之有深爱者,必有和气。有和气者,必有愉色。有愉色者,必有婉容” –  “hiếu tử chi hữu thâm ái giả, tất hữu hòa khí. Hữu hòa khí giả, tất hữu du sắc. Hữu du sắc giả, tất hữu uyển dung” – người có hiếu có tình cảm sâu sắc, tất có hòa khí. Người có hòa khí, tất có sắc mặt hòa nhã vui tươi. Người có sắc mặc hòa nhã vui tươi, tất có diện mạo tốt đẹp. Sắc mặc của con người, là do tình cảm chân thực ở trong nội tâm lộ ra, sắc không tốt chính là do trong lòng không tốt. Cách giải thích đầu là chỉ sắc mặt của cha mẹ, cách sau chỉ sắc mặt của người con có hiếu. Do ở đây là hỏi về hiếu, nên là nói về người con. Nay theo cách giải thích thứ hai.

服其劳 – fù qí láo – phục kỳ lao: phục, làm, thi hành, chấp hành

先生馔 – xiānshēng zhuàn – tiên sinh soạn: tiên sinh hoặc là chỉ phụ huynh, hoặc chỉ trưởng bối, người hơn tuổi. Ở phía trước nói “đệ tử,” không nói “tử đệ,” ở đây chắc là chỉ trưởng bối. Soạn, là ẩm thực, ăn uống. Hoặc có thuyết: soạn, nghĩa là bày, xếp. Có rượu có thức ăn, trước hết bày ra cho trưởng bối. Hai cách giải thích nghĩa tương đương nhau, theo ngữ pháp câu, theo cách giải thích đầu. Đệ tử làm việc cho người lớn tuổi hơn, có lòng tôn kính là được. Tử đệ làm việc cho huynh trưởng, thì kính còn từ lòng yêu thương nữa.

曾是以为孝乎 – zēng shì yǐwéi xiào hū – tằng thị dĩ vi hiếu hồ: tằng, giống “là.” Cho là chỉ như vậy thì có thể nói là hiếu ư?

Bốn chương trên đều hỏi về hiếu, mà Khổng tử trả lời không đáp án nào giống đáp án nào. Hoặc có vẻ là Khổng tử vì giáo dục mọi người, tập trung vào chỗ còn thiếu sót và khuyết điểm của từng người hỏi. Vì vậy có thể là Tử Du có khả năng “dưỡng” nhưng mất đi lòng tôn kính, Tử Hạ thiếu nét mặt ôn hòa đối với cha mẹ, đây đều là suy đoán. Luận ngữ văn từ giản ước, hoặc lúc đó cách hỏi có chỗ không giống nhau, Khổng tử theo từng câu hỏi mà trả lời khác nhau, người ghi chép tường thuật lại lời của Khổng tử, nhưng lại lược câu hỏi của người hỏi, vì vậy mà có vẻ như hỏi giống nhau mà trả lời khác nhau. Người học theo lời văn và suy ra ý nghĩa, biết Khổng tử dạy hiếu đạo có những cách giải thích như thế này, đều có thể được vậy, không phải tìm kiếm thêm ở đâu nữa.

Tử Hạ hỏi: “đạo hiếu là như thế nào?.” Tiên sinh nói: “Chỗ khó là ở sắc mặt của con cái. Nếu gặp lúc có việc, do người trẻ tuổi gánh vác, có đồ ăn đồ uống, để người lớn tuổi ăn trước, đây có phải là hiếu không?”

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Tử Hạ đến hỏi về hiếu, Khổng tử nói “sắc nan.” Cái gì gọi là “sắc nan”? Vấn đề thái độ, câu ở trên nói bất kính mà có thể hiếu thảo, chính là rất khó ở chỗ thái độ. Khổng tử nói: “hữu sự, đệ tử phục kỳ lao.” Lúc có việc, như chúng ta là lớp hậu bối, thấy cha mẹ quét sân, thì nhận lấy chổi tự mình làm. “Hữu tửu thực, tiên sinh soạn.” (tiên sinh là xưng hô chung thời nay, thời cổ đại là cách xưng hô tôn trọng đối với người hơn tuổi.) Có thứ ăn ngon, đưa cho cha mẹ trưởng bối ăn. “Tăng thị dĩ vi hiếu hồ?” (“tăng thị” là có ý giả định), anh cho rằng như thế này thì là hiếu ư? Thay trưởng bối làm việc, mời trưởng bối ăn ngon, không nhất định là hiếu, tại sao vậy? “Sắc nan.” Thái độ rất quan trọng, giống như chúng ta kết thúc giờ làm việc đi về nhà, cảm thấy mệt muốn chết, mà ông bố nằm trên giường, sai rót chén trà để ông uống. Làm con cái, trà thì rót, nhưng lúc bưng qua, mặt nặng xuống, đem chén trà đặt mạnh xuống bàn ở trước giường, dùng ngữ điệu lạnh lùng cứng ngắc nói: “uống đi.” Trước thái độ này của con cái, tâm lý của người làm cha mẹ, so với chết còn khó chịu hơn, điều này là tuyệt không thể được. Vì vậy hiếu đạo đầu tiên là cần tôn kính, đây là thuộc nội tâm; thứ hai là thái độ, sắc diện bên ngoài.

Tại sao hai chương này (chương 2.7 và 2.8) lại đặt ở đây? Đây là bao quát cả đạo quân, đạo thần. Một loại là làm quan trên của người khác, lãnh đạo người khác, một loại là làm người dưới của người khác, phối hợp với người khác. Do vậy chúng ta nói về đạo vi chính, cũng là “sắc nan,” cũng là “bất kính, hà dĩ biệt hồ?.” Chúng ta yêu thương che chở cấp dưới, rất khó ở chỗ thái độ. Vị hoàng đế nổi tiếng trong lịch sử Đường Thái Tông, bản chất rất uy nghiêm, có một ngày ông hỏi Ngụy Trưng, tại sao mấy đại thần này, lúc trước mặt ông đều không nói gì. Ngụy Trưng liền nói cho ông biết – cũng chỉ có mỗi Ngụy Trưng dám như vậy – bệ hạ tự mình không biết, do bệ hạ rất uy nghiêm, chúng đại thần sau khi gặp ngài, tâm lý liền sợ hãi, vì vậy nói ra không nổi. Đường Thái Tông nghe xong lời này, liền đến trước gương học cười, gặp người liền cười, dần dần khiến thái độ của bản thân trở nên hòa ái hơn. Do vậy đạo vi chính, cũng là “sắc nan.” [bỏ một đoạn] Làm lãnh đạo người khác, hay làm cấp dưới người khác, đều “sắc nan”– thái độ không dễ dàng đạt được hòa nhã. Trong nội tâm càng khó hơn. “Kính” – thương yêu người khác thật lòng, không dễ dàng làm được. Do vậy đem hai câu về hiếu đạo này đặt trong thiên Vi chính,  cũng chính là tu dưỡng và thái độ của việc tòng chính (tham dự vào chính trị, làm quan), đây là học vấn chân chính. Anh nói anh đối với cấp dưới yêu thương che chở hết mức, nhưng anh đối với họ cứ mở miệng là mắng, đem bao nhiêu nóng bực đều trút lên người họ, sau khi nổi nóng xong, đối với họ tốt bao nhiêu cũng chẳng có tác dụng gì.

Chương tiếp theo sẽ là hội thoại giữa Khổng tử và Nhan Hồi, bao quát cả phần Tử Du và Tử Hạ hỏi về hiếu đạo ở trên, liên kết với việc đặt vào thiên Vi chính này, là đạo lý của đạo làm thần và đạo làm quân.

Hàn

Advertisements

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.7

子游(1)问孝,子曰:“今之孝者,是谓能养。至于犬马,皆能有养(2),不敬,何以别乎?”

Zǐ Yóu wèn xiào, Zǐ yuē:  “Jīn zhī xiào zhě, shì wèi néng yang. Zhì yú quǎn mǎ, jiē néng yǒu yang, bù jìng, hé yǐ biè hū?”

Tử Du (1) vấn hiếu, Tử viết: “Kim chi hiếu giả, thị vị năng dưỡng. Chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng (2), bất kính, hà dĩ biệt hồ?”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. Tử Du: họ Ngôn tên Yển, tự Tử Du, người Ngô, kém Khổng tử 45 tuổi.
  2. 养, đọc là yàng.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Tử Du hỏi hiếu là gì, Khổng tử nói: “Như hiện nay thứ gọi là hiếu, chỉ là nói có thể nuôi dưỡng cha mẹ đầy đủ là đủ rồi. Nhưng, đến chó ngựa cũng có thể nuôi dưỡng đầy đủ. Nếu không có lòng hiếu kính cha mẹ, như vậy nuôi dưỡng cha mẹ với nuôi dưỡng chó ngựa có gì khác biệt?”

[Bình giải – Chưa rõ là ai]

Thiên này vẫn là bàn luận về vấn đề hiếu. Đối với câu “chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng,” cho đến nay cũng có vài cách giải thích không giống nhau. Có giải thích là chó giữ cửa, ngựa kéo xe các loại con vật chở đồ, cũng có thể hầu hạ chăm sóc con người. Giải thích thứ hai là chó ngựa cũng có thể được con người nuôi dưỡng. Ở đây dùng cách giải thích thứ hai, vì so ra thỏa đáng hơn.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Tử Du: Tên Ngôn Yển tự Tử Du, đệ tử lúc vãn niên của Khổng tử.

是谓能养 – thị vị năng dưỡng: Khổng tử nói thế tục đều cho rằng có thể (nuôi) dưỡng là hiếu.

犬马皆能有养 – câu này có hai cách giải thích: chó giữ nhà, ngựa thay người lao động, đều có khả năng săn sóc phục dịch hầu hạ con người, là khuyển mã cũng có thể phụng dưỡng con người. Cách giải thích khác: Mạnh tử từng nói: “食而弗爱,豕交之也,爱而不敬,兽蓄之也” – “thực nhi phất ái, thỉ giao chi dã, ái nhi bất kính, thú súc chi dã” – nuôi mà không yêu, giống như nuôi heo vậy, yêu mà không kính, như chăm vật nuôi vậy. Là chó, ngựa sẽ được người nuôi dưỡng, có thể thấy chỉ nuôi dưỡng ăn ở vật chất chưa đủ được coi là hiếu. Giải thích đầu dùng từ “dưỡng” kiêm hai nghĩa là ẩm thực (ăn uống), phục thị (hầu hạ), e là đã giải thích không đúng. Chó ngựa do người sai khiến sử dụng, không tự phục vụ hầu hạ con người. Nếu thật là chó ngựa có thể nuôi dưỡng người, có thể trực tiếp viết “khuyển mã giai năng dưỡng”- chó ngựa đều có thể nuôi dưỡng là được rồi, cần gì phải thêm một chữ “hữu” nữa. “Giai năng hữu dưỡng,” chính là đều có thể được con người nuôi dưỡng. Hoặc nghi việc đem quan hệ thân thích so sánh với khuyển mã là không thỏa đáng, thì ở đây chính là có thể thấy rõ mối quan hệ đó không thể đạt được mức hiếu. Mạnh tử đã nói rõ súc vật vật nuôi, giải thích của Mạnh tử về “Luận ngữ” trực tiếp đáng tin. Nay theo cách giải thích thứ hai.

不敬何以別乎 – bất kính hà dĩ biệt hồ: nếu như chỉ biết dưỡng mà không tôn kính, thì không khác gì nuôi dưỡng chó ngựa. Sao có thể nói đến hiếu?

Tử Du hỏi: “Đạo hiếu là như thế nào?.” Tiên sinh nói: “Hiện nay mọi người cho rằng chỉ cần có thể nuôi dưỡng cha mẹ đã tính là hiếu rồi. Nhưng mà chó ngựa cũng có thể được người nuôi dưỡng như vậy. Không có một lòng tôn kính đối với cha mẹ, thì phân biệt ở chỗ nào!.”

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Tử Du là đệ tử của Khổng tử, họ Ngôn tên Yển, Tử Du là tên chữ, kém Khổng tử 45 tuổi. Tử Du hỏi về hiếu, Khổng tử giải thích rất rõ ràng, nói hiện nay mọi người không hiểu về hiếu, cho rằng chỉ cần nuôi dưỡng cha mẹ đầy đủ, có cơm cho họ ăn, giống như ngày nay, mỗi tháng gửi năm chục một trăm đô la Mỹ cho cha mẹ dùng, thì là hiếu rồi. Cũng còn rất nhiều người trẻ tuổi đến năm mươi nguyên cũng không gửi, gửi được đến nơi, lão bà lão ông tuy ở trong nhà cô cô độc độc, “流泪眼观流泪眼,断肠人对断肠人” – lưu lệ nhãn quan lưu lệ nhãn, đoạn trường nhân đối đoạn trường nhân – lệ rơi nhìn lệ rơi, đứt ruột cùng đứt ruột, nhưng khi nhìn thấy năm mươi nguyên liền hoan hoan hỉ hỉ. Do đó người hiện đại, cho rằng nuôi bố mẹ thì tính là hiếu rồi, nhưng “khuyển mã giai năng hữu dưỡng,” chăm nuôi một con chó, một con ngựa cũng cần cho chúng ăn, có người nuôi chó còn cần mua gan lợn cho chó ăn, cho nên loại tâm tình chỉ là có dưỡng mà không có yêu, thì không phải là hiếu chân chính. Hiếu không phải là hình thức, cũng không giống như nuôi chó nuôi mèo.

Ở đây chúng ta có thể thấy được, Khổng tử giảng đạo hiếu cho học sinh so với trả lời người trong chính trường hoàn toàn khác nhau, cho nên chúng ta chứng minh được là hai đoạn hội thoại trước của Khổng tử là có ẩn ý, là dùng ẩn ngữ vậy.

Hàn

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.6

Chương này, ba tiên sinh chọn ba cách giải thích khác nhau, lập luận nào cũng có lý cả. Có lẽ tổng hợp ý của cả ba, mới đủ chăng?

Đoạn giải thích ý nghĩa của chương này trong mối liên kết chặt chẽ với chương trên của Nam Hoài Cẩn rất hay, có thể nói là hình thành nên một cách giải thích thứ tư về đạo hiếu: đối với người làm quan, hiếu không chỉ liên quan đến cha mẹ mình, mà còn là đại hiếu với người thiên hạ, không vi phạm nhân tâm. Khen như vậy, là chấp nhận lập luận cho rằng hai chương này, hoặc là một chương liền mạch, hay tách ra thành hai chương riêng biệt, cũng đều là suy luận của người đời sau cả, không chắc cách nào là đúng, và đúng với ý tưởng nguyên gốc của những người chép nên Luận ngữ.

Ngoài ra, không hiểu Nam Hoài Cẩn có tư thù gì với Khang Hy, mà phải gọi đi gọi lại vị hoàng đế lịch sử này là Khang Ma tử? Căn bản, Khang Hy mặt có rỗ hay không không thấy liên quan gì đến nội dung bình luận ở đây.

Cuối cùng, đọc đến đoạn “…quyền mưu kiểu người Mãn, sách học là Tam Quốc diễn nghĩa, không phải Tam Quốc Chí”, thấy giật cả mình 🙂 Người Việt ta tin Tam Quốc diễn nghĩa sái cổ, cứ cho là thật, mãi đến gần đây mới có người bỏ công ra dịch Tam Quốc chí, mới thấy nền học thuật trì trệ cỡ nào…

 

孟武伯(1)问孝,子曰:“父母唯其疾之忧(2)。”

Mèng Wǔ Bó wèn xiào, zǐ yuē: “fùmǔ wéi qí jí zhī yōu”

Mạnh Võ Bá (1) vấn hiếu, Tử viết: “Phụ mẫu duy kì tật chi ưu (2).”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. Mạnh Võ Bá: Con trai của Mạnh Ý tử, tên Trệ. Võ là thụy hiệu.
  2. 父母唯其疾之忧- Phụ mẫu duy kì tật chi ưu: Kì, đại từ, chỉ cha mẹ. Tật: bệnh.

[Diễn dịch văn – Dương Bá Tuấn]

Mạnh Võ Bá thỉnh giáo Khổng tử về đạo hiếu. Khổng tử nói: “Đối với cha mẹ, cần đặc biệt lo lắng về bệnh tật của họ. (Làm được như thế có thể tính là tận hiếu vậy).”

[Bình giải – Chưa rõ là ai]

Chương này là đáp án của Khổng tử về hiếu cho con trai của Mạnh Ý tử. Đối với lời của Khổng tử rằng “phụ mẫu duy kì tật chi ưu,” cho đến nay có ba cách giải thích: 1) cha mẹ yêu con cái của mình, cái gì cũng có thể làm(i), duy chỉ sợ con cái có bệnh tật, con cái có thể thấu hiểu loại tâm tình này của cha mẹ, trong sinh hoạt ngày thường chỗ nào cũng cẩn thận thận trọng, đây chính là hiếu. 2) Làm con cái, chỉ muốn cha mẹ lo lắng lúc mình có bệnh, nhưng không cần phải lo lắng trong các phương diện khác, thể hiện rõ cái tình của cha mẹ với con cái. 3) Con cái chỉ cần lo lắng về bệnh tật của cha mẹ, còn không cần phải lo lắng về các phương diện khác. Ở đây chọn dùng cách giải thích thứ ba.

(i) Nguyên văn: Vô sở bất chí -无所不至 – wú suǒ bù zhì: không có gì là không đi làm, cái gì cũng có thể làm. Cũng là câu trong Luận ngữ

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

唯其疾之忧- duy kì tật chi ưu: câu này có ba cách giải thích. Thứ nhất, cha mẹ yêu con, không gì không làm (cho con), do vậy thường lo lắng con mình có thể bị bệnh. Con cái có thể đặt mình vào hiểu tấm lòng này, mà trong sinh hoạt hàng ngày thêm phần cẩn thận, tức là hiếu. Hoặc có cách giải thích, con cái thường cẩn thận giữ thân, khiến cho cha mẹ chỉ phải lo lắng lúc bị bệnh, ý là không có gì khác [khiến cha mẹ] phải lo lắng cả. Bệnh của con người, thường không phải tự bản thân có thể khiến cho không có được. Cách giải thích thứ ba, con cái thành tâm hiếu với cha mẹ, có thể dụng tâm quá mức, ngược lại khiến cha mẹ bất an, làm con, chỉ nên lo lắng về bệnh tật của cha mẹ, còn những thứ khác không nên quan tâm quá phận. Mạnh tử nói “phụ tử chi gian bất trách thiện”-giữa cha con không lấy việc tốt ra để làm tiêu chí trách phạt (i),  cũng là ý này. Cả ba cách giải thích đều hợp lý, cách giải thích thứ nhất đối với nguyên văn Luận ngữ có phần vòng vèo hơn, hơn nữa chữ “duy” ngữ khí không sát lắm, thuyết thứ ba là lo lắng duy lúc cha mẹ có bệnh hợp lý hơn. Ở đây theo cách giải thích thứ hai.

Mạnh Võ Bá hỏi: “Đạo hiếu là thế nào?.” Tiên sinh nói: “Để cha mẹ chỉ phải lo lắng lúc ta bị bệnh.”

(i) Nguyên văn: 父子之间不责善 – phụ tử chi gian bất trách thiện. Người sau diễn giải giải thích dài dòng ra, đại loại là cha dạy con làm việc tốt tránh việc xấu, nhưng con chưa chắc có thể làm được ngay, khiến cho kỳ vọng của cha bị tiêu tan, tiếp đó là phẫn nộ, kết quả lại là gây tổn thương cho cảm tình đôi bên….vân vân. Tóm lại là phải suy nghĩ kỹ về cách giáo dục.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Mạnh Võ Bá là người như thế nào? Chính là con trai của người ở trên nhắc đến là Mạnh Ý tử, Mạnh Võ Bá là “thế gia công tử.” Ở đây liên quan đến thế nào là “thế gia,” chế độ cổ đại với hiện đại khác nhau, đặc biệt là thời Xuân Thu, với Ấn Độ, châu Âu cổ đại cũng không giống. Cái gọi là “thế gia” chính là làm quan, đời con cháu đều có chức quan này, tuy nhiên thường là con trưởng kế thừa vị trí quan, chính là thứ gọi là thời đại phong kiến. Tuy nhiên không giống với phong kiến châu Âu, vị trí này không phải là vĩnh viễn, nhà nào không tốt, có thể bị diệt trừ. Ở Trung Quốc loại gia đình được truyền chức xuống này gọi là “thế gia,” con trưởng có quyền kế thừa, con thứ hai cho đến thứ ba, bốn, năm đều ở sang một bên. Mạnh Võ Bá là con trai của Mạnh Ý tử, là thế gia công tử chính thống. Phụ thân vừa hỏi về đạo hiếu (đương nhiên không phải là việc trong cùng một ngày, nhưng người biên tập sách – các học sinh của Khổng tử, đã đem việc này đặt vào một chỗ), con trai Mạnh Võ Bá cũng đến hỏi về hiếu, đáp án của Khổng tử, với đáp án giành cho phụ thân của ông là khác nhau.

Khổng tử nói: “Phụ mẫu duy kì tật chi ưu.” Câu này là nói cha mẹ thấy con cái sinh bệnh, loại lo lắng đau buồn này, sâu đến cỡ nào, con cái cần thấu hiểu loại tâm tình này.

Câu trả lời của Khổng tử hay vô cùng! Câu này, chúng ta cần nói thế này, vấn đề này chỉ có người làm cha mẹ mới có thể chân chính hiểu được [bỏ mấy câu dài dòng và không quan trọng lắm]. Khổng tử đối với Mạnh Võ Bá là nói, đối với cha mẹ cần bỏ ra tâm sức như đối với con mình lúc bị bệnh, quan tâm đến trình độ như thế, mới là đạo hiếu.

Dĩ hiếu trị thiên hạ

Hai đoạn hội thoại này là một chủ đề lớn, bây giờ chúng ta quay ngược lại bàn về điểm thứ nhất. Chúng ta biết văn hóa Trung Quốc rất hay nói đến đạo hiếu, Nho gia càng hay nói về đạo hiếu. Đem Tứ thư Ngũ kinh biên tập lại, thêm “Hiếu kinh,” “Nhĩ nhã” các loại, tập hợp thành một hệ liệt gọi là Thập tam kinh. “Hiếu kinh” là do học sinh của Khổng tử là Tăng tử ghi chép, chúng ta nếu muốn nghiên cứu đạo hiếu, phải xem tư tưởng của Khổng tử đã được hệ thống hóa thành bộ Hiếu kinh này, trong Hiếu kinh nói thế nào mới là hiếu? Không chỉ là đối với cha mẹ cần hiếu, mà còn cần mở rộng ra(i) đại hiếu với thiên hạ, yêu người trong thiên hạ, gọi là đại hiếu.  Người vi chính đem tấm lòng hiếu tử để vi chính, cũng chính là như chúng ta thường nói người làm việc công vụ là công bộc của nhân dân, ở đây là cùng một đạo lý, vì vậy về sau phát triển ra, sau thời Đường, Tống có lập luận rằng “Cầu trung thần tất ư hiếu tử chi môn”- tìm trung thần tất phải tìm từ nhà có con có hiếu. Một người có thể thật sự yêu cha mẹ, yêu gia đình, yêu xã hội, cũng nhất định là trung thần. Do trung thần là phát huy từ một loại tình cảm thương yêu. Giả sử không có trái tim yêu thương cơ bản, bạn nói anh ta có thể tận trung đối với quốc gia dân tộc được không? Ở đây lại có vấn đề. Liên quan đến chữ “trung” có một điểm, là như cổ nhân nói: “Khảng khái quyên khu dị, tòng dung tựu nghĩa nan”(ii). Khảng khái xả thân bỏ mạng so ra dễ dàng hơn, giống như lưu manh đánh nhau, khi đánh rồi, không phải ngươi chết thì là ta chết, nóng lên, thật sự dũng cảm, coi chết như về; giả dụ để cho họ năm phút suy nghĩ xem có nên chết hay không, thì phải cân nhắc, “tòng dung” – chầm chậm, xem họ có thật sự nguyện ý chết không, lúc này rất khó nói. Do đó nói trung thần tất đến từ nhà có con có hiếu, cần người có cảm tình chân thực, nhận thức chân thực, mới có thể đủ để tận trung.

Vì vậy, câu Khổng tử trả lời Mạnh Ý tử không giống (với trả lời Mạnh Võ Bá), Mạnh Ý tử là người theo chính trị, Khổng tử tương đối tôn kính ông ta, câu trả lời so ra tương đối hàm súc (ý tứ kín đáo), chỉ nói “không được vi phạm làm trái,” không được vi phạm cái gì? Ý là không vi phạm làm trái người trong thiên hạ, cần đại hiếu đối với thiên hạ, là đạo lý như vậy. Khổng tử biết câu trả lời như thế này Mạnh Ý tử không nhất định hiểu, kiểu nói như thế này thổ ngữ gọi là歇后语- “hiết hậu ngữ” – lời nói mà phần thứ hai được nói ra sau một lúc ngắt quãng, hoặc hoàn toàn không được nói ra, nhưng mang ý nghĩa của lời được nhắc ở phần một, “ẩn ngữ” […]. Nói suốt nửa ngày, ý nghĩa phần phía sau cần người nghe tự đoán. Tại sao Khổng tử lại trả lời theo kiểu này? Ý nghĩa là nói, anh Mạnh Ý tử thân phận đặc biệt, một khi đã là người theo chính trị, đối với người trong thiên hạ cần phụ trách công đạo, coi người trong thiên hạ như cha mẹ, như vậy mới thật là hiếu, đây là phong độ của bậc đại thần. Vì vậy “vô vi”-không vi phạm, chính là không thể vi phạm nhân tâm.

Khổng tử cũng biết Mạnh Ý tử chưa chắc đã hiểu, do đó đoạn thầy trò đối thoại với Phàn Trì là dụng ý “đánh nha đầu mắng tiểu thư,” biết Phàn Trì cũng nhất định không hiểu, không hiểu thì mặc họ không hiểu, từ từ sẽ truyền giảng, làm công việc giáo dục gián tiếp, do đó đợi lúc học sinh đánh xe mà có đoạn đối thoại này. Loại giáo dục gián tiếp này, so với dạy trực tiếp càng có hiệu quả. Đạo hiếu của một người, có thể làm đến mức như lời nói với Phàn Trì, đã là vô cùng có hiếu; đối với quốc gia đại sự, có thể làm được “vô vi”- “không vi phạm” chính là vị quan vô cùng tốt.

Nhưng Khổng tử đối với câu hỏi về hiếu của vị thế gia công tử Mạnh Võ Bá này, lời đáp rất bất đồng, ông nói đạo hiếu vô cùng đơn giản, chỉ cần nghĩ đến lúc ta bị bệnh, cha mẹ ta lo lắng đến cỡ nào, ta có thể hiểu thế nào là hiếu. Đối với một người mà nói, cái gọi là hiếu là hồi báo tấm lòng yêu thương của cha mẹ, ta chỉ cần nhớ lúc bản thân có chuyện, cha mẹ lo lắng như thế nào, mà dùng tấm lòng y như vậy đối với cha mẹ, chính là hiếu. Nói theo cách khác, anh Mạnh Võ Bá là thế gia công tử, tương lai nhất định sẽ nắm quyền. Chúng ta đọc lịch sử hiểu rõ một câu, chính là sợ nhất thế gia công tử nắm quyền “bất tri nhân gian chi tật khổ” – không hiểu những nỗi thống khổ của nhân gian. Vì vậy đạo lý vi chính, cần biết những nỗi khổ của nhân gian, hiểu rõ nỗi khổ đau của lão bách tính ở các tầng lớp xã hội ở phía dưới là ở chỗ nào. Vì vậy yêu người trong thiên hạ, cần biết sự thống khổ của người trong thiên hạ, cũng giống như cha mẹ hiểu con cái, anh tương lai nắm quyền, tất cần nhớ kỹ đạo lý này. Hai đoạn này đặt vào trong thiên Vi chính, rất là hay.

Đương nhiên thế gia công tử mà không biết nỗi khổ của nhân gian, thường là thất bại, chúng ta thấy Tấn Huệ Đế lúc thiên hạ mất mùa nặng, thái giám nói với ông ta là mọi người không có cơm ăn, ông ta nói: “Sao không ăn thịt?” Ông ta không biết đến cơm còn không có mà ăn, làm sao có được thứ so với cơm còn khó hơn là thịt. Đây chính là không biết nỗi khổ của dân gian. Chúng ta cũng có thể từ lịch sử rút ra một số kết luận, thường các đế vương sáng nghiệp, đều rất tốt, hoàng đế hai ba đời sau “lớn lên ở thâm cung trong tay người hầu thị nữ,” là loại hoàng đế đến gạo từ “cây” nào mọc ra cũng không biết, ta thay họ đặt ra một danh xưng, gọi họ là “hoàng đế chức nghiệp,” họ sinh ra là để làm hoàng đế. Các “hoàng đế chức nghiệp” thường phạm vào một căn bệnh tâm lý – cảm giác tự ti, họ vô cùng tự ti. Do đó các “hoàng đế chức nghiệp” trong lịch sử vô cùng hỏng, đối với quan văn, phản cảm họ học vấn giỏi hơn mình, đối với võ tướng, cũng không thích, cảm giác võ công không được như người ta, vì vậy “hoàng đế chức nghiệp” thường làm ra việc giết trọng thần, bãi chức người làm được việc các loại, khiến cho bản thân họ sẽ thất bại.

Tương tự, ngoài các loại chính trị của đế vương, chúng ta làm bất kỳ một nhiệm vụ gì, đối với các loại công việc lớn nhỏ, đặc biệt đối với các sự vụ thuộc phía dưới, càng không thể mơ hồ.

Sau đó, chúng ta cần thảo luận một vấn đề lớn của đạo hiếu. Văn hóa Trung Quốc, đối với giáo dục gia đình mà nói, thường lấy “trung hiếu truyền đời” để tuyên dương, có thể thấy văn hóa Trung Quốc xem trọng đạo hiếu như thế nào, việc này chúng ta cần hiểu tổng thể văn hóa lịch sử Trung Quốc. Dân tộc, quốc gia Trung Quốc so với các nước Âu Mỹ đều không giống.[…] Quốc gia Trung Quốc, do ảnh hưởng hoàn cảnh địa lý, có thể đạt được “dĩ nông lập quốc”- lấy nông nghiệp để lập quốc, châu Âu không đạt được điều này, đặc biệt là Hy lạp không đạt được điều này, họ muốn sinh tồn, tất phải phát triển thương nghiệp. Lịch sử châu Âu ngày trước, các loại thương nghiệp trên biển, thấy được là làm ăn buôn bán, không thấy được là làm cướp biển, do đó trước thế kỷ 16, phương Tây thiếu tài phú, nghèo nàn một mớ hỗn độn. Sau thế kỷ 16, cướp Ấn Độ, lừa Trung Quốc, tiền vàng mới chảy sang phương Tây, cái gọi là văn hóa, phát triển kinh tế phương Tây vân vân, nguyên lúc đầu đều là như vậy mà thành.

Chúng ta sau khi hiểu văn hóa phương Tây, quay đầu nhìn lại Trung Quốc, Trung Quốc lấy nông nghiệp lập quốc, có một loại văn hóa tinh thần cơ bản bất đồng với phương Tây, chính là xã hội tông pháp (tông trong tông tộc, dòng tộc -nd) Trung Quốc. Sau thời tam đại, do xã hội tông pháp, mới sinh ra phong kiến thời Chu. Phong kiến mà thường được nhắc đến, là hình thức phong kiến phương Tây, không phải phong kiến Trung Quốc, đem hình thái phong kiến Trung Quốc, đặt cùng một chỗ với chế độ nô lệ của văn hóa phong kiến phương Tây, so sánh một chút, có thể thấy hoàn toàn là hai thứ khác nhau, hoàn toàn sai biệt vậy. Phong kiến Trung Quốc, là do tông pháp hình thành nên. Do xã hội tông pháp, tinh thần đạo hiếu, từ trước thời Chu đã kiến lập, sau Tần Hán, do xã hội tông pháp biến thành xã hội gia tộc, cũng là một hình thái xã hội tông pháp, đạo hiếu đối với gia tộc, là phạm vi thu nhỏ lại, nhưng tinh thần vẫn như cũ. Chữ hiếu này, cũng là thứ chúng ta vừa nhắc đến, là mở mang nhân tình thế cố, đem chữ hiếu này của Trung Quốc, thông qua chính trị đề xướng thực hành mà làm rạng rỡ phong khí, là từ khi nào bắt đầu vậy? Là sau Tây Hán, thời Ngụy, Tấn chính thức đề xướng lấy đạo hiếu trị thiên hạ. Chúng ta thấy trong Nhị thập tứ hiếu nổi tiếng có Vương Tường nằm trên băng, ông ta chính là đại thần triều Tấn. Sau triều Tấn, Nam Bắc triều, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh về sau đều là “dĩ hiếu trị thiên hạ.” Chúng ta thấy đại thần các triều đại, mỗi khi vì các vấn đề quan trọng của quốc gia, hoặc các vấn đề yêu thương bảo hộ lão bách tính, trình tấu chương, rất nhiều người đều dùng câu “thánh triều dĩ hiếu trị thiên hạ,” trước hết đem cái mũ to này đội lên đầu hoàng đế, sau đó nên “thế nào thế nào” đưa ra kiến nghị, ở đây chúng ta thấy được các điểm tốt, ưu điểm của việc đề xướng hiếu trong văn hóa Trung Quốc.

Nhưng việc thiên hạ, nói đến chính trị thấy đáng sợ, chúng ta đóng cửa lại nghiên cứu, thấy cũng có người lợi dụng đạo hiếu biến thành thủ đoạn chính trị. Ai đã làm vậy? chính là hoàng đế Khang Hy triều Thanh.

Khang Ma tử dạy hiếu dạy trung

[ý là Khang mặt rỗ, chỉ Khang Hy-nd]

Chúng ta xem lịch sử, thường có thể thấy luật nhân quả, như triều Thanh, cô nhi quả phụ dẫn theo ba trăm vạn người, nhập Trung nguyên, thống trị bốn mươi nghìn vạn dân, đến cuối cùng triều Thanh kết thúc, lại vẫn là cô nhi quả phụ, cắp theo một cái tay nải, quay trở lại quan ngoại. Một giai đoạn lịch sử, bắt đầu như thế nào, cũng kết thúc như vậy, giống như ngớ ngẩn vậy. Lịch sử cổ kim đông tây, cũng gần như hoàn toàn theo luật nhân quả tuần hoàn vãng phục (iii) mà phát triển. Triều thanh cô nhi quả phụ sau khi nhập ải, Thuận Trị còn rất trẻ đã mất, nhưng đây là một đại nghi án của triều Tranh, có thuyết nói Thuận trị không chết, đi xuất gia, đây là một trong các đại nghị án không thể giải quyết trong lịch sử. Tiếp theo Khang Hy là đứa trẻ mới tám tuổi lên làm hoàng đế. Đến 14 tuổi, chính thức tự thân xử lý chính sự. Thành thật mà nói, vào lúc đó nếu như là người tầm thường, phải thống trị một Trung quốc bốn mươi nghìn vạn dân to như vậy, sẽ không có cách nào cả, nhưng đứa trẻ mười bốn tuổi này rất lợi hại, Khang Ma tử – trên mặt Khang Hy có vài vết rỗ đậu mùa – mười bốn tuổi bắt đầu thống trị Trung Quốc mấy chục năm (Khang Hy tám tuổi làm hoàng đế, 14 tuổi thân chính, 69 tuổi mất, tại vị 61 năm). Thiên hạ triều Thanh trong tay ông dần an ổn. Đương thời, trong phần tử tri thức ở Trung Quốc, người phản Thanh phục Minh rất nhiều, như Cố Đình Lâm, Lý Nhị Khúc, Vương Thuyền Sơn, Phó Thanh Chủ những người này đều không đầu hàng, đặc biệt là ở lĩnh vực tư tưởng, học thuyết, công tác phản Thanh phục Minh thực tại rất đáng sợ. Kết quả thế nào? Khang Ma tử lợi dụng chữ “hiếu” của Trung Quốc, đánh hư chiêu một hồi, khiến cho hạt giống phản Thanh thẳng một mạch hai trăm năm sau mới mọc mầm.

Mãn Thanh nhập quan, có ba bộ thư tịch nhất định phải đọc, là ba bộ nào? Binh pháp quyền mưu kiểu người Mãn, sách học là Tam quốc diễn nghĩa, không phải Tam quốc chí, lúc đương thời dường như vương công đại thần đều đọc Tam quốc diễn nghĩa. Bộ thứ hai không đọc công khai, mà đọc bí mật, là Lão tử, lúc đó Khang Hy có một phiên bản Lão tử đặc biệt,  hiện tại đã được xuất bản, chú giải cũng không có điểm nào đặc biệt, nhưng lúc đó mỗi một quan viên triều Thanh, đều cần đọc thuộc “Lão tử”, tìm lời giải cho triết lý chính trị. Một bộ sách khác là “Hiếu kinh.” Nhưng biểu hiện bề ngoài vẫn là tôn Khổng. Nói đến đây, mọi người đọc lịch sử, có thể so sánh với “Văn Cảnh chi trị” (thời trị vì của Hán Văn đế, Hán Cảnh đế) của triều Hán, thiết kế chính trị của “Văn Cảnh chi trị,” trong lịch sử chỉ dùng tám chữ để miêu tả – “Nội dụng Hoàng Lão, ngoại thị Nho thuật” – trong dùng đạo Hoàng, Lão, biểu hiện bên ngoài là Nho. Như thế, Khang Hy đã đề xướng đạo hiếu, biên tập nên một bản ngữ lục – “Thánh dụ,” về sau được gọi là “Thánh dụ bảo huấn” hoặc “Thánh dụ quảng huấn,” tuyên truyền đến tất cả các tổ chức chính trị cao thấp ở địa phương. Trước đây chính trị địa phương được tổ chức như thế nào? Chính là từ đường của xã hội tông pháp, trong từ đường có tộc trưởng, hương trưởng, đều là người tuổi cao đức tốt, học vấn tốt, trong địa phương có có uy tín cao. Mỗi tháng mùng một, ngày rằm, nhất định phải tập trung người trong tộc ở từ đường, tuyên giảng thánh dụ, những lời trong thánh dụ điều nào cũng là đạo lý làm người, làm việc, đưa tư tưởng Nho gia vào, đặc biệt là đề xướng đạo hiếu. Tiến thêm một bước phân tích, Khang Hy hiểu sâu sắc tinh thần hiếu nhưng lại vận dụng mặt trái của nó. Cần biết rằng Khang Hy đem mỗi một người trẻ tuổi huấn luyện thành cái gì cũng nghe lời cha mẹ, như thế đâu có ông lão, bà lão nào muốn con mình đi làm việc giết người tạo phản? Do đó Khang Hy dùng mặt trái [của hiếu], dùng đến hết sức cao minh. Đây là kỳ thứ nhất.

Kỳ thứ hai: lúc đó Lý Nhị Khúc ở Thiểm Tây, giống Cố Đình Lâm, là phần tử tri thức không đầu hàng, ông dạy học ở Quan Trung, do đó về sau mấy người Cố Đình Lâm này, rất hay chạy về Thiểm Tây, ngấm ngầm tổ chức phản Thanh phục Minh. Khang Hy rõ ràng biết hết, hoàng đế ngược lại triệu Lý Nhị Khúc làm quan, tất nhiên Lý Nhị Khúc không làm. Về sau lúc Khang Hy đến Ngũ Đài Sơn cùng tuần sát Thiểm Tây, đặc biệt mệnh lệnh xuống đốc phủ Thiểm Tây, biểu thị tôn sùng tiên sinh Lý Nhị Khúc là nhà đại Nho lúc bấy giờ, là thánh nhân đương thời, nhất định cần tự mình đi bái phỏng Lý Nhị Khúc. Đương nhiên, Lý Nhị Khúc cũng biết đây là Khang Hy chơi một ván cờ cuối cùng, do đó Lý Nhị Khúc nói là bệnh, không thể tiếp giá. Nào biết Khang Hy lại nói không sao cả, vậy thì sẽ đến gần chỗ Lý Nhị Khúc dạy học, đặc biệt nói cần thăm bệnh Lý Nhị Khúc. Như thế này có thể bức Lý Nhị Khúc, nếu Khang Hy đến nhà, Lý Nhị Khúc chỉ cần dập đầu lạy, có thể tính là đầu hàng vậy, đây là vấn đề khí tiết dân tộc của văn hóa Trung Quốc; do đó Lý Nhị Khúc không có cách nào khác phải thể hiện bị bệnh, nằm trên giường, bệnh đến mức không dậy được. Nhưng Khang Hy đến gần chỗ Lý Nhị Khúc, một đội quan viên từ đốc phủ Thiểm Tây trở xuống, đều đi đằng sau hoàng đế, chuẩn bị đi xem bệnh Lý Nhị Khúc. Khang Hy trước hết nghe ngóng một hồi, nói Lý Nhị Khúc thật sự có bệnh, đồng thời, Lý Nhị Khúc cũng không có cách nào khác, đành sai con trai của mình đi gặp Khang Hy, trình bày một hồi. Nhưng Khang Hy rất cao minh, cũng không miễn cưỡng đi Lý gia. Nếu ngược lại, ông nhất định đến Lý gia, Lý Nhị Khúc mắng ông một trận, tất không giết Lý Nhị Khúc không được. Giết rồi, khơi dậy thù ghét dân tộc. Không giết, thì mất sự tôn nghiêm của hoàng đế, không xuống đài được, do đó ông đã không đi. An ủi con trai Lý Nhị Khúc một trận, yêu cầu truyền đạt lại ý tứ của mình, còn giao phó cho quan lại địa phương, cần chiếu cố chăm sóc Lý Nhị Khúc thỏa đáng. Còn nói với họ, vì bản thân là hoàng đế, không thể không quay về kinh thành xử lý triều chính, quan địa phương có thể sớm tối học tập Lý Nhị Khúc, thật là rất có phúc khí. Khang Hy vận dụng lần này, chính là đem mặt tốt của văn hóa Trung Quốc, biến thành quyền thuật của mình. Nhưng việc thật sự làm con người ta cảm khái, là người đời sau, không đem những lỗi này gán vào quyền thuật của Khang Hy, ngược lại đều trút vào người Khổng Mạnh, do đó học thuyết Khổng tử bị đánh đổ, Khổng tử bị mắng chửi, đều quá oan uổng vậy.

Thực sự mà nói, tinh thần đạo hiếu tuyệt đối là đúng, nếu nói lý do đạo hiếu là đúng, thì rất nhiều rất nhiều, hiện tại đang nói về Luận ngữ, không tiếp tục nói ngoài lề quá nhiều, chỉ ở trong phạm vi này mà nêu ra, có thể hiểu “hiếu” có thể trị thiên hạ. Do mỗi người hiếu với cha mẹ mình, mở rộng ra yêu mọi người trong thiên hạ, chính là tinh thần hiếu. Chỗ sâu sắc hơn của tinh thần này, chúng ta xem lại Hiếu kinh, có thể hiểu được.

(i) Nguyên văn: 扩而充之 – kuò ér chōng zhī – khoáng(khoách) nhi sung chi: mở rộng ra phạm vi lớn, làm đầy nội dung. Câu trong sách Mạnh tử.

(ii) Nguyên văn: 慷慨捐躯易,从容就义难

(iii) Nguyên văn: 循环往复 – xún huán wǎng fù – tuần hoàn vãng phục. Sự vật cứ chuyển động một vòng lại một vòng, một lần lại một lần, như không bắt đầu không kết thúc. Câu trong Sử ký

Hàn

 

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.5

孟懿子(1)问孝,子曰:“无违。(2)”樊迟(3)御(4),子告之曰:“孟孙(5)问孝于我, 我对曰无违。”樊迟曰:“何谓也。”子曰:“生,事之以礼;死,葬之以礼,祭之以礼。”

Mèng yì zǐ wèn xiào, Zǐ yuē: “wú wéi”.

Fán chí yù, zǐ gào zhī yuē: “mèng sūn wèn xiào yú wǒ, wǒ duì yuē wú wéi.”

Fán chí yuē: “héwèi yě.” Zǐ yuē: “sheng, shì zhī yǐ lǐ; sǐ, zàng zhī yǐ lǐ, jì zhī yǐ lǐ.”

Mạnh Ý tử (1) vấn hiếu, Tử viết: “Vô vi (2).”

Phàn Trì (3) ngự (4), Tử cáo chi viết: “Mạnh Tôn (5) vấn hiếu ư ngã, ngã đối viết vô vi.”

Phàn Trì viết: “Hà vị dã.” Tử viết: “sinh, sự chi dĩ lễ; tử, táng chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ.”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. Mạnh Ý tử: Đại phu nước Lỗ, thuộc một trong “tam gia” – ba họ tộc lớn (chỉ ba khanh đại phu nước Lỗ họ Quý Tôn, Thúc Tôn, Mạnh Tôn), họ Trọng Tôn, tên Hà Kỵ, “Ý” là thụy hiệu. Phụ thân của ông trước lúc lâm chung yêu cầu ông theo Khổng tử học lễ.
  2. 无违 – vô vi: không nên vi phạm, làm trái.
  3. 樊迟 – Phàn Trì: Họ Phàn tên Tu, tự Tử Trì. Là đệ tử của Khổng tử, nhỏ hơn Khổng tử 46 tuổi. Ông từng cùng Nhiễm Cầu giúp Quý Khang Tử tiến hành cách tân.
  4. 御 – ngự: điều khiển xe ngựa
  5. 孟孙 – Mạnh Tôn: chỉ Mạnh Ý tử.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn ]

Mạnh Ý tử hỏi hiếu là gì, Khổng tử nói: “Hiếu chính là không nên vi phạm, làm trái lễ.” Sau đó Phàn Trì đánh xe ngựa cho Khổng tử, Khổng tử nói với Phàn Trì: “Mạnh Tôn hỏi ta hiếu là gì, ta trả lời là không nên làm trái lễ.” Phàn Trì nói: “không nên làm trái lễ là có nghĩa như thế nào?.” Khổng tử nói: “Khi cha mẹ còn sống, cần theo lễ mà chăm sóc phụng hầu; sau khi cha mẹ mất, cần theo lễ mà mai táng, tế tự.”

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Khổng tử cực kỳ xem trọng hiếu, yêu cầu mọi người tận hiếu đạo đối với bố mẹ của mình, vô luận họ còn sống hay đã mất, đều nên như vậy. Nhưng chỗ trọng yếu ở đây là, lúc tận hiếu không nên làm trái với quy định của lễ, nếu không thì không phải là hiếu chân chính. Có thể thấy, hiếu không phải là chung chung mơ hồ, tùy ý, mà phải theo quy định của lễ, theo lễ mà làm mới là hiếu.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Mạnh Ý tử: Đại phu nước Lỗ, thuộc một trong “tam gia,” họ Trọng Tôn, tên Hà Kỵ. Cha của ông Hy Tử có di mệnh bảo ông học lễ với Khổng tử, là học sinh thời kỳ đầu của Khổng tử. Sau Khổng tử làm chức Tư Khấu ở Lỗ, chủ trương phá thủ phủ của tam gia, Hà Kỵ dẫn đầu kháng lệnh. Người đời sau không liệt Hà Kỵ vào trong các đệ tử của Khổng môn.

无违 – vô vi: Hy tử hiền mà thích lễ, Ý tử chắc rằng không thể tuân thủ cẩn thận sự dạy bảo của phụ thân. Khổng tử dạy theo vô vi – không làm trái, đại loại kỳ vọng [Ý tử] thực hành tốt lệnh của cha, rốt cuộc có thể hoàn thành chí hướng của cha.

樊迟御: Phàn Trì đánh xe cho Khổng tử, Khổng tử đem lời nói với Ý tử nói lại cho Phàn Trì. Không làm trái với lệnh của cha là hiếu, lời này là đặt biệt nói cho Ý tử. Không phải người cha nào cũng hiền, tòng phụ chưa chắc đã  là hiếu. Khổng tử nói lại cho Phàn Trì, đại loại kỳ vọng Phàn Trì có câu hỏi, để có thể giải thích ý nghĩa chưa tận của câu trước.

何谓也 – hà vị dã: Phàn Trì quả nhiên không hiểu rõ mà hỏi lại. Khổng tử liền nói vô vi, [là] không vi phạm vào lễ, có khả năng lấy lễ phụng sự phụ mẫu, đây là hiếu. Cha mẹ có chỗ không hợp lễ, con cái thuận theo sự sai trái của họ là không thỏa đáng, nhất định phải dựa vào sự hợp lễ mà phụng sự phụ mẫu, thì đối với cha mẹ mới là tôn kính hết mức, đây mới là hiếu. Nếu như thuận theo sự phi lễ của cha mẹ, là để cho cha mẹ không đủ tốt, lại tự để bản thân rơi vào phi lễ, đây là nghịch lại cha mẹ vô cùng. Cho nên dạy “vô vi” – không vi phạm lời cha dạy là hiếu, là lời giành riêng cho Ý tử. Không vi phạm lễ là hiếu, là lời giành cho mọi người trong thiên hạ nói chung. Nếu người cha quả thật là hiền, con không vi phạm ý cha, cũng chính là không vi phạm lễ. Khổng tử nói hai lần, ý nghĩa tương thông. Hoặc có thuyết, ở vào thời ba họ tộc lớn tiếm lễ, cho nên Khổng tử đem việc không vi phạm lễ để nhắc nhở Ý tử, hy vọng Phàn Trì truyền đạt lại. Nhưng Khổng tử tại sao lại không nói trực tiếp, mà nhất định phải đợi Phàn Trì hỏi lại mởi chuyển lời truyền đạt? Việc này thường được cắt nghĩa sai đi. Nếu Ý tử có thể không vi phạm lời cha dặn là phải học lễ, thì đã nằm trong số những người cảnh báo việc ba họ lớn tiếm quyền, không phải phiền đến Phàn Trì truyền đạt lại.

Mạnh Ý tử hỏi: “Hiếu đạo là như thế nào?.” Tiên sinh nói: “Không được vi nghịch.” Một ngày, Phàn Trì đánh xe cho tiên sinh, Tiên sinh kể cho Phàn Trì: “Mạnh Tôn hỏi ta về hiếu đạo, ta trả lời là không được vi nghịch.” Phàn trì nói: “Như thế ý là gì?” Tiên sinh nói: “Lúc cha mẹ còn sống, theo lễ mà phụng sự cha mẹ. Lúc cha mẹ mất đi, theo lễ để mai táng, theo lễ để tế tự.”  

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]   

Như phần này, chúng ta không cần theo phân chia của Tống Nho như thế này, mà đem bỏ đi cho rồi. Đây là hậu nhân phân chia ra , là không đúng, trên chia ra 1 lần, dưới lại chia ra thêm 1 lần nữa, kết quả biến thành giáo điều. Kỳ thực là ở đây là đoạn nối liền thông suốt, cũng chính là phát triển ý của “vi chính dĩ đức” ở phía trước, đem tinh thần đạo hiếu của văn hóa Trung Quốc, mở rộng ra lĩnh vực đối nhân xử thế, Trung Quốc từ cổ đến nay, các nhà đại chính trị trong nhà ngoài ngõ đều giữ một lòng không cẩu thả, chính là từ xuất phát điểm này mà bồi dưỡng nên.

Trước hết chúng ta giải thích câu chữ. Mạnh Ý Tử không nhất định là học trò của Khổng tử, mà là mối quan hệ ở giữa học trò và bạn bè, ông là đại phu nước Lỗ. “Đại phu” lúc đương thời, là một cấp bậc quan tương đối cao. Miễn cưỡng so sánh, như cấp thành viên nội các hiện nay, đều gọi là “đại phu.” Đại phu là cấp (bậc)  quan, không phải chức quan. Các loại cấp bậc chức vụ quan của Trung Quốc, qua các thời đều có biến động. Nếu chúng ta muốn hiểu các biến đổi hình thái chính trị qua các thời đại, cần đọc “Thập Thông” hoặc “Tam Thông” – thông chí, thông hiến, thông khảo. Nội dung không chỉ bao quát các diễn biến chế độ chính trị, quan chức, và mọi diễn biến khác của Trung Quốc, thậm chí nghiên cứu tư tưởng chủ nghĩa tam dân hiện đại, quốc phụ [Tôn Trung Sơn] tại sao lại chọn dùng chế độ ngũ quyền phân lập, đều có mối quan hệ sâu sắc với văn hóa “Tam Thông”, “Thập Thông.” Ở đây đang nói về chức vụ địa vị của Mạnh Ý tử, thuận tiện kể ra.

Nếu Mạnh Ý tử đã là nhân vật như vậy, theo lập trường lúc bấy giờ của Khổng tử mà nói, đoạn hội thoại này, rốt cuộc là Khổng tử trước khi làm Tư Khấu của nước Lỗ, hay sau khi làm nói, rất khó để khảo chứng. Địa vị của Khổng tử lúc đương thời ở trường quốc tế – tức là giữa các chư hầu, rất đặc thù, là một nhân vật kiệt xuất. Cho nên Mạnh Ý tử đến hỏi Khổng tứ hiếu là gì, Khổng tử chỉ nói  “không được vi phạm làm trái.” Nếu như theo câu này mà xem xét, Khổng tử nói lời vô cùng giảo hoạt không thành thật. Không được vi phạm làm trái cái gì? Không có phần tiếp theo. Đây là một lời đáp rất kỳ lạ, tiếp phía sau, lại là một màn đối thoại hình thức ngắn gọn. Chúng ta đọc Luận ngữ, đi sâu vào, rất thú vị, như đọc tiểu thuyết, không nhất thiết phải dùng thái độ nghiêm trọng để đọc.

“Phàn Trì ngự” – Phàn Trì là học trò của Khổng tử, tên là Phàn Tu, tự Tử Trì, nhỏ hơn Khổng tử 36 tuổi, là lứa thanh niên. “Ngự” là điều khiển xe. Mạnh Ý tử vừa mới đến bái phỏng Khổng tử, thỉnh giáo vấn đề đạo hiếu là gì, Khổng tử nói “không được vi phạm làm trái,” chỉ có mộ một câu như vậy. Qua một lúc Khổng tử đi ra ngoài […], do học trò trẻ là Phàn Trì đánh xe [bỏ mấy câu dông dài].

“Tử cáo chi viết” là miêu tả Khổng tử ở trên xe đặc biệt kể cho Phàn Trì một việc: “Mạnh Tôn hỏi ta về hiếu, ta trả lời: không vi phạm.” Mạnh Tôn là hiệu của Mạnh Ý tử, do ông là người có địa vị tương đối cao trong triều đình, nên trong chính giới đương thời mà nói, cũng tính là một nhân vật vai vế, do đó Khổng tử đối với ông tương đối tôn kính, nên chỉ gọi ông bằng tên hiệu. Khổng tử nói, Mạnh Tôn hỏi ta hiếu là gì, ta trả lời là “vô vi – không được vi phạm làm trái.” [Lại bỏ một phần dông dài và không quan trọng lắm].

Không được vi phạm làm trái, ý nghĩa rất đơn giản. “Sinh, sự chi dĩ lễ.” Chữ “sự” là cổ nhân dùng khi người dưới nói về người trên. Khổng tử nói, khi cha mẹ còn sống, chúng ta cần phải hiếu kính họ. Làm việc dĩ lễ là như thế nào? Rất khó nói, lễ này không phải là gặp bố mẹ liền hành lễ là hiếu. Lễ này là bao quát mọi yêu thương, chăm sóc trong đời sống. (Đạo lý này, về sau chúng ta sẽ có cơ hội nói riêng về lễ, ở đây tạm không nói đến.) Lại nói: “tử, táng chi dĩ lễ.” Do đó lễ là một khái niệm cơ bản vô cùng quan trọng trong văn hóa Trung Quốc, thấy chữ lễ này, tuyệt không thể dùng nghĩa hẹp là lễ mạo để giải thích. Sau khi mất lại phải “tế chi dĩ lễ.” Chúng ta nghiên cứu đoạn này, dường như không có gì đáng ngạc nhiên, nhưng ghi lại đoạn hội thoại này vào trong Luận ngữ, đến cuối cùng là có ý nghĩa gì? Đối với Vi chính có quan hệ như thế nào?

Chúng ta trước hết hãy đặt các vấn đề này sang một bên, xem tiếp đến đoạn sau, về sau mới tổng hợp lại để nghiên cứu.

Hàn

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.11

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.11

1.11. 子曰:“父在,观其志;父没,观其行;三年无改于父之道,可谓孝矣。”

Zǐ yuē :“fù zài ,guān qí zhì ;fù méi ,guān qí xìng ;sān nián wú gǎi yú fù zhī dào ,kě wèi xiào yǐ 。”

Tử viết: “phụ tại, quan kì (1) chí; phụ một, quan kì hành (2); tam niên (3) vô cải ư phụ chi đạo (4), khả vị hiếu hĩ.”

(1) 其 – qí – kì: của anh ta (his), chỉ người con, không phải chỉ người cha.

(2) 行 – xíng – hành: chỉ hành vi cử chỉ các loại.

(3) 三年 – sān nián – tam niên: đối với số từ mà người xưa nói không nhất thiết phải lý giải một cách cơ giới, chỉ nói cần trải qua một khoảng thời gian dài là đủ, không nhất thiết là thời gian 3 năm.

(4) 道 – dào – đạo: có lúc là danh từ có ý nghĩa chung chung, bất luận tốt hay xấu, thiện hay ác đều có thể gọi là đạo. Nhưng rất nhiều lúc là danh từ mang nghĩa tích cực, ngụ ý những thứ thiện, tốt. Ở đây ý tứ là “nội dung hợp lý.”

[Giải nghĩa câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: Khi cha của anh ta còn tại thế, (do anh ta không có quyền hành động độc lập), cần quan sát chí hướng của anh ta; Sau khi cha của anh ta mất, cần kiểm tra xem xét hành vi của anh ta. Nếu như anh ta đối với các việc hợp lý của người cha, trong một thời gian dài không sửa đổi gì, người như thế này có thể gọi là tận hiếu vậy.

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Chương này như trước nói về vấn đề liên quan đến “hiếu,” cụ thể hóa chữ “hiếu.”  Lỗ Tấn từng nói: “chỉ cần là người tư tưởng không bị đóng kín, bế tắc, ai chẳng muốn con cái so với mình mạnh khỏe hơn, kiên cường hơn, thông minh cao thượng hơn,… hạnh phúc hơn; chính là vượt qua bản thân, vượt qua quá khứ. Vượt qua có nghĩa là cần phải cải cách sửa đổi, do đó con cháu đối với đối với việc của tổ tiên, nên sửa đổi, ‘tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu hĩ,’ đương nhiên là không đúng, là nguyên nhân sâu xa của sự quẩn quanh, sa sút, thụt lùi.”

Trong chương này Khổng tử nói một người sau khi cha mất, trong ba năm không thể sửa đổi những quy tắc do người cha đặt ra, đây gọi là tận hiếu. Kỳ thực, loại hiếu này, phiến diện cường điệu sự quy thuận của người con với người cha. Chú thích của các nhà Tống Nho nói, nếu không thể “vô cải ư phụ chi đạo,” hành động dù thiện lương cũng không thể coi là hiếu. Như thế, “vô cải ư phụ chi đạo” liền biến thành điều thiện lớn nhất, nếu không thì không thiện. Nguyên tắc phán định (phán xét quy định) kiểu này, chính như Lỗ Tấn nói, là sai trái. Lịch sử phát triển, xã hội tiến bộ, tư tưởng quan niệm, ngôn hành cử chỉ của con người đều không thể cố định ở tiêu chuẩn của ngày xưa, “thanh xuất ư lam nhi thắng ư lam” – màu lam bắt nguồn từ màu xanh nhưng xanh hơn cả màu xanh, thế hệ sau vượt qua thế hệ trước, đây là điều tất nhiên của lịch sử.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Tam niên vô cải ư phụ chi đạo: đạo – như việc, sự việc (chỉ sinh hoạt, hoạt động con người chung- YL). Nói đạo là dùng từ tôn kính khi nói về người cha. Chương này là nói về quan hệ phụ tử, nên nói đạo nói việc, đều là việc gia đình. Như kinh phí cho các lễ đội mũ, kết hôn, mai táng, tế lễ, việc tặng quà thăm hỏi trong các dịp hôn lễ hay đối với họ hàng, tiết kiệm hay chi tiêu cho việc ăn mặc, quy định lề lối khuôn phép cho các việc quanh năm, người con có hiếu không nỡ gấp rút thay đổi các quy định của người cha lúc còn sống. Hoặc là, theo thể lệ chuẩn tắc xưa, cha mất, con không vội vàng thân chính (đích thân cai trị, trị lí), trao chính sự cho tể tướng, ba năm không nói đến chính sự, đây là cái gọi là để tang ba năm. Tân quân (vua mới) trong lễ tang, đang vô cùng bi thương, không còn lòng dạ mà hỏi chính sự, lại do đột nhiên kế thừa ngôi vị, chưa có kinh nghiệm, nên sẽ im lặng không nói, không tùy tiện và thay đổi quy định của cha. Đây cũng là một cách hiểu. Chương này nói về cha con nói chung, không phải là nói riêng về bậc quân chủ.

Luận ngữ văn từ giản ước, dễ giải thích theo nhiều kiểu. Như chương này hoặc là chuyên giành cho quý tộc lúc đương thời, không phải cho dân thường. “Vô cải phụ đạo” – không sửa đổi đạo của cha, là chỉ thực thi chính trị, không phải chỉ hành vi sinh hoạt thông thường. Nếu không lúc người cha còn sống, người con chẳng lẽ lại không có hành vi thông thường, mà chỉ nói “quan kì chí” – xem chí hướng của anh ta? Hoặc là nói quan hệ cha con nói chung, chú trọng vào chữ “đạo” này. Nếu như hành vi của người cha là đạo, người con suốt đời tuân theo cũng là thích hợp. Nếu như không phải là đạo, việc gì phải chờ tận 3 năm? Hoặc là từ 3 năm này tìm hiểu, nếu như 3 năm không thay đổi, tất cả đời sẽ không đổi. Phân tích ra thật nhiều điều nghi vấn. Do đó những lời trong Luận ngữ, nguyên để học về quá khứ, cũng là để thông hiểu về hiện tại. Để tìm đến chính đạo, cũng là để phù hợp với thường tình. Nếu theo thuyết để tang ba năm, là chuyên khảo cứu về những cái chưa được của ngày xưa. Nếu nói hành vi của người cha không phải là đạo, tại sao lại phải đợi đến ba năm, đây là chuyên luận giải về cái chưa được của ý nghĩa của chương. Kì thật chương này của Khổng tử, là điều các gia đình ngày nay mong mỏi, người có thể tuân theo đạo này, nguyên là vẫn có. Ở đây không phải là không phù hợp với thường tình (i), cũng không phải là trái với chính đạo. Tấm lòng của người có hiếu, tự nhiên là hiểu điều này. Khổng tử xuất phát từ nhân tâm (trái tim con người/lòng người) mà thiết lập nên việc giáo dục, nếu cứ đòi hỏi cao xa(ii), sẽ thành làm mất đi ý nghĩa chân chính của chương. Người học cần cẩn thận làm rõ vậy.

(i) Nguyên văn là bất cận nhân tình. Còn bất cận nhân tình là gì thì mời vào Danh sách Thành ngữ Tục ngữ I để tham khảo J

(ii) Hảo cao vụ viễn – 好高鹜远 – hǎo gāo wù yuǎn: chữ vụ, nguyên nghĩa là con vịt trời, phải tra từ điển tiếng Trung ở cấp độ tinh vi, mới thấy còn làm động từ, nghĩa mở rộng là truy cầu. Câu này có nghĩa là thích truy cầu những thứ cao xa, dùng để chỉ không tự lượng sức, không theo thực tế mà xử lý sự việc, chỉ theo những thứ xa vời không thiết thực.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Giải thích của một số tiền bối đối với câu này, cũng là lầm lẫn. Họ nói xem một người, khi cha mẹ còn sống thì xem chí hướng của anh ta, khi  cha mẹ mất thì  xem hành vi của anh ta, trong vòng ba năm, nếu không thay đổi các chuẩn mực nguyên tắc do cha mẹ từng thực hành, người này có thể gọi là có hiếu. Vấn đề là, giả sử bố mẹ hành vi không đoan chính, sống bằng ăn cắp ăn trộm, người con không muốn làm trộm cắp, nhưng vì đạo hiếu, liền không thể không làm trộm cắp ba năm. Như thế này, không phải là không có vấn đề sao? […]

Chữ 志 – “chí”  trong “phụ tại quan kì chí,” chữ “chí” trong sách vở của người xưa có ý nghĩa là “ý chí,” bao gồm cả tư tưởng, thái độ. Chúng ta đều từng làm con, đều có kinh nghiệm này: trước mặt cha anh, nghe những lời phân phó giáo huấn, đều dạ dạ vâng vâng, nhưng quay lưng đi, liền cùng bạn học, bạn bè nhăn mặt nhăn mày, tỏ ý không nghe. Do đó, “phụ tại quan kì chí” câu này, là nói lúc ở trước mặt cha mẹ, cần ngôn hành nhất trí – lời nói hành động thống nhất. Khi cha mẹ không ở trước mặt, sau lưng cha mẹ, cho đến lúc cha mẹ mất đi, đều cần lời nói hành động như một, thành khẩn, thật thà, nói không tiếp thu là không tiếp thu. Nếu như làm người tốt liền làm đến cùng, cha mẹ mất rồi, trong vòng 3 năm, không thay đổi đạo của cha, nói được làm được, qua thời gian ba năm dài như thế này, tình cảm không phai nhạt, lời nói hành động thống nhất, hành xử nhất quán, đây chính là hiếu tử – người con có hiếu.

[Bình luận của YL]

Trước hết lại phải than vãn về phần bình giải của Tiền Mưu. Văn chương quá khó hiểu, câu cú không chủ ngữ không vị ngữ, từ ngữ lạ đời, để hiểu và dịch được một phần bình luận của học giả này, khéo bằng đọc cả 1 thiên Luận ngữ. Chưa kể dịch ra, cũng không rõ là có đúng nghĩa hay không. Không phải mỗi ta kêu, mà đến các bạn TQ cũng phải kêu.

Hôm nọ thâý một bình luận trên mạng, nhưng tiếc quá không giữ lại, đại ý nói. Dương Bá Tuấn coi Luận ngữ như cơ thể con người, đem ra phẫu thuật, mổ xẻ phân tích. Còn Tiền Mưu coi như cha mẹ, đặt lên bàn thờ mà phân tích. Hì.

Quay lại chương này, chủ yếu cũng vẫn là ở một chữ “đạo.” Từ cách phân tích khoa học mà học được của người phương Tây, phải đặt câu hỏi “nội hàm” của đạo là gì? hay nói cách khác, đạo bao gồm những gì? và không bao gồm những gì? Cái này chưa học giả nào liệt kê ra được cho thỏa mãn lòng học hỏi của người học.

Nếu nói tất cả mọi thứ của người cha, miễn là tốt đều gọi là đạo, nhưng thời thế thay đổi, xã hội thay đổi, có những thứ một vài chục năm trước tính là tốt, nhưng một vài chục năm sau lại không thể coi là tốt, như thế có nên giữ hay không? (Bình luận của Dương Bá Tuấn thiên theo hướng này)

Nhưng có những thứ, trước sau vẫn vậy, nếu đời sau quá thiên về cải cách, đổi mới, mà không giữ được những thứ tốt đẹp của đời trước truyền lại, như thế cũng có nên hay không? (Bình luận của Tiền Mưu thiên theo hướng này).

Chính vì không làm rõ nội dung của đạo, nên bảo nhất nhất cái gì cũng theo xưa mà làm, người thời nay khó ai có thể phục, nhưng nếu bảo giữ những cái tốt, còn hợp thời, thì lại phải đặt câu hỏi, cụ thể là những cái gì?

Không rõ các nhà Nho hiện đại, đã giải quyết vấn đề này chưa?

Vẫn là Hàn Sinh

 

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.9

Thiên 1. Học nhi. Chương 1.9

1.9. 曾子曰:“慎终追远,民德归厚矣。”

Zēng zǐ yuē :“Shèn zhōng zhuī yuǎn ,mín dé guī hòu yǐ 。” 

Tăng tử viết: “Thận chung (1) truy viễn (2), dân đức quy hậu hĩ.”

[Dịch câu – Dương Bá Tuấn]
Tăng tử nói: cẩn thận xử lý việc cha mẹ qua đời, truy niệm các đời tổ tiên, tự nhiên sẽ khiến cho lão bách tính trung hậu thật thà.

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]
1. Thận chung -慎终 – Shèn zhōng: Chú thích của Trịnh Huyền: “老死曰终?” (già mất gọi là chung). Có thể thấy chữ “chung” là chỉ cha mẹ qua đời. Nội dung của thận chung, “Luận ngữ chính nghĩa” của Lưu Bảo Nam dẫn lời của Tăng tử trong “Đàn cung” là chỉ các việc khâm liệm, mai táng cần thành tâm thành tín, không sẽ hối hận.
2. Truy viễn – 追远 – zhuī yuǎn: nói cụ thể là chỉ “tễ tự tẫn kì kính” – trong việc tế tự cần tận lòng tôn kính. Hai chú thích này đều suy từ mặt chữ mà ra.
[Luận ngữ tân giải – Tiền Mục]

Thận chung: chung, từ ngữ chỉ tang lễ. Người mất sẽ không quay lại, hơn nữa càng đi càng xa. Nếu như lễ tiễn người đi  mà không làm hết sức, sau có hối cũng không kịp, do đó cần làm cẩn thận.

Truy viễn: viễn, từ ngữ chỉ tế lễ. Người đã mất cách ta lâu rồi, vẫn có thể luôn nhớ đến không quên, mà sau đó làm lễ tế. Con người ở cùng với nhau, dễ sinh lòng tính toán so đo công danh lợi lộc, mà tình thâm ý trọng đáng ra phải có giữa người với người, cũng thường bị che khuất đi không dễ thấy. Nay đối với người đã mất, trước chỉ có  tình nghĩa, sau càng không nhận được báo đáp gì [mà vẫn nhớ đến và tế bái – YL], thì càng thấy độ sâu đậm của tình ý trong đó. Do đó làm lễ tang và lễ tế mà dùng tận bi ai và thành tâm, có thể khai mở, phát dương nhân tâm (人心 – lòng người/ trái tim của con người), khiến cho đạo đức của con người hàng ngày đều hướng về sự đôn hậu (thật thà trung hậu).

Nho gia không đề xướng tín ngưỡng tông giáo, cũng không chủ trương tồn tại linh hồn sau khi chết, nhưng vẫn cực kỳ coi trọng lễ tang tế bái, vì đây là một biểu hiện của thứ tình cảm  chân thực thuần khiết nhất trong việc sinh tử, chính là thứ mà Khổng tử gọi là 仁心 -“nhân tâm” và 仁道- “nhân đạo” (lòng nhân/đạo nhân)(i). Khổng môn thường lấy việc giáo dục con người ta đức “hiếu” để đạt được đến “nhân tâm” của nhân loại. Lễ tang tế bái, là biểu hiện cuối cùng của đạo hiếu. Đối với người mất có thể tận chân tình, từ chỗ người mất không đạt được lợi ích thực tế nào, từ chỗ người sống cũng không hy vọng báo đáp nào, việc này vượt ra ngoài phạm vi của tính toán công danh lợi lộc, do đó càng thấy tình ý chân thực. Biết rõ người đã mất rồi, mà không nhẫn tâm đối đãi chung chung, điều này tức là thứ mà Mạnh tử gọi là “bất nhẫn chi tâm.” Đối với người đã mất rồi mà còn không thể nhẫn tâm, thì đối với người vẫn sống có thể biết thế nào rồi. Cho nên một Nho giả có thể theo lý và trí mà nói rằng, mặc dù không khẳng định người sau khi mất đi có ma quỷ hay không, nhưng vẫn từ chỗ tình cảm sâu sắc nhất của  con người mà thiết lập việc giáo dục,  mà tuân theo việc thận chung truy viễn,  xác thực cũng là điều bắt buộc. Chương này của Tăng tử, là một phần của việc đề cao đạo nhân của Khổng môn vậy.

Câu này có thể diễn giải là,

Tăng tử nói: đối với lễ tang người mất có thể cẩn thận, đối với người mất đã lâu có thể không ngừng nhớ đến, như thế có thế làm cho phong tục đạo đức của xã hội hàng ngày đều hướng theo sự trung hậu thành thật. 

(i) Chú ý hai chữ “nhân” khác nhau. Chữ nhân trong 人心 -“nhân tâm” là chỉ con người. Chữ nhân trong 仁心 -“nhân tâm” – lòng nhân và 仁道 ” – nhân đạo” – đạo nhân, cũng là chữ nhân trong “nhân nghĩa lễ trí tín” mà chúng ta hay nói, là giá trị  đạo đức, khoan dung, thương yêu người khác, thiện lương, vân vân và vân vân. 

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Cách giải thích của người xưa với câu này, ta cũng có chút ý kiến. Giảng đến đạo hiếu, thời xưa giảng về đạo hiếu trong văn hóa của Trung Quốc,  nguyên là rất quan trọng, chúng ta thấy trong lịch sử tấu sớ gửi lên hoàng đế, thường có câu “thánh triều dĩ hiếu trị thiên hạ” – triều ta lấy hiếu trị thiên hạ (i). Giống như là cơ sở tinh thần của hiến pháp, thời xưa chúng ta không có danh từ “hiến pháp”, nhưng có tinh thần này  – tinh thần triết học của hiến pháp, lấy đạo hiếu làm cơ sở, làm trung tâm. Do đó các hoàng đế thời xưa, quyền khuynh thiên hạ (ii), một khi về nội cung, gặp mẫu hậu, hoàng đế cũng phải quỳ xuống, hoàng thái hậu đối với một vấn đề nào đó nói một câu không nên, hoàng đế liền không thể không thay đổi (nhưng ở nội cung, mẫu hậu tất không can dự triều chính). Dĩ nhiên, chúng ta trước giờ luôn lấy hiếu trị thiên hạ, nhưng gượng ép lôi vào để giải thích, cũng không đúng, người xưa đã giải thích “thận chung truy viễn” là đạo hiếu. Do đó ngày xưa ở đại lục, trên bài vị tổ tông đặt trong phòng thờ của người ta, luôn là 4 từ “thận chung truy viễn,” đây chính là do người xưa giải thích “thận chung truy viễn” là lời riêng dành cho đạo hiếu. Họ giải thích như sau: cẩn thận đối với người đã mất, là nói đối với người đã mất, tiền nhân đã mất, chúng ta phải hoài niệm họ (nhớ đến/ nghĩ đến). “Dân đức quy hậu hĩ,” được giải thích là, nếu như ai cũng có thể hiếu thuận với cha mẹ, hiếu với tổ tông, phong tục xã hội có thể trở nên nhân hậu.

Ở đây có vấn đề là,  ý tứ thì đúng, nhưng giải thích khiên cưỡng. Tại sao lại trích dẫn câu này của Tăng tử mà thực chất nói về học vấn? “Thận chung truy viễn” có ý nghĩa gì? “终-Chung” là kết quả, “远-viễn” là nguyên nhân rất xa, dùng một câu theo quan niệm hiện đại để nói là có thể giải thích ngay, “một người nếu hy vọng có một kết quả tốt, không bằng có một mở đầu tốt.” Muốn cẩn thận đối với kết quả, trước hết cần truy về nguyên nhân sâu xa, kết quả của mỗi việc, đều là do nguyên nhân sâu xa mà nên, ở đây chúng ta có thể trích dẫn một câu Phật học: Bồ tát úy nhân, phàm phu úy quả – Bồ tát sợ nhân, phàm phu sợ quả (iii). Bồ tát của Phật gia, đại loại như thánh nhân của Nho gia Trung Quốc, bậc thánh nhân cực kỳ coi trọng động cơ của một sự việc. Ví dụ có một người bạn đến rủ ta làm ăn, động cơ của anh ta, cũng tức là nguyên nhân ban đầu, chúng ta cần phải chú ý, có thể là nguyên nhân tốt, cũng có thể là nguyên nhân xấu, nếu như là nguyên nhân xấu, liền bảo ta làm giám đốc, tương lai nếu phải ngồi tù cũng là ta, nếu như vậy thì nguyên nhân này ta cần chú ý, do đó bồ tát chính là sợ “nhân” này. Còn “phàm phu” – người bình thường/phổ thông sợ “quả,” giống như người phạm tội tử hình đến khi chấp hình mới hối hận, hậu quả này đến rồi anh ta mới biết sợ. Cần chú ý người có học vấn, đối với mỗi sự việc, lúc có động cơ cần chuẩn bị tốt, cũng như vừa mới nói, muốn có kết quả tốt, không bằng có khởi đầu tốt, cũng có ý là lúc bắt đầu cần thận trọng.

Do đó ý nghĩa của “thận chung truy viễn,” là nói bất kỳ vấn đề gì nếu muốn kết quả tốt, cần có khởi đầu tốt, văn hóa phương Tây có một câu tục ngữ: khởi đầu tốt đã là thành công một nửa (iv), cũng chính là đạo lý này. Tất cả mọi người đều đều hiểu đạo lý này, liền “dân đức quy hậu hĩ.” Phong tục đạo đức xã hội, tự nhiên đều hướng về nhân hậu nghiêm cẩn (nghiêm túc, cẩn thận). Đây là đạo lý của học vấn.

(i) thánh – 圣 – shèng: là từ thánh trong thánh nhân, thần thánh, cũng là từ tôn xưng vua chúa hoàng đế.

(ii) Quyền khuynh thiên hạ – 权倾天下: quyền lực khuynh đảo thiên hạ – có thể làm nghiêng ngửa thiên hạ.

(iii) Bồ tát úy nhân, phàm phu úy quả -菩萨畏因,凡夫畏果 – Bồ tát sợ nhân, phàm phu sợ quả.

(iv) Ta thấy câu này: A good beginning makes a good ending; the beginning is the half of every action.

[Nhận xét của YL]

Dương Bá Tuấn/Tiền Mục giải nghĩa “đức” dày thành “trung hậu, thật thà.” Có vẻ như trong Nho giáo, rất coi trọng các giá trị này, lấy đây làm nền tảng cho việc tu tâm dưỡng tính, làm người tốt, nền tảng của đạo đức, của đức nhân. Các mối quan hệ bắc cầu, mạng lưới: hiếu- trung – trung hậu – thật thà- nhân đức- đạo đức, thật là phức tạp, làm người học loạn hết cả lên 🙂

Đoạn phân tích của Tiền Mục tiền bối, viết như lối văn cổ, thật khó hiểu, làm ta vò đầu bứt tai cả tuần, rất có tính gây trầm cảm.

Riêng cách giải thích của Nam Hoài Cẩn là khác với mọi người khác, cũng tức là khác so với số đông. Nếu đặt câu “thận chung truy viễn, dân đức quy hậu hĩ” riêng biệt, ta thấy cách giải nghĩa của Nam tiền bối có lý. Khi đọc cách giải thích của người khác, từ cẩn thận việc tang lễ mà suy ra tận đức hạnh của nhân dân sẽ đôn hậu hơn, quả có thấy con đường suy diễn hơi lắt léo (hoặc do đạo hiếu của ta không đủ, nên không thấy được sự tinh vi vi diệu trong đó). Tuy nhiên do vốn kiến thức ít ỏi, ta không dám khẳng định là cách giải nghĩa này có đúng với tinh thần của Tăng tử hay không, bởi vì để khẳng định, cần phải đọc rất nhiều sách vở thời xa xưa, để xem thời đó, người ta hay dùng từ “chung” với “viễn” theo nghĩa gì, cha mẹ mất – tổ tiên, hay là kết quả – nguyên nhân, hay có những câu nào tương tự hay không…

Tốt nhất vẫn là, “to each according to his needs” hả, hôm nay ta Marxist dễ sợ, 🙂

Si

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.6

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.6

1.6. 子曰:“弟子入则孝,出则弟,谨而信,泛爱众,而亲仁,行有余力,则以学文。”

Zǐ yuē :“dì zǐ ,rù zé xiào ,chū zé tì ,jǐn ér xìn ,fàn ài zhòng ,ér qīn rén , xíng yǒu yú lì ,zé yǐ xué wén 。”

Tử viết: Đệ tử (1) nhập (2) tắc hiếu, xuất (2) tắc đễ, cẩn (3) nhi tín, phiếm ái chúng, nhi thân nhân (4), hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn.

[Dịch câu – Dương Bá Tuấn]
Khổng tử nói:những người hậu bối trẻ tuổi, ở trước mặt cha mẹ, thì hiếu thuận cha mẹ; ra khỏi nhà mình, cần kính trọng yêu quý bậc huynh trưởng, ít lời ít tiếng, khi nói cần thành thực đáng tin, cần yêu tất cả mọi người, thân cận những người có nhân đức. Sau khi tự mình thực hành(i) những điều này, nếu vẫn còn dư lực, thì học tập văn hiến tri thức.

(i) cung hành thực tiễn -躬行实践 – gōng xíng shí jiàn: tự mình thực hành hoặc thể nghiệm, xuất xứ từ thời Nguyên.

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 弟子- dì zǐ – đệ tử: thường có hai loại ý nghĩa: một là chỉ người tuổi tương đối nhỏ, hai là chỉ học sinh. Ở đây là dùng theo ý nghĩa thứ nhất.
  2. 入- rù, nhập; 出 – chū – xuất: ‘Lễ ký. Nội tắc’ viết: 由命士以上,父子皆异宫 – do mệnh sĩ dĩ thượng, phụ tử giai dị cung: noi theo cấp sĩ trở lên, cha con đều ở nhà/phòng khác nhau. Vì vậy biết “đệ tử” ở đây là chỉ những người “mệnh sĩ” (cấp bậc sĩ) trở lên. “Nhập” là “nhập phụ cung” (vào nhà của cha), “xuất” là “xuất tử cung” (ra khỏi nhà của con). (Đẳng cấp cổ đại: thiên tử, chư hầu, đại phu, sĩ và thứ dân. Sĩ trở lên là cấp bậc được thụ phong. Ngày xưa nhà nào cũng gọi là cung, từ thời Tần, Hán trở đi chỉ nhà của vua ở mới gọi là cung. YL).
  3. 谨 – jǐn – cẩn: quả ngôn (nói ít) gọi là cẩn.
  4. 仁 – rén – nhân: chỉ “người nhân”, người có nhân đức.

 [Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Cổ đại gọi học sinh là “đệ tử,” thầy giáo thời cổ đại đối với học sinh, xem như con em của mình. Quan hệ thầy giáo – học sinh như quan hệ cha con, có tình trạng là “一日从师,终身若父” – nhất nhật tòng sư, chung thân nhược phụ – một ngày theo thầy, cả đời coi như cha, mà thầy giáo đối với học sinh, cũng gánh trách nhiệm cả đời […].

Khổng tử nói một người học sinh “nhập tắc hiếu,” ở trong nhà phải là một người con có hiếu (như thế nào gọi là hiếu, rất nhiều phần tiếp theo sẽ giảng về hiếu đạo, ở đây tạm không bàn luận). “Xuất tắc đễ,” ra khỏi nhà, không ở cùng với anh em, thì đễ như thế nào? Chính là ở bên ngoài, đối với bạn bè, với xã hội, với mọi người nói chung đều phải thân ái, mở rộng ra là yêu nước, yêu thiên hạ, đều là ý nghĩa của chữ “đễ” này.

“Cẩn nhi tín,” làm người vô cùng cẩn thận, nhưng khi nói đến chữ “cẩn” cần chú ý, không nên biến thành nhỏ nhen. Cẩn thận và cố chấp câu nệ là hai việc khác nhau, có một số người vô cùng câu nệ, đến quá mức thì thành nhỏ nhen. Trong lịch sử có một tấm gương về cẩn thận, chính là một nhân vật được chúng ta vô cùng sùng bái là Gia Cát Lượng. Mới có câu là “Gia cát nhất sinh duy cẩn thận, Lã Đoan đại sự bất hồ đồ” – Gia Cát cả một đời luôn cẩn thận, Lã Đoan làm việc đại sự không hồ đồ (i). Đây là một câu đối nổi tiếng, cũng là một cách ngôn rất hay (ii). Lã Đoan là một tể tưởng nổi tiếng thời Tống, nhìn vào thì tưởng ông ta ngu đần, nhưng kỳ thực ông ta không hề ngu, mà đây là tu dưỡng của ông ta, khi phải xử lý đại sự, khi gặp chỗ then chốt trọng yếu, ông ta tuyệt đối không cẩu thả tùy tiện. Còn Gia Cát Lượng cả một đời làm việc đều ở một chữ cẩn thận, nếu cần tìm một tấm gương cẩn thận tốt nhất, chúng ta có thể nghiên cứu về Gia Cát Lượng, ở đây sẽ không nêu rõ.

Tóm lại, cái gọi là cẩn thận không thể biến thành nhỏ nhen, điểm này khi tu dưỡng cần chú ý, còn một người có thể cẩn thận xử thế mà giữ được tín, tức là giữa người với người, giữa người với xã hội, đều phải nói mà giữ được lời. Đồng thời cần phải “phiếm ái chúng,” có tấm lòng vĩ đại, có thể yêu mọi người […]. Về lý thuyết thì rất dễ, nhưng yêu tất cả mọi người, đó là tổng hợp của “quân đạo” và “sư đạo,” yêu người thiên hạ như yêu chính bản thân mình, lý thuyết dễ, nhưng tu dưỡng đạt đến trình độ này rất khó. Khổng tử nói, giả sử một người làm được việc này, “nhi thân nhân,” thân cận làm bạn với người có học vấn đạo đức, “hành hữu dư lực tắc dĩ học văn,” còn thừa tinh lực thì “học văn,” tức là thích làm văn học, khoa học, nghệ thuật hay lĩnh vực nào đi nữa đều có thể, đó là chí hướng, là sở thích của từng người, có thể lượng sức mình mà làm, ai cũng có thể tự do chọn.

(i) Lã Đoan, hay Lữ Đoan

(ii) Cách ngôn: câu nói ngắn gọn, có thể dùng làm phép tắc noi theo, châm ngôn.

[Nhận xét của YL]

Tiên học lễ, hậu học văn là ở đây?

Ta hiểu phần đầu của câu này như sau: ở nhà cần hiếu thuận với bố mẹ, ra đường cần lấy sự chân thành đáng tin cậy mà đối đãi người khác, lời nói phải thận trọng, không trí trá, nói ít, không cần nhiều lời nhưng lời nói việc làm đi đôi với nhau, nói được làm được, yêu thương tất cả mọi người nhưng nên tìm người nhân đức mà thân cận.

Phần bình luận của Nam Hoài Cẩn ta không dịch hết, bỏ mấy mấy cái ví dụ, với một phần tổng kết là có 3 loại đạo: quân đạo, thần đạo, và sư đạo. Nhưng có thể thấy, “nhập tắc hiếu” của Nam Hoài Cẩn, là hiếu với cả cha mẹ và thầy giáo, còn “xuất tắc đễ,”là đối với bạn bè, với xã hội, không phải như Dương Bá Tuấn, đối với cha mẹ là hiếu, đối với thầy giáo là đễ.

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: