Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.11

子曰:“温故而知新(1),可以为师矣。”

Zǐ yuē:  “wēn gù ér zhī xīn, kěyǐ wéi shī yǐ.”

Tử viết: “Ôn cố nhi tri tân (1), khả dĩ vi sư hĩ.”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 温故而知新 – wēn gù ér zhī xīn – ôn cố nhi tri tân: cố, đã qua rồi; tân, tri thức vừa mới học được.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “lúc ôn tập kiến thức cũ, có thể có lĩnh hội mới, phát hiện mới, thì có thể làm thầy giáo được vậy.”

[Bình giải – Không rõ của ai]

“Ôn cố nhi tri tân” là một trong những cống hiến trọng đại của Khổng tử đối với nền giáo dục học nước ta, ông cho rằng, không ngừng ôn tập kiến thức đã học được, từ đó có thể có được kiến thức mới. Phương pháp học tập này không những trong thời kỳ phong kiến có giá trị, mà hiện nay cũng có tính thích ứng không thể phủ nhận. Kiến thức mới, học vấn mới của con người thường là dựa trên nền tảng kiến thức đã học mà phát triển lên. Vì vậy, ôn cố nhi tri tân là một phương pháp học tập hoàn toàn có thể sử dụng được.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

温故而知新 – ôn cố nhi tri tân: ôn, nghĩa là hâm (thức ăn) cho nóng lại. Người hâm đồ dựa vào lửa để nấu chín vật. Người sau phân ra lửa mạnh gọi là 煮- chử- nấu, thổi; lửa chậm gọi là 温 – ôn – hâm nóng, ôn (hâm nóng) giống như tập (học đi học lại, tập đi tập lại) vậy. Căn cứ vào chữ có hai cách giải thích: Một là, những gì nghe được biết được trước đây là cố, những gì mới có được, hiểu được hiện nay là tân. Một cách giải thích khác là: cố như cố sự, điển cố. “Lục kinh” đều thuật lại các chuyện trước đây, nhắc đến tiên vương. Tri tân là thông hiểu các đạo nghĩa lớn trong đó, thông qua xem những thứ do hậu thế viết ra, như của các nhà nho thời Hán.

可以为师 – khảdĩ vi sư: theo giải thích ở trên, luôn ôn tập kiến thứ cũ mà đạt được hiểu biết mới, đây là tâm đắc(i) của người học. Có tâm đắc, những gì học được là của ta, có thể học tức là có thể dạy, xưa gọi là khả dĩ vi sư. Nếu chia ôn cố tri tân thành hai việc riêng nhau, cố là thứ đạt được ở bên ngoài, tân vẫn là thứ đạt được ở bên ngoài, tóm lại là kiểu học thuộc lòng để trả lời câu hỏi. Cái học được bên ngoài, dù kiến thức vô cùng, học thuộc tuy phong phú, nhưng không phải tâm đắc, đã không thể học, thì không thể dạy. Chỉ thành mua rẻ bán đắt để có chút lời, sao đủ để làm thầy? Song tâm đắc cũng không phải là không dựa vào cái gì mà tự sáng tạo ra, mà là từ những kiến thức đã có mà ngộ ra thứ mới, đem trong ngoài mới cũ hợp lại thành một, chỉ như vậy mới có thể được gọi là học. Theo lời giải thích thứ hai, sự vật biến hóa vô cùng, cái gọi là tân, đều là ngày trước chưa trải qua, người thầy nếu không truyền lại (kiến thức cũ), hoặc chỉ ôn cố mà không thể tri tân, thì hẳn sẽ ưu lo vì sự học bị kiệt tận mà đạo bị mất đi. Cho nên duy ôn cố mới có khả năng tri tân, mới có thể đủ điều kiện để làm thầy. Hai cách giải thích này, lời khác nhau nhưng nghĩa là một, người học cẩn thận tham khảo.

Chương này tân và cố hợp nhất, dạy và học hợp nhất, ôn cố cần phải có lòng cầu tri tân, có thể học sau đó có thể dạy, nếu chỉ muốn ghi nhớ, thuộc lòng, không thể biết đến cái mới, thì không đủ để đảm đương việc giảng dạy. Ý nghĩa rất sâu xa thâm thúy.

Tiên sinh nói: “có thể từ ôn tập tri thức cũ mà khai mở, ngộ ra kiến thức mới, là có thể làm thầy vậy.”

(i) Nguyên văn: 心得. Từ tâm đắc này khác với nghĩa tâm đắc người VN hay dùng. Tâm đắc có nghĩa là tri thức lĩnh hội được; trong tim lĩnh hội mà có được.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Câu này, chúng ta đều rất quen thuộc.

Từ văn tự giải thích, mọi người đều biết, ý nghĩa chính là ôn tập quá khứ, hiểu biết hiện tại, thì có thể làm thầy giáo của người khác. Theo giải thích câu chữ bề ngoài, chỉ là như thế thôi, còn trên thực tế chúng ta phải hiểu một bước sâu hơn. “Ôn cố”- nói đến quá khứ chúng ta cần biết, ví dụ như nói về lịch sử TQ, trên dưới năm ngàn năm, 25 bộ sử lớn, rất không dễ dàng, nếu như học lịch sử, mục đích không phải là ở chỗ có được học vị,  thì là vì cái gì? Vì “ôn cố tri tân,” nhận thức được về quá khứ, thì biết được vị lai, như thế, “khả dĩ vi sư hĩ,” quá khứ chính là thầy giáo của ta, “tiền sự bất vong, hậu sự chi sư dã”(i). Ôn cố mà tri tân chính là ý nghĩa này. Đây là đạo lý gì vậy? Bởi vì thành công hay thất bại trước mắt, của một người cũng thế, của một quốc gia cũng thế, như thế nào mà thành công, như thế nào mà thất bại, lịch sử nói cho chúng ta rất nhiều điều. (Tôi) Vừa mới nói chuyện với người khác, có đề cập đến, thế hệ thanh niên hiện đại học hành thật khó, không những phải biết gốc rễ truyền thống văn hóa TQ của bản thân – quá khứ, lại còn phải biết các tri thức mới của xã hội hiện tại, không những là việc trong nước, việc ngoài nước cũng phải nắm rõ, cổ kim trong ngoài đều cần hiểu, do vậy người vi chính, càng phải chú ý đến việc này, vi chính đến cùng là cần có học vấn, do vậy “ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hĩ.” Như thế này mới chân chính có khả năng tiếp thu lịch sử đã qua, phán đoán chiều hướng phát triển của tương lai.

(i) Nguyên văn: 前事不忘,后事之师 – qián shì bú wàng,hòu shì zhī shī – tiền sự bất vong, hậu sự chi sư. Câu để cảnh tỉnh mọi người không được quên các giáo huấn trong quá khứ, lấy đó làm gương về sau. Xuất xứ: Chiến Quốc sách.

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.10

子曰:“视其所以(1),观其所由(2),察其所安(3),人焉廋(4)哉?人焉廋哉?”

Zǐ yuē:  “shì qí suǒyǐ, guān qí suǒ yóu, chá qí suǒ ān, rén yān sōu zāi? rén yān sōu zāi?”

Tử viết: “thị kì sở dĩ (1), quan kì sở do (2), sát kì sở an (3), nhân yên sưu (4) tai? Nhân yên sưu tai?”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn ]

  1. 所以 – suǒyǐ – sở dĩ: việc làm ra.
  2. 所由 – suǒ yóu – sở do: con đường đi qua.
  3. 所安 – suǒ ān – sở an: tâm tính quen như thế nào.
  4. 廋 – sōu – sưu: ẩn tàng, ẩn giấu

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “(để hiểu một người), phải xem động cơ ngôn hành (lời nói hành động) của anh ta, quan sát con đường anh ta chọn đi, khảo sát anh ta để tâm làm cái gì, như thế, con người này làm sao có thể ẩn giấu được đây? Con người này làm sao có thể ẩn giấu được đây?”

[Bình giải – Chưa rõ là ai]

Đoạn văn này nói đến vấn đề làm sao để hiểu người khác. Khổng tử cho rằng, đối với người khác phải nghe anh ta nói gì, xem anh ta hành động như thế nào(i), vẫn còn cần xem tâm tính của anh ta lúc làm việc, từ ngôn luận, hành động của anh ta đến nội tâm của anh ta, hiểu cách toàn diện quan sát một người, như vậy người này không có gì ẩn giấu được.

(i) Nguyên văn: 听其言而观其行 – tīng qí yán ér guān qí xíng – thính kì ngôn nhi quan kì hành: không những nghe nói gì mà còn phải xem hành động thực tế như thế nào. Cũng là câu trong Luận ngữ.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

所以 – sỡ dĩ: dĩ, nghĩa là nguyên nhân. Vì nguyên nhân nào mà làm việc này, ở đây chỉ động cơ và dụng tâm của hành vi một người. Hoặc có thuyết: dĩ, nghĩa là 为 – “vi” (làm việc gì). Nhìn việc làm của một người, có thể biết người đó.

所由 – sở do: do, nghĩa là 经由- “kinh do,” thông qua, kinh qua (con đường nào). Cùng một việc, chọn các đường lối khác nhau, hoặc thích con đường nhanh chóng, hoặc đường mạo hiểm, hoặc đường lớn bằng phẳng. Ở đây nói về xu hướng và tâm thuật, tính toán trong lòng về hành vi một người.

所安 – sở an: an, nghĩa là an định an lạc. Miễn cưỡng làm gì, tất sẽ không an không lạc, dễ sinh ra thay đổi. Ngược lại, vui sẽ không mệt mỏi, an ổn sẽ không biến đổi. Ở đây nói về tâm thái hoặc hứng thú đối với hành vi.

视,观,察: thị, quan, sát: ba từ này có thứ tự nông sâu. Thị xem vào một việc, quan xem từ tổng thể, sát xem từ chỗ nhỏ nhất trở đi.

人焉廋哉 – nhân yên sưu tai: sưu, nghĩa là tàng ẩn, ẩn giấu. Do cách nhìn người mà được miêu tả ở trên, không người nào có thể ẩn giấu. Nhắc lại, do vậy khẳng định không gì có thể giấu diếm.

Chương này Khổng tử dạy phương pháp quan sát người khác, tất phải quan sát từ nhiều phía, nhân cách và tâm địa của một người, sẽ không thể ẩn giấu được. Do vậy người học cũng có thể dựa vào đây mà “tự tỉnh” – tự kiểm điểm bản thân, khiến cho việc làm người của bản thân, như được nhìn thấu qua, mà không tự lừa dối chính mình. Nếu không như vậy, lại để cho bản thân giấu diếm bản thân, thì làm sao còn có thể quan sát người khác?

Hoặc nói, quan sát người khác tất phải từ những thứ dễ thấy, giả sử mỗi việc đều phải xem ý nghĩa của nó là từ đâu mà ra, đến mức chưa chi đã hoài nghi người khác là giả trá, suy đoán người khác là không thành thật, luận việc, trách phạt dựa trên động cơ chứ không phải sự việc, là không nên vậy.  Do vậy chương này là từ dấu tích cụ thể mà quan sát tâm, từ sự việc mà xem ý, người học cần kỹ càng mà làm cho rõ.

Tiên sinh nói: “Cần quan sát anh ta tại sao lại làm việc này, lại quan sát anh ta làm theo kiểu nào, lại quan sát lúc anh ta làm việc này tâm tình như thế nào, an ổn hay không an ổn. Theo như thế này mà quan sát, người nào có thể ẩn giấu vào chỗ nào được! Người nào có thể ẩn giấu vào chỗ nào được!”

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Từ đây trở đi, văn chương liền chuyển, chính thức nói đến đạo lý Vi chính.

Tử viết: “thị kì sở dĩ, quan kì sở do, sát kì sở an, nhân yên sưu tai? Nhân yên sưu tai?”

Đây là đạo lý quan sát người khác của Khổng tử.

Nói đến đạo lý quan sát người khác, chúng ta đều biết việc xem tướng tính mệnh, đặc biệt hiện nay rất thịnh hành. Hai việc này, ở Trung Quốc đã có lịch sử vài ngàn năm, ở các quốc gia khác trên thế giới, cũng có phương pháp xem tướng Italia, Nhật Bản vân vân. Từ đây có thể thấy ở bất kỳ quốc gia dân tộc nào, đều rất thịnh hành. Nói đến lịch sử xem tướng của người Trung Quốc, có từ rất sớm. Thời Xuân thu Chiến quốc đã có rất nhiều, nói chung, người Trung Quốc xem tướng, có kỹ năng riêng, bao gồm các loại lưu hành trên thị trường hiện nay, Ma Y, Liễu Trang, Thiết Quan Đao(i), cho đến các loại xem tay, xem chỉ tay do người Italia, Nhật Bản hiện đại nghiên cứu ra, rất nhiều thứ mới đều thêm vào, nhưng cũng không ra khỏi phạm vi phương pháp xem tướng Trung Quốc. Nhưng người TQ hãy còn một kiểu xem tướng khác, gọi là “thần tướng” hoặc “tâm tướng,” rất thâm sâu khó hiểu.

“Thần tướng,” không phải là dựa trên “hình thái” (dáng vẻ thái độ bên ngoài) để xem, là là xem “thần thái” (tinh thần thể hiện ra); hãy còn một loại “tâm tướng,” là dựa trên cơ sở lập trường văn hóa TQ, tuyệt đối duy tâm (không phải là duy tâm trong triết học phương Tây), do đó có mấy câu danh ngôn: “hữu tâm vô tướng, tướng do tâm biến. Hữu tướng vô tâm, tướng tùy tâm chuyển”(ii) – một người tư tưởng chuyển biến, hình thái cũng sẽ chuyển biến, ví như chúng ta nói một người chuẩn bị nổi nóng, làm thế nào để biết? Bởi vì từ tướng của anh ta có thể nhìn ra được, tâm lý anh ta nổi nóng, thần kinh sẽ khẩn trương, dáng vẻ sẽ thay đổi. Do vậy, xem tướng là khoa học. Có người nói, người có ấn đường rất hẹp thì lòng độ lượng nhất định ít, ấn đường – cự ly giữa hai đầu lông mày – rất rộng thì lòng độ lượng lớn, đây là lý lẽ thế nào? Có người tính cách trời sinh, gặp chút chuyện không như ý, liền chau mày, dần dần da ở ấn đường sẽ nhăn lại, đây là lý lẽ đương nhiên. Còn có người nói người lộ răng cửa thường đoản mệnh, do anh ta lộ răng, khi ngủ miệng không khép được, khi hô hấp các thứ bẩn đều vào cơ thể, đương nhiên sức khỏe sẽ có vấn đề. Còn rất nhiều lý lẽ cùng dạng như thế này, nhưng người xưa xem tướng, chỉ biết đến biểu hiện bên ngoài của sự vật mà không biết đến bản chất nguyên nhân phát sinh ở bên trong(iii). Hỏi họ nguyên nhân là gì, họ nói: là trong sách nói vậy. Trên thực tế, những thứ này là từ kinh nghiệm mà ra.

Có người nói, danh thần Tăng Quốc Phiên thời Thanh trung hưng có mười ba môn học vấn, lưu truyền lại còn mỗi một môn – Tăng Quốc Phiên gia thư, còn lại đều không còn, kỳ thực truyền lại còn hai môn, một môn khác là học vấn xem tướng Tăng Quốc Phiên – bộ sách “Băng Giám.” Bộ này bao gồm cả lý luận xem tướng, không giống với các sách tướng số khác. Tăng Quốc Phiên nói: “功名看器宇” – công danh khán khí vũ, nói đến khí vũ (khí độ, dáng vẻ), rất rắc rối phiền phức. Đây lại nói đến triết học TQ, ở đây liên quan đến văn học, chữ “khí” giải thích thế nào? Chính là các loại sự vật. “Vũ” là đại biểu cho thiên thể (vũ trong vũ trụ – nd). Cái gì gọi là “khí vũ”? Chính là hình thái cấu tạo thiên thể. Miễn cưỡng có thể giải thích như vậy. Sự vật ở TQ, chính là khiến người ta chán ghét như vậy, như người TQ nói: người này phong độ không tồi. Thổi qua là “phong” (gió-nd), đo rộng bao nhiêu dài bao nhiêu là “độ.” Còn về “phong độ” của một người thì không nói cụ thể được, đây là một từ hình dung có tính trừu tượng, nhưng cũng rất khoa học, ví dụ như ở chỗ đông người, mà trong đó có một người, khiến mọi người đều chú ý, người này không nhất định xinh đẹp, biểu hiện bề ngoài cũng không có gì đặc biệt, nhưng anh ta làm cho tâm lý mọi người cảm thấy anh ta không giống với những người khác, đây gọi là “phong độ.”

“功名看器宇” – “Công danh khán khí vũ,” chính là người này có công danh hay không, cần phải xem phong độ của anh ta.

“事业看精神” – “Sự nghiệp khán tinh thần,” điều này là tất nhiên, một người tinh thần không tốt, làm chút việc liền mệt, thì có thể có sự nghiệp tiền đồ gì?

“穷通看指甲” – “Cùng thông khán chỉ giáp,” muốn biết một người có tiền đồ hay không thì xem móng tay, móng tay với tiền đồ của con người có quan hệ như thế nào? Tuyệt đối có quan hệ. Theo sinh lí học, móng tay có thành phần chủ yếu là canxi, canxi không đủ, chính là thể lực kém, thể lực kém thì không có tinh thần cạnh tranh. Có một số người móng tay không như hình viên ngói mà mỏng mỏng, thì biết loại người này thể chất vô cùng yếu, nhiều bệnh.

“寿夭看脚踵” – “Thọ yểu khán cước chủng,” mệnh dài hay ngắn, xem gót chân của anh ta lúc đi lại. Tôi từng có một học sinh, lúc đi lại gót chân không chạm đất, anh ta quả nhiên đoản mệnh. Loại người này một là đoản mệnh, hai là thông minh nóng nảy, việc giao cho anh ta, anh ta làm rất nhanh, nhưng không thiết thực.

“如要看条理,只在言语中”- “Như yếu khán điều lí, chỉ tại ngôn ngữ trung,” một người tư tưởng như thế nào, thì xem anh ta nói năng có mạch lạc không, loại phương pháp xem này rất khoa học.

Loại học vấn này ở Trung Quốc cũng gọi là “hình danh chi học,” từ thời Ngụy Tấn đã lưu hành. Có một bộ sách, “Nhân vật chí,” mọi người có thể thử đọc, sẽ có chỗ hữu ích, do Lưu Thiệu thời Ngụy soạn, Lưu Bỉnh thời Bắc Ngụy chú giải, chuyên bàn luận về con người, nói cách khác là khoa học về “người.” Gần đây lưu hành loại khoa học quản lý nhân sự, phân loại chức nghiệp, các loại này đều xuất phát từ ngoại quốc. Mà “Nhân vật chí” của chúng ta, còn hay hơn,  là “quản lý nhân sự,” “phân loại chức nghiệp” chân chính, chỉ ra những người nào thuộc loại nào. Có những người thuộc loại theo sự nghiệp, có những người tuyệt đối không phải loại theo sự nghiệp, không nên sắp xếp sai, có người có học vấn, không nhất định có tài năng, có người có tài năng không nhất định có phẩm đức, người có học vấn lại có tài năng lại có phẩm đức, là người hạng nhất, loại người này lại không có nhiều.

Trước đây có một người bạn già, đọc sách không nhiều, nhưng từ kinh nghiệm nhân sinh, có được mấy câu, rất có ý nghĩa, ông nói: “người thượng đẳng, có bản sự không có tính nóng; người trung đẳng, có bản sự lại cũng có tính nóng; người mạt đẳng, không có bản sự nhưng tính nóng nhiều.” Đây có thể gọi là danh ngôn, cũng là học vấn của ông. Do vậy mọi người lập thân xử thế, cần biết có người có học vấn, trong nhiều trường hợp sẽ có tính nóng, cần phải bao dung nhẫn nại đối với họ, dùng sở trưởng của họ – học vấn, không tính toán với sở đoản của họ – tính nóng. Anh ta nổi nóng không phải là có ác ý với bạn, mà là bản thân anh ta có tật, vốn là chỗ khiếm khuyết của anh ta, với bạn có quan hệ gì?  Bạn muốn nói về đạo hiếu,  trong đạo quân (đạo làm vua) bạn cần yêu thương anh ta, tôn trọng anh ta […].

Bộ sách thứ hai cần nghiên cứu là bộ nào? Chính là “素书”-“Tố Thư” do Hoàng Thạch Công truyền cho Trương Lương. Bộ sách này rất khó nói có phải là sách làm giả hay không, nhưng  chính xác là kết tinh văn hóa TQ. Đối với đạo lý làm người xử thế nhìn nhận người khác, có rất nhiều kiến giải triết học rất thâm thúy, cũng có thể nói là sách xem tướng, sách này không hề nói về lông mày dài sẽ như thế nào, sống mũi dài sẽ thế nào, sách này không có mấy loại như thế, mà là phương pháp xem tướng chân chính. Lông mày, mũi, mắt, đều không xem, đại khái chỉ xem một người xử thế có thái độ và phương thức thế nào. Mạnh tử cũng thích xem tướng, chẳng qua ông không treo biển hành nghề, ông chú ý vào nhãn thần (thần thái ánh mắt) của người ta, người quang minh chính đại nhãn thần nhất định rất đoan chính; thích hướng lên trên nhất định rất kiêu ngạo; thích nhìn xuống sẽ động tâm tư; thích nhìn xéo, ít nhất là tâm lý có vấn đề. Đây là nhãn thần trong xem tướng, là phương pháp xem tướng của Mạnh tử, cũng có thể gọi là “nhãn khoa” trong xem tướng.

Khổng tử quan sát người khác, giảng về nguyên tắc. “Thị kì sở dĩ” – xem mục đích của anh ta là gì? “Quan kì sở do” – biết nguyên lai, động cơ của anh ta[bỏ một đoạn kể chuyện, nêu ví dụ], xem cả quá trình hành động của anh ta. “Sát kì sở an,” lại xem xem anh ta bình thường an vui quen thuộc với cái gì? Có khả năng an ổn hài lòng với hiện thực không. Ví dụ có một số người rất khó an vui, có một người bạn hơn bảy mươi tuổi, đã đầu tóc đã bạc hết, là người đọc sách, học vấn rất nhiều. Vừa mới nghỉ hưu, vợ mất, trong đời sống hàng ngày đánh mạt chược thì không có hứng thú, thư pháp tốt nhưng không có hứng thú viết chữ, người đọc sách vốn có thế đọc sách, nhưng cầm đến quyển sách, thì muốn ngủ, nằm xuống lại ngủ không được – nói đến đây, mong các bạn trẻ chú ý, người có tuổi rất đáng thương, có mấy việc tương phản: ngồi thì muốn ngủ, nằm xuống thì ngủ không được. Khóc thì không có nước mắt, cười lên lại cười ra nước mắt. Nói chuyện hiện tại, vừa nói vừa quên, đối với chuyện quá khứ, đến chuyện lúc bé cũng nhớ ra. Nói lời hay với họ thì không nghe thấy, mắng thì lập tức nghe thấy. Đây là thảm trạng của người có tuổi – bởi vì ông ấy quá quạnh hưu tịch mịch, việc gì cũng không có hứng thú, tốt nhất là kết bạn với một người bạn nữ, tôi khuyên ông không nhất thiết phải kết hôn. Hoàn cảnh như của ông, chính là người có tuổi mà không có chỗ an, tâm không thể an, đây là người già, nhưng người trẻ cũng như vậy. Đây là vấn đề tâm lý, một người tiến hành tu dưỡng học vấn, nếu bình thường không có một chỗ an ổn, thì rất có vấn đề. Có một số người lúc có việc làm, tinh thần rất tốt; lúc không có việc làm, thì tâm không thể an, có thể thấy để an được tâm là rất khó.

Khổng tử dựa vào ba điều này để quan sát người khác, do vậy ông nói “nhân yên sưu tai! Nhân yên sưu tai!” “Sưu” này là có ý nghĩa trốn tránh. Lấy “thị kì sở dĩ, quan kì sở do, sát kì sở an” ba phương diện trọng yếu này ra quan sát người khác, thì không gì có thể trốn tránh được. Xem bất kỳ người nào làm người xử thế, mục đích của anh ta là gì? phương pháp làm của anh ta như thế nào? (ý trước là thuộc phương diện tư tưởng, ý sau là thuộc phương diện hành vi). Ngoài ra, lại xem hàm dưỡng của anh ta lúc bình thường, anh ta an vui với cái gì? Có người quen tầm lạc, có người quen với cảnh nghèo khó, có người quen với bình đạm. Khó nhất là bình đạm, người an vui với bình đạm, sự nghiệp gì cũng có thể làm. Do anh ta sẽ không bị sự nghiệp vây khốn, câu này là như thế nào? Người an vui với bình đạm, hôm nay phát tài, sẽ không cảm giác bản thân có nhiều tiền khiến cho ngủ không nổi; nếu nghèo, cũng sẽ không cảm giác nghèo, sẽ không cảm thấy tiền đối với anh ta có gì uy hiếp. Do vậy an tâm là khó nhất. Đem ba phương diện quan sát người khác này, đặt trong thiên Vi chính, liền biết trọng điểm của việc khích lệ hay phẩm bình người khác là nằm ở ở đâu.

(i) Tên các loại phương pháp/trường phái xem tướng. Có các sách Ma Y tướng pháp (người đời sau truyền tác giả là Ma Y Đạo giả thời Tống – Ma y có nghĩa là áo gai), Liễu Trang thần tướng (tác giả là Viên Liễu Trang thời Minh), thần tướng Thiết Quan Đao (tác giả khuyết danh, sách từ thời Minh/Thanh).

(ii) Kiểm tra trên mạng, thấy câu chính xác là như này: 有心无相,相随心生;有相无心,相随心灭: hữu tâm vô tướng, tướng tùy tâm sinh; hữu tướng vô tâm, tướng tùy tâm diệt. Mạng giới thiệu là thuật ngữ thường dùng trong Phật giáo, nhưng có nguồn gốc sâu xa từ Quỷ Cốc tử thời Xuân Thu.

(iii) Nguyên văn: 知其然而不知其所以然 – zhī qí rán ér bù zhī qí suǒ yǐ rán – tri kì nhiên nhi bất tri kì sở dĩ nhiên. Câu từ đời Đường.

 

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.9

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2018!!!

 

子曰:“吾与回(1)言,终日不违(2),如愚。退而省其私(3),亦足以发,回也不愚。”

Zǐ yuē: “Wú yǔ Huí yán, zhōng rì bù wéi, rú yú. Tuì ér shěng qí sī, yì zú yǐ fā, Huí yě bù yú.”

Tử viết: “Ngô dữ Hồi(1) ngôn, chung nhật bất vi(2), như ngu. Thoái nhi tỉnh kì tư(3), diệc túc dĩ phát, Hồi dã bất ngu.”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 回 – Huí – Hồi: Họ Nhan tên Hồi, tự Tử Uyên, sinh năm 521 trước công nguyên, nhỏ hơn Khổng tử 30 tuổi, người nước Lỗ, là môn sinh đắc ý của Khổng tử.
  2. 不违 – bù wéi – bất vi: không nêu lên ý kiến hoặc vấn đề tương phản, trái ngược lại.
  3. 退而省其私 – Tuì ér shěng qí sī – thoái nhi tỉnh kì tư: coi xét, quan sát ngôn hành của Nhan Hồi lúc riêng tư thảo luận học vấn với các học sinh khác.

[Diễn dịch câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Ta cả ngày giảng học cho Nhan Hồi, anh ta chưa từng đưa ra ý kiến phản đối hoặc vấn đề nghi vấn nào, giống như người ngu xuẩn. Đợi sau khi anh ta lui ra ngoài, ta xem xét quan sát ngôn luận của anh ta lúc riêng tư, phát hiện anh ta đều đem các nội dung mà ta dạy ra phát huy, có thể thấy Nhan Hồi kì thực không ngu xuẩn chút nào.”

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Chương này nói về tư tưởng và phương pháp giáo dục của Khổng tử. Ông không hài lòng với loại học sinh “chung nhật bất vi,” trước giờ không đưa ra ý kiến hoặc vấn đề tương phản, hy vọng lúc học sinh tiếp thu giáo dục, cần động não, suy xét vấn đề, đối với vấn đề thầy giáo giảng nên có phát huy. Vì vậy, ông cho rằng người không suy xét vấn đề, không đưa ra ý kiến bất đồng, là người ngu xuẩn.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

回 – Hồi: Nhan Hồi, tự Uyên, học sinh từ thời đầu của Khổng tử, rất được Khổng tử thương yêu.

不违如愚 – Bất vi như ngu: Bất vi, ý là bất tương phản, không (làm gì) ngược lại. Có lắng nghe, không biện luận đặt câu hỏi. Như người ngu dốt, là “mặc nhi thức chi”–lặng yên ghi nhớ các kiến thức học được(i).

退而省其私 – Thoái nhi tỉnh kì tư: thoái, rời khỏi chỗ của thầy. Tư, ngôn ngữ hành vi của Nhan tử lúc rời khỏi chỗ của thầy. Có giải thích tư là lúc nhàn cư một mình, có vẻ không thích hợp.

亦足以发 – diệc túc dĩ phát: phát, phát minh (tìm ra được cái mới), phát huy, mở mang trí thức. Từ những lời thầy giảng tìm ra được cái mới nào đó, có thể từ đây cùng với lời của thầy giảng mà phát huy.

回也不愚 – Hồi dã bất ngu: Khổng tử nói không ngu, chính là vô cùng tán thưởng sự thông tuệ của Nhan Hồi.

Chương này chắc là lúc Nhan tử bắt đầu theo học Khổng tử, nên Khổng tử khen ngợi như vậy. Nếu là lúc đã ở cùng lâu rồi, chắc không vì điều này mà khen ngợi.

Tiên sinh nói: “Ta cùng Nhan Hồi đàm luận, cả ngày anh ta không hỏi lại câu nào, như một người ngu dốt đần độn. Đợi lúc anh ta rời đi, ta khảo sát ngôn hành của anh ta lúc không theo ta học, đối với lời ta nói, có thể phát huy rất nhiều. Hồi, thật không hề ngu vậy.”

(i) Nguyên văn: 默而识之 – mo er zhi zhi – mặc nhi thức chi: lặng yên ghi nhớ các kiến thức học được (đây cũng là câu trong Luận ngữ).

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Chúng ta biết, học sinh đắc ký nhất của Khổng tử chính là Nhan Hồi, cũng gọi là Nhan Uyên, bất luận trong lĩnh vực đạo đức hay học tập, đều là nhân vật xuất sắc hàng đầu của Khổng môn(i), do vậy Khổng tử rất hay nhắc đến Nhan Hồi.

[…] Đoạn hội thoại này, đề cập Nhan Hồi. Khổng tử nói, ta cùng Nhan Hồi nói chuyện, có lúc nói cả một ngày, anh ta chưa từng có ý phản đối ta, xem ra như ngốc vậy, nhưng lúc anh ta lui ra ngoài, không ở trước mặt ta, làm người, làm việc đều tự biết kiểm điểm bản thân, kết quả là không những hiểu được ý của ta, mà còn tiến thêm một bước phát huy ý của ta, từ đó có thể thấy Nhan Hồi không hề ngốc.

Vấn đề bây giờ là tại sao lại biên tập đoạn như thế này vào đây? Chính là nói đến thiên Vi chính này, vấn đề hiếu ở hai đoạn trên, đoạn thứ nhất là “kính,” đoạn thứ hai là “sắc nan,” đối với thần đạo, quân đạo (đạo làm tôi, đạo làm vua) đều liên quan. Nay dùng thái độ của Nhan Hồi để nói về đạo làm tôi, trước mặt nói gì đều đáp là “vâng,” đều chỉ là tiếp thu, phục tùng. Nhưng chỉ toàn tiếp thu, phục tùng, có lúc ngược lại có vấn đề, không nhất định là đúng, do đó ngoài tu dưỡng tiếp thu, phục tùng, vẫn còn cần “thoái nhi tỉnh kì tư, diệc túc dĩ phát.” Có thể phát huy thêm, mở rộng phạm vi, làm giàu nội dung(ii), đây mới là cán bộ tốt trong công việc, nhân tài vi chính. Vì vậy đem đoạn về tu dưỡng làm người của Nhan Hồi đặt vào thiên Vi chính này.

(i) Nguyên văn: 首屈一指 – shǒu qū yī zhǐ – thủ khuất nhất chỉ: đứng thứ nhất, hạng nhất, giỏi nhất.

(ii) Nguyên văn: 扩而充之- kuò ér chōng zhī – khoách nhi sung chi: mở rộng phạm vi, làm phong phú nội dung. Câu trong Mạnh tử.

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.4

子曰:“吾十有(1)五而志于学,三十而立(2),四十而不惑(3),五十而知天命(4),六十而耳顺(5),七十而从心所欲, 不逾矩(6)。”

Zǐ yuē: wú shí yǒu wǔ ér zhì yú xué, sānshí érlì, sìshí ér bù huò, wǔshí ér zhī tiān mìng, liùshí ér ěr shun, qīshí ér cóng xīn suǒ yù bù yú jǔ.

Tử viết: “Ngô thập hữu (1) ngũ nhi chí ư học, tam thập nhi lập (2), tứ thập nhi bất hoặc (3), ngũ thập nhi tri thiên mệnh (4), lục thập nhi nhĩ thuận (5), thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ (6).”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 有 – yǒu – hữu: giống又 – yòu – hựu, cộng thêm.
  2. 立 – lì – lập: ý là đứng vững.
  3. 不惑 – bù huò – bất hoặc: nắm chắc kiến thức, không bị sự vật ngoại cảnh gây mê hoặc.
  4. 天命 – tiān mìng – thiên mệnh: chỉ sự tình mà sức người không thể chi phối.
  5. 耳顺 – ěr shun – nhĩ thuận: có nhiều cách giải thích. Nhưng nói chung, chỉ việc đối với những ý kiến bất lợi cho bản thân cũng có thể đối đãi đúng/xác đáng.
  6. 从心所欲, 不逾矩 – cóng xīn suǒ yù bù yú jǔ – tòng tâm sở dục, bất du củ: tòng- thuận theo; du- vượt qua; củ- quy củ.

[Diễn dịch văn – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Ta mười lăm tuổi lập chí học tập; ba mươi tuổi có thể tự lập; bốn mươi tuổi có thể không bị sự vật ngoại cảnh mê hoặc; năm mươi tuổi hiểu được thiên mệnh; sáu mươi tuổi có thể đối đãi xác đáng với mọi loại ngôn luận, không cảm thấy có gì là không thuận [quy luật]; bảy mươi tuổi có thể tùy theo lòng mình mà không vượt qua quy củ.”

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Trong chương này, Khổng tử tự thuật lại quá trình học tập và tu dưỡng của bản thân. Quá trình này, là một quá trình cảnh giới tư tưởng dần dần nâng cao, theo sự tăng tiến của độ tuổi. Về cảnh giới tư tưởng, toàn bộ quá trình phân thành ba giai đoạn: mười lăm tuổi đến bốn mươi tuổi là giai đoạn học tập lĩnh hội; năm mươi, sáu mươi tuổi là giai đoạn an tâm lập mệnh, cũng là giai đoạn không chịu sự tác động của hoàn cảnh; bảy mươi tuổi là giai đoạn ý thức chủ quan và quy tắc làm người dung hợp làm một. Trong giai đoạn này, tu dưỡng đạo đức đạt đến cảnh giới cao nhất. Quá trình tu dưỡng đạo đức của Khổng tử, có nhân tố hợp lý: một là, ông đã thấy được tu dưỡng đạo đức không phải việc một sớm một chiều, không thể hoàn thành ngay, không thể có đột phá, cần phải trải qua quá trình rèn luyện học tập lâu dài, cần phải có một quá trình tuần tự tiệm tiến. Hai là, cảnh giới cao nhất của đạo đức là tư tưởng và ngôn hành dung hợp, tự giác tôn thủ quy phạm đạo đức, mà không phải là miễn cưỡng làm. Hai điểm này đối với bất kỳ người nào, đều có thể đem ra áp dụng được.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

志於学 – chí ư học: người có chí, tất cả mọi ý nguyện trong lòng, đều một lòng hướng đến mục tiêu này. Vốn có chí tất có học, chí và học tương sinh mà phát triển. Cái chí cái học của Khổng tử, thông qua đọc chương này có thể thấy được, càng thông qua đọc toàn bộ Luận ngữ mà có thể hiểu cặn kẽ. Có thể có chí như cái chí của Khổng tử, học như cái học của Khổng tử, là tôn chỉ lớn nhất của việc đọc Luận ngữ.

而立 – nhi lập: lập, nghĩa là thành lập (trưởng thành đến mức có thể tự lập). Có thể có khả năng tự lập một cách vững chãi, không suy giảm không chuyển đổi, tức là chí đã đạt được thành tựu, có được phẩm cách. Đây là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình học tập của Khổng tử.

不惑 – bất hoặc: con người và sự việc có dị đồng (điểm khác nhau/tương đồng), có  nghịch thuận, dù cho có chí, có khả năng tự lập, nếu với ngoại cảnh có sự đối nghịch, thì lòng dễ nảy sinh hoài nghi mê hoặc. Nếu có thể đối với mọi loại ngôn luận, sự việc biến hóa thuộc ngoại cảnh, hiểu đến chỗ thâm sâu, chỗ tận cùng, với mọi thứ liên quan đều thông suốt, mà không có gì phải hoài nghi, thì không những có khả năng tự lập giữ phẩm cách, còn có thể biết chỗ sáng mà ở vào chỗ an, là giai đoạn thứ hai trong tiến trình học tập của Khổng tử.

知天命 – tri thiên mệnh: tuy đối với đạo lý của mọi sự đều không còn nghi hoặc, nhưng việc thực hành chí hướng vẫn có chỗ gian khổ. Chí càng tiến, việc làm càng tiến, càng gặp phải việc gian khổ gây nghi hoặc. Cho nên đã có thể tự lập không còn gì nghi hoặc, càng ngày càng phải tri thiên mệnh (hiểu mệnh trời). Thiên mệnh chỉ các loại đạo nghĩa và chức trách đương nhiên của nhân sinh. Đạo nghĩa chức trách có vẻ không khó biết, song vẫn có việc dù “thủ đạo tận chức” (giữ đạo, tận lực với chức phận) mà vẫn gặp phải cảnh khốn cùng, không thuận lợi. Việc đương nhiên mà lại vẫn không thể thuận lợi thông suốt, có thể không được thuận lợi mà vẫn là đương nhiên, nghĩa lý này rất khó để hiểu. Để đạt đến cảnh giới này, cần phải học “tri thiên mệnh.” Khổng tử nói: “trời sinh ta có đức tính thiện, Hoàn Đồi có thể làm gì ta?” (i), lại nói “Văn Vương đã mất,  lễ nhạc văn hóa không phải đều ở tại chỗ của ta sao? Trời nếu như muốn tiêu diệt văn hóa này, người sau (ta) đã không thể có được văn hóa này. Trời nếu như không tiêu diệt văn hóa này, người Khuông có thể làm gì ta?” (ii). Khổng tử theo đuổi việc học, đạt đến cùng cực của “bất hoặc,” lòng tự tin cực chân thực cực vững chắc, dường như đã lên đến cảnh giới người không thể hiểu, duy trời có thể hiểu. Như thế đạo và thiên đã hợp làm một, do đâu đến cuối cùng không thể thực hành, đến đây buộc phải tiến đến cảnh giới tri thiên mệnh. Cho nên tri thiên mệnh, là tiến thêm một bước so với “bất hoặc,” là cảnh giới cao hơn, là giai đoạn thứ ba trong tiến trình học tập của Khổng tử.

Khổng tử không phải là người đứng đầu một tôn giáo, nhưng Khổng tử lại có một tín ngưỡng cao vô thượng, loại tín ngưỡng này, như đã cao hơn của các giáo chủ tôn giáo trên thế giới. Khổng tử do học mà sinh tín (niềm tin/lòng tin), chứ không phải là có tín trước mới học sau. Cho nên Khổng tử dạy mọi người, cũng là lấy việc học làm trọng. Tử cống nói: “Phu tử [giảng] về các loại học vấn văn hiến, chúng ta nghe có thể hiểu được; phu tử [giảng] về các loại thiên tính thiên đạo, chúng ta nghe không hiểu” (iii). Đại khái là Khổng tử dựa vào sở học mà dạy người, không dựa vào tín mà dạy người. Khổng tử có ý, dường như không học đến cảnh giới này, tất không dễ có niềm tin này, do đó không lấy tín để dạy. Đây là điểm khác biệt giữa Khổng tử với các vị đứng đầu tôn giáo khác. Cho nên học cái học của Khổng tử, không nên cẩu thả nói tri thiên mệnh, nhưng đồng thời nên biết trong lòng của Khổng tử thực chất có cảnh giới này. Khổng tử đã chỉ ra cảnh giới này, thứ gọi là “Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hàng hành chỉ, tuy bất năng chí, tâm hướng vãn chi”- [đức hạnh như] núi cao khiến [người] ngưỡng vọng, hành vi [chính đại quang minh] như con đường rộng, tuy không thể đạt đến trình độ này, nhưng lòng luôn hướng về đó (iv). Người học cũng nên đặt cảnh giới này trong tâm, mà mỗi ngày đều hướng về.

耳顺 – nhĩ thuận: đối với tất cả các loại ý kiến hoặc ngôn luận khác biệt, tất cả các loại phản ứng hoặc kích động trái nghịch bất thuận ở bên ngoài, khi đã đạt tới khả năng tự lập bất hoặc, lại tri thiên mệnh, có thể lấy đó để xử lý, không vì những thứ bên ngoài mà bị dao động mê hoặc, là càng tiến thêm một bước mà đạt đến cảnh giới “nhĩ thuận.” Người nhĩ thuận, tất cả đều nghe vào tai, không còn cảm thấy cái gì là có chỗ không thuận với bản thân, không thuận với đạo. Trong khi biết ngoại cảnh tất cả đều đối lập khác biệt nhau, trái nghịch bất thuận, tuy nhiên không cái gì là không có lý do của nó. Có thể hiểu được tất cả những lý do này, tất không chỉ hiểu bản thân, lại còn hiểu được người. Không chỉ hiểu một việc từ đâu là phải, mà còn hiểu từ đâu là không phải. Bên phản bên chính, bên nó bên ta, tất cả là theo ý trời. Lại không ở bất kỳ chỗ nào mà không thấy có thiên mệnh, do đó nói nhĩ thuận, là giai đoạn thứ tư của tiến trình học tập của Khổng tử.

Sự vật khi đi vào trong tâm của ta, chỗ trọng yếu nhất, là ở tại tai và mắt. Chương này đặc biệt nêu nhĩ thuận, thực chất là nêu cái này có thể bao gồm cả cái kia. Thêm vào đó mắt nhìn do ta hướng ra bên ngoài, tai nghe do bên ngoài rót vào ta, nói về mức độ tự chủ, hơi có sự khác biệt. Nhìn bằng mắt hướng đến hình dáng vật thể, nghe qua tai thâm nhập vào tâm ý. Mắt chỉ nhìn thấy ở gần mà tai nghe được ở xa, tức là lời nói hành động của cổ nhân, cũng có thể đi vào tai như vậy. Do đó nói về tai có thể bao quát cả mắt. Học đến mức tri thiên mệnh, tất xa gần chính phản, cổ kim thuận nghịch, những gì gặp được đều là đạo, đều ở trong thiên mệnh. (Nhờ đó) sẽ càng trung (dốc lòng) đến mức tận mọi sức lực, sẽ càng thứ (đặt mình vào vị trí của người khác mà suy nghĩ) mà đối đãi vật. Đối với những gì bản thân coi trọng xem xét để biết đâu là chỗ [ta cho là] đương nhiên; đối với việc người khác coi trọng xem xét để hiểu lý do tại sao. Hiểu rõ lý do tại sao tất nhĩ thuận, với mọi thứ đều không cảm thấy có gì trái nghịch,  từ đó mà có thể thi hành giáo hóa, có thể vi chính, có thể dựa vào “lập kỷ” mà “lập nhân,” “đạt kỷ” mà “đạt nhân” (bản thân có thể tự lập, đứng vững mà giúp người người tự lập; bản thân đã thông hiểu mà giúp người người khác thông hiểu – nd). Như thế chỗ cùng cực của thiên mệnh, chẳng phải luôn là việc hành đạo (đi theo con đường) này sao? Cội nguồn đạo của cổ nhân, cốt yếu ở chỗ có khả năng “phản cầu chư kỉ” –   trách bản thân chứ không phải trách người khác (v). Chỗ cùng cực của trung thứ (vi), tức là chỗ cùng cực của minh thành (明诚 – minh triết, chân thành), trời và người cùng một lẽ mà thông suốt, mà việc phát dương đạo xuất phát bản thân.

从心所欲不踰矩 – tòng tâm sở dục bất du củ: tòng, nghĩa là tuân theo, thuận theo. Hoặc có thuyết: chữ tòng đọc giống như túng (纵), nghĩa là “phóng nhiệm” (放任) – không có ước thúc, để mọi việc diễn ra tự nhiên, không can thiệp.  Củ- thước kẻ góc vuông. Quy-viên quy – thước để vẽ đường tròn. Quy củ vô cùng vuông, tròn, dùng để nói về luật lệ chuẩn tắc của các loại ngôn hành. Ở đây nói đến củ mà không nói đến quy, càng thấy lời nói cẩn trọng. Thánh nhân đến cảnh giới này, đều mặc theo lòng mình, có thể phóng tâm đến mức cùng cực, không kiểm điểm quản thúc (đạo đức ngôn hành của bản thân), mà bản thân lại không có gì là không theo quy củ luật lệ. Do đó nội tâm của thánh nhân vô cùng tự do, cùng với các loại luật lệ quy củ đương nhiên ở bên ngoài tự nhiên tương hợp. Học vấn đạt đến cảnh giới này, tâm cũng chính là đạo nghĩa, nội ngoại hợp nhất. Mọi việc làm của bản thân, không gì là không phải các khuôn phép cao nhất của thiên mệnh. Trời không dụng tâm đối với bất kỳ cái gì (vii) mà không có gì là không phải, trời không chịu bất kỳ ước thúc nào nhưng là chuẩn tắc cho tất cả mọi thứ. Sự học của thánh nhân, đến cảnh giới này, nhân cách  cao thượng vĩ đại sánh với trời, mà việc học cũng không thể tiến thêm nữa. Chương này của Khổng tử, chỉ là tự nói về quá trình đạt được trong học vấn của bản thân, chưa từng tự sánh với trời. Song đệ tử của Khổng tử đã ví nhân cách của Khổng tử sánh với trời mà (người khác) không thể bắc thang lên được vậy. Như ở trên đã cho thấy rõ, cũng không thấy có gì là quá cả.

Chương này là Khổng tử tự thuật về những thứ bản thân đạt được trong một đời học tập, các bậc thang tiến bộ qua các năm như thế nào. Người học kiên trì noi theo nỗ lực này, ngày qua ngày đều tiến bộ (viii), hy vọng xuất sắc mà tiến vào lãnh địa của thánh nhân.  Nhưng người học cố gắng theo khả năng của mình, cũng thường ở ba cấp bậc là “chí học,” “lập” hay “bất hoặc.” Còn từ tri thiên mệnh trở lên, nếu không nỗ lực hết sức, không nên hy vọng có thành tích hy hữu. Biết có cảnh giới này, mà vẫn canh cánh trong lòng cho rằng có thể đạt được, nếu tùy tiện đem bản thân đi bắt chước, chỉ là vọng tưởng tu dưỡng được đến cảnh giới tối cao, nhưng lại trở thành ngụy quân tử, thành tiểu nhân không biết sợ cái gì, mà không tự biết mình vậy. Người học thử nghiền ngẫm chương đầuchương cuối của thiên Học nhi, dần dần tự cố gắng, hy vọng dần có thể nhìn ra chỗ thâm thúy của chương này. Vì hai chương đầu và cuối của thiên Học nhi, từ chỗ dễ hiểu nhất chân thực nhất mà chỉ cho người ta (con đường) lĩnh hội, người học có thể từ đây mà noi theo. Chương này tuy là Khổng tử tự nói về bản thân, không có lời nào là không chân thực, ở bên trong lại có rất nhiều chỗ thâm sâu ảo diệu. Không dựa trên cái gì mà vọng cầu đột nhiên đạt được, thì biến thành nói hão không đáng tin, không phải là chủ ý lúc bình thường dạy học sinh của Khổng tử.

Khổng tử lại nói: “bất oán thiên, bất vưu nhân, hạ học nhi thượng đạt, tri ngã giả kì thiên hồ” – không oán trời, không trách người, dưới học mà trên suốt mọi sự lý/thiên mệnh, hiểu được ta chỉ có trời chăng? (ix), ý nghĩa của câu cùng với chương này tương thông. Từ chí học, nhi lập, nhi bất hoặc, đều là “hạ học.” Sau đó trở lên, là thượng đạt vậy. Tri thiên mệnh nên không oán thiên, nhĩ thuận nên không trách người. Tấm lòng này đạt đến cái đức của trời, nên có thể tòng tâm sở dục bất du củ, mà hiểu ta chỉ có trời. Tri mệnh nhĩ thuận, vốn không phải là thứ dễ dàng đạt được của người học, nhưng không oán không trách, chính là nỗ lực nên có của người học. Hành viễn tự nhĩ, đăng cao tự ti – đi đường xa bắt đầu từ bước gần nhất, leo núi cao bắt đầu từ chỗ thấp nhất (x), thiên lý chi hành, khởi ư túc hạ – đường xa ngàn dặm, bắt đầu từ từ việc đi bước đầu tiên (xi), người học theo khả năng có thể làm mà nỗ lực làm, cũng không phải lo lắng nghĩ đến chỗ khó khăn của việc học đến cấp bậc của thánh nhân.

Tiên sinh nói: Ta lúc mười lăm tuổi, bắt đầu có chí học tập. Đến ba mươi tuổi, có thể kiên định tự lập. Đến bốn mươi, ta đối với mọi loại đạo lý, có thể thông đạt không còn nghi hoặc. Đến năm mươi, ta có thể biết cái gì là thiên mệnh. Đến sáu mươi, tất cả những gì ta nghe được, đều có thể thông hiểu minh bạch hoàn toàn, không còn cảm thấy trong lòng có gì là trái ngược. Đến bảy mươi, ta chỉ mặc cho lòng tự nhiên không còn gì ước thúc, mà cũng sẽ không có chỗ nào là vượt qua quy củ pháp độ.

(i) “天生德於予,桓魋其如予何?”- thiên sinh đức ư dư, Hoàn Đồi kì như dư hà? – trời sinh ta có đức tính thiện, Hoàn Đồi có thể làm gì ta? (Hoàn Đồi là tư mã nước Tống, từng muốn giết hại Khổng tử). Đây cũng là câu trong Luận ngữ.

(ii) 文王既没,文不在兹乎?天之将丧斯文也,后死者不得与於斯文也。天之未丧斯文也,匡人其如予何?”- “Văn Vương kí một, văn bất tại tư hồ? Thiên chi tương táng tư văn dã, hậu tử giả bất đắc dữ ư tư văn dã. Thiên chi vị táng tư văn dã, Khuông nhân kì như dữ hà?” – Vua Văn Vương đã mất,  lễ nhạc văn hóa không phải đều ở tại chỗ của ta sao? Trời nếu như muốn tiêu diệt văn hóa này, người sau đã không thể có được văn hóa này. Trời nếu như không tiêu diệt văn hóa này, người Khuông có thể làm gì ta? Đây cũng là một câu trong Luận ngữ.

(iii) 子贡曰:“夫子之文章,可得而闻也。夫子之言性与天道,不可得而闻也。”- Tử cống viết: “Phu tử chi văn chương, khả đắc nhi văn dã. Phu tử chi ngôn tính dữ thiên đạo, bất khả đắc nhi văn dã.”

(iv) “高山仰止,景行行止,虽不能至,心向往之”- “Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hàng hành chỉ, tuy bất năng chí, tâm hướng vãn chi” – cao sơn: núi cao; cảnh hàng: con đường lớn (đại lộ); chữ “chỉ” là trợ từ cuối câu để nhấn mạnh; đức hạnh như núi cao khiến mọi người ngưỡng vọng, hành vi quang minh chính đại như con đường lớn, tuy không thể đạt đến trình độ này, nhưng tâm luôn hướng về điều đó. Haiz, thật lằng nhằng. Đầu tiên, 2 câu đầu là từ một bài trong Kinh Thi, Tiểu Nhã. Sau đại ca Tư Mã Thiên khi viết Sử ký, Khổng tử thế gia đã mượn hai câu này mà viết ra 4 câu trên.

(v) Phản cầu chư kỉ – 反求诸己 fǎn qiú zhūjǐ: Câu trong Lễ ký, nhìn nhận lỗi của bản thân, từ đó sửa cho đúng, chứ không trách người khác. Tiếng Anh: to seek the cause in oneself rather than sb else.

(vi) Nguyên văn là chữ này: 忠恕 – trung có nghĩa là tận tâm kiệt lực, dốc lòng, hết lòng; thứ là dùng tâm ý của mình mà suy ra tâm ý của người khác, đặt mình vào vị trí của người khác mà suy nghĩ.

(vii) Nguyên văn: 无所用心 – wú suǒ yòng xīn – vô sở dụng tâm.

(viii) Nguyên văn: 日就月将 – rì jiù yuè jiāng – nhật tựu nguyệt tương: câu xuất xứ từ Kinh Thi, mỗi ngày đều tiến đến gần hơn một tý, hình dung tinh tiến không ngừng.

(ix) Nguyên văn: 不怨天,不尤人,下学而上达,知我者其天乎 – bất oán thiên, bất vưu nhân, hạ học nhi thượng đạt, tri ngã giả kì thiên hồ – không oán trời, không trách người, dưới học mà trên suốt mọi sự lý/thiên mệnh, hiểu được ta chỉ có trời chăng?. Đây cũng là một câu trong Luận ngữ.

(x) Nguyên văn: 行远自迩,登高自卑 – xíng yuǎn zì ěr, dēng gāo zì bēi – Hành viễn tự nhĩ, đăng cao tự ti. Đi đường xa bắt đầu từ bước gần nhất, leo núi cao bắt đầu từ chỗ thấp nhất. Ví dụ với việc để đạt được mục tiêu cao xa, cần phải bắt đầu từ bước gần nhất. Câu trong Trung dung.

(xi) Nguyên văn: 千里之行,起于足下 – Qiān lĭ zhī xíng, shĭ yú zú xià – thiên lý chi hành, khởi ư túc hạ. Đi xa ngàn dặm, bắt đầu bằng việc hạ chân xuống. Câu của Lão tử.

[Luận ngữ biệt tài – Nam hoài Cẩn]

Đây là Khổng tử tự bạch, tại sao Khổng tử đang nói đến vi chính, lại phải tự bạch như vậy? Khổng tử 72 tuổi mất. Ông dùng mấy câu đơn giản, nói về trải nghiệm một đời của bản thân, tinh thần gian khó phấn đấu. Thân thế của ông rất đáng thương, lúc phụ thân qua đời, ông hãy còn một người anh bán tàn phế và một người chị, đối với gia đình, ông phải gánh trách nhiệm này, tránh nhiệm của ông rất nặng. Ông nói lúc 15 tuổi, lập chí học tập, qua 15 năm, dựa theo kinh nghiệm phong phú của ông, cũng như tôi luyện của cuộc đời, đến 30 tuổi mới “lập.” “Lập” chính là “bất động,” đạo lý làm người, hành xử, xử thế đã bất biến không thay đổi, đã xác định rồi, trong cuộc đời này không đi theo con đường này không được. Nhưng đến lúc này hãy còn hoài nghi, hãy còn hiện tượng dao động, “tứ thập nhi bất hoặc,” đến 40 tuổi, mới không hoài nghi, nhưng đây là lời nói đối với học vấn nhân sinh thuộc phạm trù hình nhi hạ. Vẫn cần thêm 10 năm nữa, đến 50 tuổi, mới “ngũ thập nhi tri thiên mệnh.” Thiên mệnh là lai nguyên của vũ trụ, đây là phạm vi bản thể tư tưởng hình nhi thượng.

Đến “lục thập nhi nhĩ thuận,” ở đây lại có vấn đề, Khổng tử trước 60 tai có vấn đề gì không thuận, khoang tai phát nóng? Câu này rất khó giải thích, có khả năng là thời đó khắc thiếu chữ. Có khả năng là sau “lục thập nhi” có một nửa câu nữa. Nếu theo giảng giải của ngày xưa, đạo lý của “nhĩ thuận” là nói, từ 15 tuổi bắt đầu tu dưỡng học vấn, làm người xử thế, đến 60 tuổi, lời tốt lời xấu bất kể người khác nói gì, bản thân đều nghe được mà tuyệt không động tâm, không tức giận, người khác mắng chửi, cũng nghe được, trong tâm bình tĩnh. Chú ý! Tâm lý bình tĩnh  không phải là tử khí tối sầm, mà là rất hoạt bát có sinh khí, rất hiểu thị phi thiện ác, đối với người tốt cảm thấy đáng yêu đáng quý, đối với người xấu, cảm thấy cần giúp đỡ sửa thành người tốt, để có loại bình tĩnh này, loại học vấn này rất khó vậy. Sau đó lại thêm 10 năm nữa, mới “tòng tâm sở dục.” Văn hóa của Tây phương là tự do, nhưng phía sau còn một lời rất quan trọng nữa, “bất du củ.” Chúng ta ra đường mà xem, bánh bao nhà kia làm rất ngon, liền cầm ăn, “tòng tâm sở dục.” Như thế có được không? Cần “bất du củ.” Giữa người với người cần có 1 giới hạn. “Tòng tâm sở dục” – tự do nhưng không thể vượt qua giới hạn này, do đó “bất du củ,” đồng thời câu này cũng đạt tới đạo lý hình nhi thượng.

Nói đến đây, chúng ta cần nghiên cứu Khổng tử tại sao lại đem kinh nghiệm làm người, hành xử, học tập mấy chục năm đặt vào trong thiên “Vi chính.” Kinh nghiệm này vô cùng quan trọng, nguyên lai Vi chính chính là kinh nghiệm cuộc đời cần có.

Trên thế giới có hai thứ không có cách nào thực nghiệm được, chính là chính trị và quân sự. hai thứ này, bao la vạn tượng, biến động không ngừng. Nhìn từ lịch sử, chính trị của cổ kim đông tây, chuyên chế, quân chủ, dân chủ, tập thể, rốt cuộc như thế nào là tốt? Ai dám đưa ra kết luận? Đặc biệt là Trung Quốc hiện đại, vài chục năm gần đây, các loại văn hóa tư tưởng Tây phương, đều đến qua vũ đài Trung Quốc, nhưng tư tưởng Tây phương là từ văn hóa Tây phương, kết quả như thế nào? Do đó người vi chính cần hiểu nhân sinh, cần có kinh nghiệm, cần biết cách thấu hiểu. Do đó Khổng tử nói về kinh nghiệm của bản thân, tập hợp thành thiên Vi chính này, chính là nhắn nhủ những người liên quan đến chính trị, từ tu dưỡng của bản thân cho đến các gian nan của việc làm người, làm việc, đều không hề đơn giản, cần theo gương tinh thần này của ông, trong công việc cần hiểu rõ việc, mới đem đoạn này đưa vào thiên Vi chính.

Từ các đoạn ở trên, chúng ta đi đến một kết luận: bất kể là vi chính hay làm việc gì, cần dựa vào tích lũy kinh nghiệm cuộc sống. Nhưng tích lũy kinh nghiệm cuộc sống thành cái gì? Đơn giản 4 chữ: “nhân tình thế cố” (i).

Nói đến nhân tình thế cố, người Trung Quốc hiện tại đem danh từ này dùng ngược lại, đây là việc rất không hay. Ví dụ nói “tên này quá thế cố,” là đang mắng người. Đặc biệt khi người ngoại quốc phê bình người Trung Quốc, mấy năm trước trong Trung ương Nhật báo tôi đã thấy bài viết kiểu này, nói người Trung Quốc cái gì cũng tốt, nhưng quá trọng nhân tình. Phản ứng của thanh niên nói chung đều như nhau, cho rằng người ngoại quốc này viết văn phi thường thấu triệt, tôi nói các bạn không cần cho rằng người ngoại quốc ở Trung Quốc học hai ba năm, có thể hiểu văn hóa Trung Quốc, vậy thì các bạn đang làm cái gì? Vài chục năm ăn cơm đều là ăn không. Văn hóa Trung Quốc luôn nói về nhân tình, thứ gọi là “nhân tình,” không phải là đến dịp lễ tết, đem một cây thịt muối, đầu đường biếu đến cuối ngõ, nhà trái biếu đến nhà phải, ở ngoài biếu đi biếu lại truyền tay đến cả tháng, không chừng lại vật quy nguyên chủ. Đây chỉ là tượng trưng của tình lễ, “nhân tình” mà văn hóa Trung Quốc nói đến là chỉ “tính tình” (tư tưởng, cảm tình) giữa người với người. Nhân tình hai chữ này, bây giờ giải thích ra, bao gồm cả xã hội học, chính trị học, tâm lý học, khoa học hành vi các loại, cũng là cảm tình dung hợp của con người với nhau.

“Thế cố” chính là thấu triệt hiểu rõ sự vật, hiểu được quá khứ, hiện tại, tương lai. “Cố” là sự tình, “thế cố” là các loại sự tình trên thế giới, cần phải hiểu về người, hiểu về sự tình, mới gọi là đạt được “nhân tình thế cố.” Nhưng hiện tại sau khi dùng theo nghĩa ngược lại, những thứ gì mà tên này quá “thế cố,” trở thành tên khác của giảo hoạt, không thành thật; “Nhân tình” biến thành từ dùng để chỉ vỗ mông ngựa (nịnh nọt). Như thế này đã làm hoàn toàn làm sai đi văn hóa Trung Quốc, đặc biệt người ngoại quốc viết càng không đúng.

Vi chính lấy “đức” làm gốc, lại dùng học để bồi dưỡng giáo dục tinh thần đôn hậu ôn nhã của “thi,” đây không phải là đã chuẩn bị đầy đủ điều kiện cho vi chính sao? Không phải. Mà là giống như một người quân nhân, các loại lý luận tư tưởng quân sự cổ kim đông tây đều học kỹ càng, nhưng đến súng bắn thế nào cũng không biết, binh nhất binh nhì là thế nào cũng không hiểu, loại người này cùng lắm chỉ có thể làm tham mưu, tuyệt đối không thể dẫn binh ra chiến trường được. Do đó phong thái hành văn của “Luận ngữ,” nhẹ nhàng chuyển, đem lời tự bạch giản lược của Khổng tử cho vào đây. Cũng là nói với chúng ta, đạo lý của vi chính chính là cần thấu hiểu một cách chân chính về nhân tình thế cố.

Tôi từng nói qua, các loại tư tưởng chính trị trên thế giới tổng kết lại, bất kể là của Trung Quốc hay thế giới, điểm trọng yếu nhất, ở bốn chữ “an cư lạc nghiệp.” Bất kỳ tư tưởng, lý luận chính trị nào, đều chưa vượt qua phạm vi của bốn chữ này; đều không có ngoại lệ mà hướng đến làm sao để khiến con người có thể an cư, có thể lạc nghiệp. Đồng thời chúng ta ở nông thôn đến đâu cũng có thể thấy câu “phong điều vũ thuận, quốc thái dân an.” Tám chữ này, theo cách nhìn của người ngày nay, thấy vô cùng cổ. Nhưng trong lịch sử cổ kim đông tây, nếu thật sự có thể đạt đến cảnh giới 8 chữ này, đối với bất kỳ quốc gia nào, dân tộc nào, thời đại nào mà nói, vô luận là lý tưởng chính trị gì thì cũng là cũng đạt được rồi. Mà mấy câu cổ này, chính là đã thấu triệt tư tưởng triết học chính trị do nhân tình thế cố sinh ra.

(i) Nhân tình thế cố -人情世故 – rén qíng shì gù (lại là 1 câu của Văn thiên Tường; cố có nghĩa là việc; đây là chỉ kinh nghiệm, đạo lý, phương pháp xử thế làm người).

[Lời bàn của YL]

Hihi, đúng là “thiên mệnh” là danh từ con người đặt cho những thứ mình không đạt được, nhưng giới hạn của thiên mệnh là gì, không ai nói được. Vì thế để tri thiên mệnh, chắc là việc không tưởng.

Đùa vậy thôi, theo cách hiểu cụ Tiền Mưu, có vẻ cái gì cũng là thiên mệnh. Thiên mệnh ở khắp mọi nơi (hơi giống với khái niệm Đạo trong Đạo học). Thiên mệnh là giới hạn, là đạo, là đạo nghĩa. Như thế càng trừu tượng nữa, khác gì bảo cái gì cũng biện chứng :-P.

Các nhà Nho, có vẻ cũng tránh bàn sâu về thiên mệnh (hoặc là vì bàn không ra được, mà ai cũng không muốn tỏ ra nói nhiều, cái văn hóa đề cao chữ “ngộ” nó khổ thế :-P).

Cụ Tiền Mưu đúng là đặt Luận ngữ lên bàn thờ mà thờ, chết chết, lại cho là Khổng tử/Nho giáo cao hơn các loại tôn giáo khác.

Nho học thiên về dạy đạo đức, luân lý, nhưng lại bỏ qua các vấn đề triết học cơ bản, ví dụ như bàn cãi cho ra nhẽ thiên mệnh là gì và vị trí của thiên mệnh trong mối quan hệ với các khái niệm khác. Mà tác động của việc thiếu đào sâu phân tích, thiếu tranh luận “cho ra nhẽ,” dẫn đến cái gì cũng mơ mơ hồ hồ (hay còn gọi là trừu tượng??? cao siêu???), thiếu lập luận chặt chẽ. Ngay như cụ Tiền Mưu mỗi chỗ cũng quan niệm thiên mệnh một khác, tổng hợp lại cứ thấy tù mù, ý tứ đá nhau chan chát….

 

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.15

1.15 子贡曰:“贫而无谄,富而无骄,何如?”子曰:“可也。未若贫而乐,富而好礼者也。”子贡曰:《诗》云,‘如切如磋!如琢如磨’,其斯之谓与?”子曰:“赐也!始可与言《诗》已矣,告诸往而知来者。”

Zǐ Gòng yuē :“pín ér wú chǎn ,fù ér wú jiāo ,hé rú ?”

Zǐ yuē :“kě yě 。wèi ruò pín ér lè ,fù ér hǎo lǐ zhě yě 。” 

Zǐ Gòng yuē :“《shī 》yún :‘ rú qiē rú cuō ,rú zhuó rú mó ’,qí sī zhī wèi yǔ ?”

Zǐ yuē :“cì yě ,shǐ kě yǔ yán 《shī 》yǐ yǐ ,gào zhū wǎng ér zhī lái zhě 。”

 

Tử Cống viết: “Bần nhi vô siểm (1), phú nhi vô kiêu, hà như (2)?”

Tử viết: “Khả dã. Vị nhược bần nhi lạc (3), phú nhi hảo lễ giả dã.”

Tử Cống viết: ““Thi” vân, ‘như thiết như tha! như trác như ma (4),’ kì tư chi vị dư?”

Tử viết: “Tứ (5) dã! Thủy khả dữ ngôn “Thi” dĩ hĩ, cáo chư vãng nhi tri lai giả (6).”

 

[Chú thích – Dương bá Tuấn]

(1) 谄- chǎn- siểm: ý là xu phụ, phụng thừa.

(2) 何如 – hé rú – hà như: “Hà như” trong sách Luận ngữ, đều có thể diễn giải thành怎么样 – như thế nào.

(3) 贫而乐 – pín ér lè – bần nhi lạc: có bản viết “bần nhi lạc đạo.”

(4) 如切如磋,如琢如磨 – rú qiē rú cuō ,rú zhuó rú mó – như thiết như tha, như trác như ma: hai câu này trong “Thi Kinh. Vệ Phong. Kỳ áo.” Có 2 cách giải thích: một thuyết nói “thiết, tha, trác, ma” phân biệt chỉ bốn loại gia công đối với bốn nguyên vật liệu khác nhau là xương, ngà voi, ngọc và thạch, nếu không thì không làm thành vật dụng được; một thuyết nói gia công ngà voi và xương, thiết (cắt, khắc, E: cut) rồi vẫn cần tha (mài, E: polish), gia công ngọc, và đá, trác (mài giũa, E: cut [gems]) rồi vẫn cần ma (mài, E: rub, polish), có ý là đã tốt, hoàn mĩ, tinh xảo rồi còn cầu tốt hơn nữa. (Tinh ích cầu tinh – 精益求精 – jīng yì qiú jīng).

(5) 赐 – Tứ: tên của Tử Cống

(6) 告诸往而知来者- gào zhū wǎng ér zhī lái zhě – cáo chư vãng nhi tri lai giả: 诸, giống như chữ 之 – chi; 往 – vãng: sự tình trong quá khứ, sự tình đã qua; 来 – lai: sự tình trong tương lai, chưa đến.

 

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Tử Cống nói: Bần cùng nhưng không siểm nịnh ton hót, giàu có nhưng không kiêu ngạo tự đại, như thế thì thế nào? Khổng tử nói: Như thế cũng được. Nhưng vẫn không bằng người tuy bần cùng nhưng vui với đạo, tuy giàu có nhưng hiếu lễ (i).

Tử Cống nói: trong sách Thi nói, ‘cần giống như đối với các loại xương, sừng, ngà voi, ngọc thạch, cắt gọt nó, mài giũa nó,’ chính là nói ý này chăng?

Khổng tử nói: Tứ à, đệ tử có thể từ những lời giảng của thầy mà lĩnh hội được những ý tứ thầy chưa nói ra, cử nhất phản tam (ii), thầy có thể cùng đệ tử đàm luận “Thi” rồi.

(i) Chữ “hiếu” là chữ 好, động từ có nghĩa là yêu thích, giống như trong từ hiếu học, chứ không phải hiếu trong trung hiếu.

(ii) Cử nhất phản tam -举一反三 – jǔ yī fǎn sān: phản: dùng một thứ tương tự để giải thích hoặc suy luận ra thứ khác. Ở đây chỉ từ một việc mà suy rộng ra được các việc khác.

 

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Khổng tử hi vọng các đệ tử của mình cho đến bất kỳ ai, đều có thể đạt đến ‘bần nhi lạc đạo, phú nhi hiếu lễ’ cảnh giới lý tưởng này, do đó hàng ngày trong lúc giáo dục đệ tử, luôn đem tư tưởng này ra giảng cho họ. Bần nhi lạc đạo, phú nhi hiếu lễ, trong xã hội vô luận là nghèo hay giàu đều có thể yên ổn ở vị trí hoàn cảnh của mình, thì có thể bảo đảm ổn định xã hội. Khổng tử đối với Tử Cống khá hài lòng, trong đoạn hội thoại này có thể thấy điều đó, Tử Cống có khả năng tư duy độc lập, cử nhất phản tam – học một biết mười, do đó đạt được sự tán dương của Khổng tử. Đây là một đặc điểm rõ nét trong tư tưởng giáo dục của Khổng tử.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

无谄 – Vô siểm: người siểm thì nịnh nọt, bợ đỡ, khom lưng uốn gối đối với người khác.

无骄 – Vô kiêu: người kiêu thì khoe khoang, tùy tiện, ngạo mạn đối với người khác. Nghèo cầu nhiều thứ, nên dễ siểm nịnh. Giàu được người khác cậy nhờ vào, nên dễ kiêu ngạo.

可也: so ra là tốt, tốt nhưng vẫn có điểm chưa tốt hết.

未若贫而乐,富而好礼 – vịnhược bần nhi lạc, phú nhi hiếu lễ: có bản sau chữ “lạc” có chữ “đạo.” Nghèo mà có thể không siểm nịnh, giàu mà có thể không kiêu ngạo, đây đều là biết tự giữ bản tính của mình, [nhưng như vậy] vẫn chưa quên [sự phân biệt] giàu nghèo. Lạc đạo- vui với đạo thì sẽ quên sự nghèo túng của bản thân. Hiếu lễ – yêu thích lễ thì sẽ an với việc ăn ở thiện lương, vui với việc noi theo khuôn khép, trong lòng cũng quên đi sự giàu có của mình. Như thế mới càng đáng quý.

如切如磋,如琢如磨 – Như thiết như tha, như trác như ma: câu thơ này có hai giải thích. (Giống như chú thích (4) nên không chép lại ở đây). Theo giải thích của người xưa, thuyết thứ nhất thích hợp hơn.

其斯之谓与 – Kì tư chi vị dư: câu này theo các câu nêu ra phía trước, Tử Cống nghe Khổng tử giảng, biết vô siểm vô kiêu (không siểm nịnh không kiêu ngạo), có thể là do bản chất tốt đẹp tự nhiên từ lúc sinh ra; nhưng việc lạc đạo hiếu lễ (vui với đạo, ngôn hành tuân theo lễ), tất phải trải qua công phu học tập. Theo phần giảng giải ở sau, Tử Cống nghe Khổng tử giảng, vô siểm vô kiêu không bằng lạc đạo hiếu lễ, mà biết ý nghĩa của đạo là vô cùng, càng về sau càng thâm sâu, như sách Thi từng nói. Cái ngộ ra của Tử Cống, có lẽ là ngộ ra sự vô cùng của nghĩa lý (đạo lý). Xét đến nghĩa lý vô cùng, nên không thể bỏ đi học vấn.

告诸往而知来者 – Cáo chư vãng nhi tri lai giả: vãng: thứ đã xảy ra; lai: thứ chưa xảy ra. Theo câu trước mà giải thích, vô siểm vô kiêu không bằng lạc đạo hiếu lễ, là lời Khổng tử đã nói. Còn những lời trong kinh Thi về công phu học vấn, là lời Khổng tử chưa nói, Tử Cống đã ngộ ra đến đây, do đó Khổng tử khen ngợi là có thể cùng Tử Cống bàn về Thi. Theo câu sau mà giải thích, Khổng tử vừa nói vô siểm vô kiêu không bằng lạc đạo hiếu lễ, Tử Cống đã ngộ đến câu Thi này, để thấy tất cả mọi sự việc đều như vậy, không thể yên ổn, hài lòng với thành tựu nhỏ nhoi, mà không cố gắng để truy cầu sự tinh tiến. Cách giải thích đầu thỏa đáng dễ hiểu, cách giải thích sau quanh co phức tạp, nay chọn cách giải thích đầu.

Chương này có thể hiểu như sau: Tử Cống nói: “người nghèo có thể không siểm nịnh, người giàu có thể không kiêu ngạo, như thế có được không?” Khổng tử nói: “thế cũng tính là tốt, nhưng vẫn không bằng nghèo nhưng vẫn có thể vui với đạo, giàu nhưng vẫn biết hiếu lễ, như vậy sẽ càng tốt hơn.” Tử Cống nói: “Thi Kinh từng nói: giống như cắt, gọt, mài, giũa, không phải chính là ý tứ này chăng?” Khổng tử nói: Tứ à! Như thế này, có thể cũng con bàn luận Thi rồi. Nói với con điều này, con đã có thể hiểu đến điều khác.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Phần này nói đến Tử Cống. Chúng ta đặc biệt lưu tâm đến người này. Trước đây đã từng nhắc đến, Tử Cống trong số các đệ tử của Khổng tử, không những là nhà học vấn, mà còn là nhà ngoại giao, nhà chính trị, theo quan niệm hiện đại, còn là một cự tử (ông trùm) trong giới công thương.

Đọc Sử ký của Tư Mã Thiên, có thể thấy một thiên -货殖列传 – Hóa thực liệt truyện, bộ sách Sử ký này, trong lịch sử văn hóa Trung Quốc, có giá trị vô cùng. ‘Hóa thực liệt truyện’ nói về các nhà thương nghiệp, nói về tình hình phát triển kinh tế công thương xã hội. Văn hóa Trung Quốc trong quá khứ trước sau đều là khinh thường thương nghiệp, cái gọi là sĩ, nông, công, thương, đẳng cấp xã hội của thương nhân, ở hàng thấp kém nhất trong tứ dân, bị xã hội coi thường, mà Tư Mã Thiên đã đặc biệt đề cập đến thương nhân, viết ra chương sách này. Lịch sử Trung Quốc về sau đó, mới có tinh thần ‘Hóa thực liệt truyện,’ cũng ghi chép các việc của giới kinh thương. Tư Mã Thiên khi viết ‘Hóa thực liệt truyện,’ là đã nhận thấy sự phát triển của xã hội công thương liên quan đến huyết mạch chính trị quốc gia, không thể không chú ý, nhưng lúc đó không thể thúc đẩy một cách lộ liễu như vậy, cho nên ông đã viết ra ‘Hóa thực liệt truyện,’ ở trong bao gồm rất nhiều các ẩn ý ca ngợi.

[…]

Chúng ta nói đến Tử Cống, lại dẫn dắt đến Sử ký, Tư Mã thiên trong ‘Hóa thực liệt truyện,’ đặc biệt nhắc đến Tử Cống, phi thường giỏi giang, nếu nói cường điệu một chút, tư tưởng học thuyết của Khổng Tử, về sau có thể lưu truyền cho hậu thế, hoàn toàn dựa vào sức của Tử Cống.

Chương này rất đáng chú ý. Các chương trước chủ yếu giảng về học vấn, chương này miêu tả câu chuyện Tử Cống hỏi Khổng tử, như một đoạn phim vậy. Tử Cống nói, thầy ạ, một người rơi vào cảnh nghèo, thiếu may mắn, mà vẫn không nịnh nọt ton hót, không cúi đầu; một người giàu có đắc ý, mà vẫn có thể đối với người khác không kiêu ngạo, như thế nào? […]

Chúng ta thường nghe nói ‘đắc ý vong hình’ (i), nhưng theo kinh nghiệm cuộc sống vài chục năm của ta, cần có thêm một câu, “thất ý vong hình.” Có người vốn là khá tốt, khi anh ta phát tài, đắc ý, xử lý mọi việc đều rất hợp lý, đích đáng, gặp người khác cũng hòa nhã giữ lễ; nhưng một khi anh ta thất ý, đến người khác cũng ko muốn gặp, thể hiện ra một bộ dạng đáng ghét, cảm giác tự ti, các loại phiền não đều đến, con người hoàn toàn thay đổi – thất ý vong hình. Do đó ta mới lĩnh hội được một câu mà Mạnh tử nói: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất (ii). Một người có học vấn, chỉ cần làm được “bần tiện bất năng di” – có thể đạt tới sự thanh nhàn, bình thản, cái gọi là “duy đại anh hùng năng bản sắc”- chỉ có đại anh hùng mới có thể giữ được bản sắc (iii), vô luận đắc ý thế nào cũng vẫn giữ được như vậy, thất ý cũng vẫn như vậy, kể cả không có cơm ăn áo mặc cũng vẫn như vậy, đây gọi là tu dưỡng đến cảnh giới cao, đạt được tu dưỡng như thế này là rất khó.

Do đó câu Tử Cống nói “bần nhi vô siểm, phú nhi vô kiêu,” đích xác không dễ dàng, rất khó đạt được. Nhưng Khổng tử chỉ nói “cũng được” mà thôi. Ở đằng sau hãy còn “nhưng,” nhưng gì? “Vị nhược bần nhi lạc, phú nhi hiếu lễ giả dã.” Anh có thể đạt được đến mức là nghèo, thất ý nhưng không cúi đầu trước người khác, không nịnh nọt, tự cho bản thân như thế là to, không để người khác vào mắt, kì thực lại đầy sự yếu kém trong lòng, hoặc là anh cảm giác người khác tốt hơn, bản thân kém hơn, thế cũng là giữ một loại tâm lý so sánh, tâm lý thù nghịch, do đó tu dưỡng vẫn chưa đủ. Cùng một đạo lý như vậy, anh đạt được giàu có nhưng không kiêu, dùng lễ đối đãi với người khác, do anh cảm thấy bản thân có tiền có địa vị, không dùng thái độ này đối xử với người khác là không được, như thế cũng không đúng, vẫn là giữ cảm giác ưu việt hơn người khác. Do đó nếu đạt đến sự bình dị, thật sự không kiêu ngạo, tức là ở bất cứ vị trí nào, trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng đều có thể bình thường thành thực như vậy, như thế mới là đúng. Vì vậy Khổng tử nói với Tử Cống, như những gì con nói, mới gọi là đạt mà thôi, hãy nên tiến thêm một bước nữa, làm được “bần nhi lạc, phú nhi hiếu lễ.” An bần lạc đạo – An ổn trong cảnh nghèo mà vui với đạo. “An bần” là vô cùng khó, Khổng tử sau đó còn có câu “Quân tử, tố phú quý, hành hồ phú quý, tố bần tiện, hành hồ bần tiện” – quân tử, ở vào cảnh phú quý, nên làm việc người phú quý nên làm; ở vào cảnh nghèo khổ, làm việc người ở cảnh nghèo khổ nên làm (iv). Do đó, có một số người bạn rất xuất sắc, rất thanh cao, lúc nói chuyện phiếm thường hỏi: Anh xem tôi, con người như thế nào? Ta nói: Con người tôi không hoàn toàn đồng ý với anh, anh rất thanh cao, chẳng qua có một chút tùy tiện trong việc truy cầu sự thanh cao. Một người nên thanh cao, nhưng có người theo đuổi sự thanh cao một cách tùy tiện cẩu thả, hoặc vì thể hiện sự thanh cao của bản thân, mà nhẫn nhịn hy sinh. Như thế thật sự là không cần thiết, chính là không bình thường, không bình thường không phải tinh thần chân chính của việc hàm dưỡng, tu dưỡng bản thân. Do đó Khổng tử nói với Tử Cống, cần phải an bần lạc đạo, cần bình thường thành thực, Khổng tử nói nếu như đã đạt đến việc là không kiêu ngạo rồi, vẫn chưa tính là tốt, cần tiến thêm một bước nữa, hiếu lễ, tôn trọng người khác và yêu người khác.

Phú nhi hiếu lễ, chúng ta tiếp xúc với nhân sĩ giới công thương là có thể nhìn ra, những người có tiền trong xã hội, có người vô cùng đáng ghét, không có học vấn (v), mở miệng ra là dung tục không chịu nổi, do đó giàu có không nhất định là hiếu lễ. Hiếu lễ không nhất định là chỉ nói lễ mạo, mà là trong các phương diện học vấn, làm người, luôn luôn cầu tiến. Giả dụ một người thật sự giàu có, có thể không ngừng truy cầu học vấn, không ngừng chú ý đến đạo lý làm người, hành xử, như thế mới là tốt. Có người sau khi công thành danh toại, thường thoát ly dần quan hệ với người thân, bạn bè, đây là việc thật đáng tiếc.

Nói đến đây, lại thấy, biết Tử Cống đã phục thầy, Khổng tử vô cùng xuất sắc, do đó Tử Cống mới nói một câu: ‘Thi vân, ‘như thiết như tha! như trác như ma,’ kì tư chi vị dư!’ Thi này là thơ cổ, ai viết vậy? Là tiền bối cổ nhân viết, thời đó lưu truyền rất rộng. “Như thiết như tha, như trác như ma.” Tám chữ này là dẫn nguyên tác thơ cổ. Bài thơ này nói về phương pháp làm ngọc thạch, lúc mới đầu chỉ có một tảng đá có ngọc to bằng cái mặt bàn. Mua về, trước tiên cần cắt ra, ở trong có thể có hàng trăm mặt nhẫn, cũng có thể chỉ có chục cái. Bước đầu tiên làm vật dụng bằng ngọc, là dùng cưa để cưa tảng đá ra, gọi là thiết (bổ, cắt); tìm thấy ngọc, thì dùng giũa để giũa phần đá ra, là bước thứ hai gọi là tha (giũa); sau khi giũa ra được miếng ngọc, thì từ từ khắc, mài, mài thành hình nhẫn, hình kê tâm (tim gà), hình vòng tay, một hình hay vật dụng nào đó, đây là trác (mài); cuối cùng cần đánh cho bóng lên, khiến cho ngọc phát ra ánh sáng mĩ lệ thu hút, là ma (mài, cọ, xát). Thiết, tha, trác, ma, đây chính là ví dụ cho giáo dục. Một người sau khi sinh ra, cần tiếp thu giáo dục, cần từ kinh nghiệm cuộc sống, mà học hỏi dần, học vấn tăng một bước, công phu càng tinh thế, vượt qua được, học vấn càng khó, vì thế mới “như thiết như tha, như trác như ma, kì tư chi vị dư!.” Câu này đặc biệt đề cao tư tưởng của Khổng tử, như Tử Cống nói: Theo đuổi học vấn như việc chế tạo ngọc, thiết tha trác ma, con hiểu rồi. Sau đó Khổng tử mới trả lời Tử Cống: ‘Tứ dã! Thủy khả dữ ngôn “Thi” dĩ hĩ, cáo chư vãng nhi tri lai giả.’ Khổng tử nói Tử Cống hiểu được đạo lý này, giờ có thể bắt đầu đọc Thư, cũng có thể bắt đầu đọc Thi, vì ta vừa mới chỉ ra đạo lý này, con đã tự suy ra được đạo lý khác. […]

Nhưng câu này nghiên cứu sâu vào lại nảy sinh ra một vấn đề, là vấn đề về “thi” (thơ). Chúng ta biết văn hóa Trung Quốc, trong lĩnh vực văn học, có một quá trình phát triển, đại thể tình hình, từ cái gọi là Hán văn, Đường thi, Tống từ, Nguyên khúc, Minh tiểu thuyết, đến triều Tranh, ta cho là đối liễn, đặc biệt như danh tướng thời kỳ Trung Hưng là Tằng Quốc Phiên, Tả Tông Đường đã phát triển đối liễn đến trình độ cao. Diễn biến hình thái văn học vài nghìn năm của Trung Quốc, đại loại là như vậy.

Trưa hôm nay có một vị học giả, nói đến tác phẩm của rất nhiều người, ông ý nói đã xem qua một số tác phẩm, tùy tiện mà xem, không chú ý lắm. Hiện tại một số tác phẩm xem thật là khó. Ông ý nói là thật vậy. Có một số người có thiên tài văn học, thuận tiện viết vài câu, từ cách viết mà nhìn, liền biết ngay anh ta sẽ có thành tựu trong lĩnh vực văn học; cũng có những người có tài học một đời, nhưng cũng không thể biến thành nhà văn. Mặc dù viết văn có thể viết khá tốt, nhưng đến một trình độ nhất định nào đó, bỏ ra công phu như thế nào cũng không thể đột phá giới hạn của mình, văn chương của anh ta trước sau chỉ như văn chương của một nhà khoa học. […]

Cho đến thơ, trước đây chúng ta đọc sách, có không ít người từ tiểu học (không phải tiểu học ngày nay) đã bắt đầu học thơ. Người nào cũng biết làm thơ, mặc dù có phải nhà thơ hay không, lại là một vấn đề khác. Có người hỏi chúng ta coi trọng việc dạy thơ từ khi nào, đây là một vấn đề rất lớn. Thiên “Vi Chính” tiếp theo sẽ có một phần quan trọng, giải thích cho vấn đề này. Mọi người hay cho rằng, làm thơ chính là không có bệnh mà kêu rên (vi), biến thành thợ làm thơ. Hồi trước cũng có người giễu cợt loại thơ này, cái gọi là “quan môn bế hộ yểm sài phi” (vii) – đóng cổng, đóng cửa, đóng cửa phên, đóng cổng chính là đóng cửa, đóng cửa cũng là đóng cổng, đóng cửa phên cũng là đóng cổng. Bằng trắc rất đúng luật, vần cũng rất đúng, nhưng nếu tập hợp lại với nhau, chẳng có ý nghĩa gì. Đây chính là không có bệnh mà kêu rên, loại văn chương như thế này, thực tại có vấn đề, đã biến thành “quan môn bế hộ yểm sài phi.” […]

Ở đây lời Khổng tử nói với Tử Cống, đề cập đến đạo lý của “Thi” là gì, người làm thơ học thơ, không chỉ là để làm một nhà thơ […]. Mục đích của thơ, không phải là chuyên làm văn học, đạo lý ở trong vô cùng quan trọng. Liên quan đến văn hóa thơ, Khổng tử tiếp theo đã nói với Tử Cống, đọc thơ, không phải là để dạy con trở thành một con mọt sách chua chát, nhất định cần “cáo chư vãng nhi tri lai giả.” Nào phải chỉ làm thơ, chúng ta học lịch sử cũng như vậy, chúng ta tại sao phải học lịch sử? Hiện tại việc học và nghiên cứu lịch sử tại các viện nghiên cứu và khoa lịch sử của các trường đại học, mặc dù đạt được rất nhiều thành tựu, nhưng đối với việc làm người, hành xử, lại không có chút tác dụng nào. Trong quá khứ chúng ta học lịch sử, chủ trương “học dĩ trí dụng” – học là có thể dùng (viii), tinh thần chính là “cáo chư vãng nhi tri lai giả,” hiểu được quá khứ liền biết được tương lai, đây chính là tinh thần của thơ.

Đến cuối cùng, đây chính là kết luận của một thiên Luận ngữ. Mọi người có thể dễ dàng nhận thấy, mở đầu của Thiên thứ nhất “Học nhi” của Luận ngữ: “Học nhi thời tập chi bất diệc duyệt hồ? hữu bằng tự viễn phương lai bất diệc lạc hồ? Nhân bất tri nhi bất uấn bất diệc quân tử hồ?” Chúng ta xem Thiên này kết luận như thế nào?  Có thể thấy mở đầu kết luận liên kết đến nhau.

(i) Đắc ý vong hình -得意忘形 – dé yì wàng xíng (hình ở đây là hình thái; hình dung người đắc ý, cao hứng đến độ mất đi cả tư thế thường ngày. Câu trong Tấn thư, Nguyễn Tịch truyện).

(ii) Nguyên văn câu của Mạnh tử: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, thử chi vị đại trượng phu – 富贵不能淫,贫贱不能移,威武不能屈,此之谓大丈夫. Đây là ba tiêu chuẩn nam tử hán đại trượng phu do Mạnh tử đề xuất: vinh hoa phú quý không thể nhiễu loạn tâm trí được, nghèo khó bần cùng không thể khiến cho thay đổi ý chí được, cường quyền uy vũ không thể làm cho khuất phục được, chỉ khi đạt được 3 tiêu chuẩn này, mới có thể gọi là nam tử hán đại trượng phu chân chính.

(iii) Có một câu ghép từ thời Minh: Duy đại anh hùng năng bản sắc, Thị chân danh sĩ tự phong lưu -唯大英雄能本色,是真名士自风流.

(iv) Quân tử, tố phú quý, hành hồ phú quý; tố bần tiện, hành hồ bần tiện -君子,素富贵,行乎富贵;素贫贱,行乎贫贱 – quân tử, ở vào cảnh phú quý, nên làm việc người phú quý nên làm; ở vào cảnh nghèo khổ, làm việc người ở cảnh nghèo khổ nên làm. Câu này là ở trong Lễ Ký.

(v) Bất học vô thuật -不学无术 – bù xué wú shù (Câu trong Hán thư; nguyên chỉ không có học vấn do đó mà không có biện pháp, hiện chỉ không có học vấn, không có bản lĩnh, tài năng).

(vi) Vô bệnh thân ngâm – 无病呻吟 – wú bìng shēn yín (xuất từ một bài Lâm Giang tiên của Tân khí Tật thời Tống; không có bệnh mà kêu rên; dùng để hình dung không có việc gì ưu thương nhưng lại than thở cảm thương, cũng để hình dung tác phẩm nghệ thuật không có tình cảm thật sự, chỉ giả vờ mà làm thành).

(vii) Quan môn bế hộ yểm sài phi -关门闭户掩柴扉 – đóng cổng, đóng cửa, đóng cửa phên: nói chung để ám chỉ làm thơ lải nhải, trong thơ mỗi câu đều nhắc lại cùng một ý, một sự việc, chỉ là lắp ghép các từ khác nhau lại với nhau.

(viii) Học dĩ trí dụng – 学以致用 – xué yǐ zhì yòng (học được kiến thức là có thể sử dụng trong thực tế).

Hàn sinh

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.14

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.14

1.14 子曰:“君子食无求饱,居无求安,敏于事而慎于言,就有道而正焉,可谓好学也已。”

Zǐ yuē :“jūn zǐ shí wú qiú bǎo ,jū wú qiú ān ,mǐn yū shì ér shèn yū yán ,jiù yǒu dào ér zhèng yān ,kě wèi hào xué yě yǐ 。” 

Tử viết: “Quân tử thực vô cầu bão, cư vô cầu an, mẫn ư sự nhi thận ư ngôn, tựu (1) hữu đạo (2) nhi chính (3) yên, khả vị hiếu học dã dĩ.”

[Chú thích]

(1) 就 – jiù – tựu: tiếp cận, tiến gần đến, tiếp bước, noi theo

(2) 有道 – yǒu dào – hữu đạo: chỉ người có đạo đức.

(3) 正 – zhèng – chính: khuông chính, đoan chính – sửa chữa, sửa cho đúng lại.

[Giải nghĩa câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Quân tử, ăn uống không cầu no đủ, ở không cầu dễ chịu, đối với công việc cần lao mẫn tiệp, nói lời cẩn thận thận trọng, đến gần người có đạo đức mà tự sửa bản thân, như thế có thể nói là hiếu học vậy.”

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Trọng điểm của chương này là đề ra yêu cầu đạo đức đối với quân tử. Khổng tử cho rằng, một người có đạo đức, không nên chú tâm quá mức về các vấn đề ăn uống ở của bản thân, mà trong công việc nên cần lao (siêng năng chịu khó) mẫn tiệp (nhanh nhẹn), cẩn thận, thận trọng, lại còn có thể thường xuyên kiểm điểm bản thân, nhờ người có đạo đức giúp mình sửa chữa ngôn hành cử chỉ. Làm nên quân tử cần khắc chế truy cầu các dục vọng thụ hưởng vật chất, mà đem lực chú ý vào bồi dưỡng phẩm chất đạo đức của bản thân, điều này mới đáng học hỏi.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Thực vô cầu bão, cư vô cầu an: không cầu ấm no, chí hướng ở tại việc học hành, không rảnh rỗi mà cầu chuyện ấm no. Một giỏ thức ăn, một bầu nước uống, ở nơi ngõ hẹp, mà vẫn vui trong hoàn cảnh của mình. Nếu như chí hướng ở tại việc cầu ấm no, rồi cả đời cũng sẽ bận rộn không có thời gian.

Mẫn ư sự nhi thận ư ngôn: mẫn: nhanh nhẹn, mau lẹ; thận: thận trọng. Đối với sự việc cố gắng hết sức của mình cũng không đủ, đối với lời nói không dám nói dư lời nào.

Tựu hữu đạo nhi chính yên: hữu đạo, là nói người có đạo đức hoặc học đạo; chính: hỏi mình đúng hay sai. Nếu có thể làm được như những điều kể trên, lại vừa tựu hữu đạo nhi chính (hướng đến người có đạo đức mà hỏi việc đúng sai), lúc đó có thể gọi là hiếu học.

Chương này có thể diễn giải như sau: quân tử, ăn không cầu no, ở không cầu an, làm việc nhanh nhẹn, nói lời thận trọng, lại có thể thường xuyên theo người có đạo mà tự nhận ra và sửa chữa việc đúng sai của bản thân, như thế có thể tính là hiếu học vậy.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Nói về đạo lý của học vấn, không chỉ là đọc sách “chết,” mà còn là chú trọng đến việc làm người xử thế trong hiện thực nhân sinh. Khổng tử nói sinh hoạt không cần quá xa xỉ, “thực vô cầu bão,” đặc biệt là trong hoàn cảnh khổ nạn khó khăn, không cần có yêu cầu quá mức, quá đầy đủ xa xỉ. Thái độ của Khổng tử đối với sinh hoạt đời sống của bản thân, tiêu chuẩn làm người được ghi trong thiên Hương đảng. “Cư vô cầu an,” nơi ở chỉ cần thỏa đáng, có thể an bần lạc đạo (i), không cần tham lam truy cầu sự an dật (yên vui an nhàn) quá độ, tham lam truy cầu sự thụ hưởng quá độ. Ý nghĩa của hai câu này, là không truy cầu hưởng thụ vật chất sinh hoạt, mà coi trọng sự thăng hoa của đời sống tinh thần. “Mẫn ư sự nhi thận ư ngôn,” bao gồm tất cả các loại trách nhiệm, các loại việc nên làm, cần mẫn tiệp – lập tức làm. “Thận ư ngôn,” không nên nói loạn. “Tựu hữu đạo nhi chính yên,” “đạo” này là chỉ học vấn, tu dưỡng. Thế thì nơi nào gọi là “hữu đạo”? Sách của người xưa, trong sách chính là “hữu đạo”, từ các đạo lý làm người xử thế trong sách mà tu thân sửa mình, như thế này gọi là hiếu học. Có thế thấy thiên Học nhi này, không hề nói đọc sách là học vấn, trước sau có rất nhiều chỗ, đều chứng minh như vậy.

(i) An bần lạc đạo – 安贫乐道 – ān pín lè dào (câu trong Hậu Hán Thư. An ổn với việc nghèo khó, lấy việc kiên trì với đạo của mình làm lạc – niềm vui. Đạo trước chỉ đạo đức, sau chỉ cả lý tưởng, niềm tin ).

Si

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.9

Thiên 1. Học nhi. Chương 1.9

1.9. 曾子曰:“慎终追远,民德归厚矣。”

Zēng zǐ yuē :“Shèn zhōng zhuī yuǎn ,mín dé guī hòu yǐ 。” 

Tăng tử viết: “Thận chung (1) truy viễn (2), dân đức quy hậu hĩ.”

[Dịch câu – Dương Bá Tuấn]
Tăng tử nói: cẩn thận xử lý việc cha mẹ qua đời, truy niệm các đời tổ tiên, tự nhiên sẽ khiến cho lão bách tính trung hậu thật thà.

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]
1. Thận chung -慎终 – Shèn zhōng: Chú thích của Trịnh Huyền: “老死曰终?” (già mất gọi là chung). Có thể thấy chữ “chung” là chỉ cha mẹ qua đời. Nội dung của thận chung, “Luận ngữ chính nghĩa” của Lưu Bảo Nam dẫn lời của Tăng tử trong “Đàn cung” là chỉ các việc khâm liệm, mai táng cần thành tâm thành tín, không sẽ hối hận.
2. Truy viễn – 追远 – zhuī yuǎn: nói cụ thể là chỉ “tễ tự tẫn kì kính” – trong việc tế tự cần tận lòng tôn kính. Hai chú thích này đều suy từ mặt chữ mà ra.
[Luận ngữ tân giải – Tiền Mục]

Thận chung: chung, từ ngữ chỉ tang lễ. Người mất sẽ không quay lại, hơn nữa càng đi càng xa. Nếu như lễ tiễn người đi  mà không làm hết sức, sau có hối cũng không kịp, do đó cần làm cẩn thận.

Truy viễn: viễn, từ ngữ chỉ tế lễ. Người đã mất cách ta lâu rồi, vẫn có thể luôn nhớ đến không quên, mà sau đó làm lễ tế. Con người ở cùng với nhau, dễ sinh lòng tính toán so đo công danh lợi lộc, mà tình thâm ý trọng đáng ra phải có giữa người với người, cũng thường bị che khuất đi không dễ thấy. Nay đối với người đã mất, trước chỉ có  tình nghĩa, sau càng không nhận được báo đáp gì [mà vẫn nhớ đến và tế bái – YL], thì càng thấy độ sâu đậm của tình ý trong đó. Do đó làm lễ tang và lễ tế mà dùng tận bi ai và thành tâm, có thể khai mở, phát dương nhân tâm (人心 – lòng người/ trái tim của con người), khiến cho đạo đức của con người hàng ngày đều hướng về sự đôn hậu (thật thà trung hậu).

Nho gia không đề xướng tín ngưỡng tông giáo, cũng không chủ trương tồn tại linh hồn sau khi chết, nhưng vẫn cực kỳ coi trọng lễ tang tế bái, vì đây là một biểu hiện của thứ tình cảm  chân thực thuần khiết nhất trong việc sinh tử, chính là thứ mà Khổng tử gọi là 仁心 -“nhân tâm” và 仁道- “nhân đạo” (lòng nhân/đạo nhân)(i). Khổng môn thường lấy việc giáo dục con người ta đức “hiếu” để đạt được đến “nhân tâm” của nhân loại. Lễ tang tế bái, là biểu hiện cuối cùng của đạo hiếu. Đối với người mất có thể tận chân tình, từ chỗ người mất không đạt được lợi ích thực tế nào, từ chỗ người sống cũng không hy vọng báo đáp nào, việc này vượt ra ngoài phạm vi của tính toán công danh lợi lộc, do đó càng thấy tình ý chân thực. Biết rõ người đã mất rồi, mà không nhẫn tâm đối đãi chung chung, điều này tức là thứ mà Mạnh tử gọi là “bất nhẫn chi tâm.” Đối với người đã mất rồi mà còn không thể nhẫn tâm, thì đối với người vẫn sống có thể biết thế nào rồi. Cho nên một Nho giả có thể theo lý và trí mà nói rằng, mặc dù không khẳng định người sau khi mất đi có ma quỷ hay không, nhưng vẫn từ chỗ tình cảm sâu sắc nhất của  con người mà thiết lập việc giáo dục,  mà tuân theo việc thận chung truy viễn,  xác thực cũng là điều bắt buộc. Chương này của Tăng tử, là một phần của việc đề cao đạo nhân của Khổng môn vậy.

Câu này có thể diễn giải là,

Tăng tử nói: đối với lễ tang người mất có thể cẩn thận, đối với người mất đã lâu có thể không ngừng nhớ đến, như thế có thế làm cho phong tục đạo đức của xã hội hàng ngày đều hướng theo sự trung hậu thành thật. 

(i) Chú ý hai chữ “nhân” khác nhau. Chữ nhân trong 人心 -“nhân tâm” là chỉ con người. Chữ nhân trong 仁心 -“nhân tâm” – lòng nhân và 仁道 ” – nhân đạo” – đạo nhân, cũng là chữ nhân trong “nhân nghĩa lễ trí tín” mà chúng ta hay nói, là giá trị  đạo đức, khoan dung, thương yêu người khác, thiện lương, vân vân và vân vân. 

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Cách giải thích của người xưa với câu này, ta cũng có chút ý kiến. Giảng đến đạo hiếu, thời xưa giảng về đạo hiếu trong văn hóa của Trung Quốc,  nguyên là rất quan trọng, chúng ta thấy trong lịch sử tấu sớ gửi lên hoàng đế, thường có câu “thánh triều dĩ hiếu trị thiên hạ” – triều ta lấy hiếu trị thiên hạ (i). Giống như là cơ sở tinh thần của hiến pháp, thời xưa chúng ta không có danh từ “hiến pháp”, nhưng có tinh thần này  – tinh thần triết học của hiến pháp, lấy đạo hiếu làm cơ sở, làm trung tâm. Do đó các hoàng đế thời xưa, quyền khuynh thiên hạ (ii), một khi về nội cung, gặp mẫu hậu, hoàng đế cũng phải quỳ xuống, hoàng thái hậu đối với một vấn đề nào đó nói một câu không nên, hoàng đế liền không thể không thay đổi (nhưng ở nội cung, mẫu hậu tất không can dự triều chính). Dĩ nhiên, chúng ta trước giờ luôn lấy hiếu trị thiên hạ, nhưng gượng ép lôi vào để giải thích, cũng không đúng, người xưa đã giải thích “thận chung truy viễn” là đạo hiếu. Do đó ngày xưa ở đại lục, trên bài vị tổ tông đặt trong phòng thờ của người ta, luôn là 4 từ “thận chung truy viễn,” đây chính là do người xưa giải thích “thận chung truy viễn” là lời riêng dành cho đạo hiếu. Họ giải thích như sau: cẩn thận đối với người đã mất, là nói đối với người đã mất, tiền nhân đã mất, chúng ta phải hoài niệm họ (nhớ đến/ nghĩ đến). “Dân đức quy hậu hĩ,” được giải thích là, nếu như ai cũng có thể hiếu thuận với cha mẹ, hiếu với tổ tông, phong tục xã hội có thể trở nên nhân hậu.

Ở đây có vấn đề là,  ý tứ thì đúng, nhưng giải thích khiên cưỡng. Tại sao lại trích dẫn câu này của Tăng tử mà thực chất nói về học vấn? “Thận chung truy viễn” có ý nghĩa gì? “终-Chung” là kết quả, “远-viễn” là nguyên nhân rất xa, dùng một câu theo quan niệm hiện đại để nói là có thể giải thích ngay, “một người nếu hy vọng có một kết quả tốt, không bằng có một mở đầu tốt.” Muốn cẩn thận đối với kết quả, trước hết cần truy về nguyên nhân sâu xa, kết quả của mỗi việc, đều là do nguyên nhân sâu xa mà nên, ở đây chúng ta có thể trích dẫn một câu Phật học: Bồ tát úy nhân, phàm phu úy quả – Bồ tát sợ nhân, phàm phu sợ quả (iii). Bồ tát của Phật gia, đại loại như thánh nhân của Nho gia Trung Quốc, bậc thánh nhân cực kỳ coi trọng động cơ của một sự việc. Ví dụ có một người bạn đến rủ ta làm ăn, động cơ của anh ta, cũng tức là nguyên nhân ban đầu, chúng ta cần phải chú ý, có thể là nguyên nhân tốt, cũng có thể là nguyên nhân xấu, nếu như là nguyên nhân xấu, liền bảo ta làm giám đốc, tương lai nếu phải ngồi tù cũng là ta, nếu như vậy thì nguyên nhân này ta cần chú ý, do đó bồ tát chính là sợ “nhân” này. Còn “phàm phu” – người bình thường/phổ thông sợ “quả,” giống như người phạm tội tử hình đến khi chấp hình mới hối hận, hậu quả này đến rồi anh ta mới biết sợ. Cần chú ý người có học vấn, đối với mỗi sự việc, lúc có động cơ cần chuẩn bị tốt, cũng như vừa mới nói, muốn có kết quả tốt, không bằng có khởi đầu tốt, cũng có ý là lúc bắt đầu cần thận trọng.

Do đó ý nghĩa của “thận chung truy viễn,” là nói bất kỳ vấn đề gì nếu muốn kết quả tốt, cần có khởi đầu tốt, văn hóa phương Tây có một câu tục ngữ: khởi đầu tốt đã là thành công một nửa (iv), cũng chính là đạo lý này. Tất cả mọi người đều đều hiểu đạo lý này, liền “dân đức quy hậu hĩ.” Phong tục đạo đức xã hội, tự nhiên đều hướng về nhân hậu nghiêm cẩn (nghiêm túc, cẩn thận). Đây là đạo lý của học vấn.

(i) thánh – 圣 – shèng: là từ thánh trong thánh nhân, thần thánh, cũng là từ tôn xưng vua chúa hoàng đế.

(ii) Quyền khuynh thiên hạ – 权倾天下: quyền lực khuynh đảo thiên hạ – có thể làm nghiêng ngửa thiên hạ.

(iii) Bồ tát úy nhân, phàm phu úy quả -菩萨畏因,凡夫畏果 – Bồ tát sợ nhân, phàm phu sợ quả.

(iv) Ta thấy câu này: A good beginning makes a good ending; the beginning is the half of every action.

[Nhận xét của YL]

Dương Bá Tuấn/Tiền Mục giải nghĩa “đức” dày thành “trung hậu, thật thà.” Có vẻ như trong Nho giáo, rất coi trọng các giá trị này, lấy đây làm nền tảng cho việc tu tâm dưỡng tính, làm người tốt, nền tảng của đạo đức, của đức nhân. Các mối quan hệ bắc cầu, mạng lưới: hiếu- trung – trung hậu – thật thà- nhân đức- đạo đức, thật là phức tạp, làm người học loạn hết cả lên 🙂

Đoạn phân tích của Tiền Mục tiền bối, viết như lối văn cổ, thật khó hiểu, làm ta vò đầu bứt tai cả tuần, rất có tính gây trầm cảm.

Riêng cách giải thích của Nam Hoài Cẩn là khác với mọi người khác, cũng tức là khác so với số đông. Nếu đặt câu “thận chung truy viễn, dân đức quy hậu hĩ” riêng biệt, ta thấy cách giải nghĩa của Nam tiền bối có lý. Khi đọc cách giải thích của người khác, từ cẩn thận việc tang lễ mà suy ra tận đức hạnh của nhân dân sẽ đôn hậu hơn, quả có thấy con đường suy diễn hơi lắt léo (hoặc do đạo hiếu của ta không đủ, nên không thấy được sự tinh vi vi diệu trong đó). Tuy nhiên do vốn kiến thức ít ỏi, ta không dám khẳng định là cách giải nghĩa này có đúng với tinh thần của Tăng tử hay không, bởi vì để khẳng định, cần phải đọc rất nhiều sách vở thời xa xưa, để xem thời đó, người ta hay dùng từ “chung” với “viễn” theo nghĩa gì, cha mẹ mất – tổ tiên, hay là kết quả – nguyên nhân, hay có những câu nào tương tự hay không…

Tốt nhất vẫn là, “to each according to his needs” hả, hôm nay ta Marxist dễ sợ, 🙂

Si

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: