Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.5

孟懿子(1)问孝,子曰:“无违。(2)”樊迟(3)御(4),子告之曰:“孟孙(5)问孝于我, 我对曰无违。”樊迟曰:“何谓也。”子曰:“生,事之以礼;死,葬之以礼,祭之以礼。”

Mèng yì zǐ wèn xiào, Zǐ yuē: “wú wéi”.

Fán chí yù, zǐ gào zhī yuē: “mèng sūn wèn xiào yú wǒ, wǒ duì yuē wú wéi.”

Fán chí yuē: “héwèi yě.” Zǐ yuē: “sheng, shì zhī yǐ lǐ; sǐ, zàng zhī yǐ lǐ, jì zhī yǐ lǐ.”

Mạnh Ý tử (1) vấn hiếu, Tử viết: “Vô vi (2).”

Phàn Trì (3) ngự (4), Tử cáo chi viết: “Mạnh Tôn (5) vấn hiếu ư ngã, ngã đối viết vô vi.”

Phàn Trì viết: “Hà vị dã.” Tử viết: “sinh, sự chi dĩ lễ; tử, táng chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ.”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. Mạnh Ý tử: Đại phu nước Lỗ, thuộc một trong “tam gia” – ba họ tộc lớn (chỉ ba khanh đại phu nước Lỗ họ Quý Tôn, Thúc Tôn, Mạnh Tôn), họ Trọng Tôn, tên Hà Kỵ, “Ý” là thụy hiệu. Phụ thân của ông trước lúc lâm chung yêu cầu ông theo Khổng tử học lễ.
  2. 无违 – vô vi: không nên vi phạm, làm trái.
  3. 樊迟 – Phàn Trì: Họ Phàn tên Tu, tự Tử Trì. Là đệ tử của Khổng tử, nhỏ hơn Khổng tử 46 tuổi. Ông từng cùng Nhiễm Cầu giúp Quý Khang Tử tiến hành cách tân.
  4. 御 – ngự: điều khiển xe ngựa
  5. 孟孙 – Mạnh Tôn: chỉ Mạnh Ý tử.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn ]

Mạnh Ý tử hỏi hiếu là gì, Khổng tử nói: “Hiếu chính là không nên vi phạm, làm trái lễ.” Sau đó Phàn Trì đánh xe ngựa cho Khổng tử, Khổng tử nói với Phàn Trì: “Mạnh Tôn hỏi ta hiếu là gì, ta trả lời là không nên làm trái lễ.” Phàn Trì nói: “không nên làm trái lễ là có nghĩa như thế nào?.” Khổng tử nói: “Khi cha mẹ còn sống, cần theo lễ mà chăm sóc phụng hầu; sau khi cha mẹ mất, cần theo lễ mà mai táng, tế tự.”

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Khổng tử cực kỳ xem trọng hiếu, yêu cầu mọi người tận hiếu đạo đối với bố mẹ của mình, vô luận họ còn sống hay đã mất, đều nên như vậy. Nhưng chỗ trọng yếu ở đây là, lúc tận hiếu không nên làm trái với quy định của lễ, nếu không thì không phải là hiếu chân chính. Có thể thấy, hiếu không phải là chung chung mơ hồ, tùy ý, mà phải theo quy định của lễ, theo lễ mà làm mới là hiếu.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Mạnh Ý tử: Đại phu nước Lỗ, thuộc một trong “tam gia,” họ Trọng Tôn, tên Hà Kỵ. Cha của ông Hy Tử có di mệnh bảo ông học lễ với Khổng tử, là học sinh thời kỳ đầu của Khổng tử. Sau Khổng tử làm chức Tư Khấu ở Lỗ, chủ trương phá thủ phủ của tam gia, Hà Kỵ dẫn đầu kháng lệnh. Người đời sau không liệt Hà Kỵ vào trong các đệ tử của Khổng môn.

无违 – vô vi: Hy tử hiền mà thích lễ, Ý tử chắc rằng không thể tuân thủ cẩn thận sự dạy bảo của phụ thân. Khổng tử dạy theo vô vi – không làm trái, đại loại kỳ vọng [Ý tử] thực hành tốt lệnh của cha, rốt cuộc có thể hoàn thành chí hướng của cha.

樊迟御: Phàn Trì đánh xe cho Khổng tử, Khổng tử đem lời nói với Ý tử nói lại cho Phàn Trì. Không làm trái với lệnh của cha là hiếu, lời này là đặt biệt nói cho Ý tử. Không phải người cha nào cũng hiền, tòng phụ chưa chắc đã  là hiếu. Khổng tử nói lại cho Phàn Trì, đại loại kỳ vọng Phàn Trì có câu hỏi, để có thể giải thích ý nghĩa chưa tận của câu trước.

何谓也 – hà vị dã: Phàn Trì quả nhiên không hiểu rõ mà hỏi lại. Khổng tử liền nói vô vi, [là] không vi phạm vào lễ, có khả năng lấy lễ phụng sự phụ mẫu, đây là hiếu. Cha mẹ có chỗ không hợp lễ, con cái thuận theo sự sai trái của họ là không thỏa đáng, nhất định phải dựa vào sự hợp lễ mà phụng sự phụ mẫu, thì đối với cha mẹ mới là tôn kính hết mức, đây mới là hiếu. Nếu như thuận theo sự phi lễ của cha mẹ, là để cho cha mẹ không đủ tốt, lại tự để bản thân rơi vào phi lễ, đây là nghịch lại cha mẹ vô cùng. Cho nên dạy “vô vi” – không vi phạm lời cha dạy là hiếu, là lời giành riêng cho Ý tử. Không vi phạm lễ là hiếu, là lời giành cho mọi người trong thiên hạ nói chung. Nếu người cha quả thật là hiền, con không vi phạm ý cha, cũng chính là không vi phạm lễ. Khổng tử nói hai lần, ý nghĩa tương thông. Hoặc có thuyết, ở vào thời ba họ tộc lớn tiếm lễ, cho nên Khổng tử đem việc không vi phạm lễ để nhắc nhở Ý tử, hy vọng Phàn Trì truyền đạt lại. Nhưng Khổng tử tại sao lại không nói trực tiếp, mà nhất định phải đợi Phàn Trì hỏi lại mởi chuyển lời truyền đạt? Việc này thường được cắt nghĩa sai đi. Nếu Ý tử có thể không vi phạm lời cha dặn là phải học lễ, thì đã nằm trong số những người cảnh báo việc ba họ lớn tiếm quyền, không phải phiền đến Phàn Trì truyền đạt lại.

Mạnh Ý tử hỏi: “Hiếu đạo là như thế nào?.” Tiên sinh nói: “Không được vi nghịch.” Một ngày, Phàn Trì đánh xe cho tiên sinh, Tiên sinh kể cho Phàn Trì: “Mạnh Tôn hỏi ta về hiếu đạo, ta trả lời là không được vi nghịch.” Phàn trì nói: “Như thế ý là gì?” Tiên sinh nói: “Lúc cha mẹ còn sống, theo lễ mà phụng sự cha mẹ. Lúc cha mẹ mất đi, theo lễ để mai táng, theo lễ để tế tự.”  

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]   

Như phần này, chúng ta không cần theo phân chia của Tống Nho như thế này, mà đem bỏ đi cho rồi. Đây là hậu nhân phân chia ra , là không đúng, trên chia ra 1 lần, dưới lại chia ra thêm 1 lần nữa, kết quả biến thành giáo điều. Kỳ thực là ở đây là đoạn nối liền thông suốt, cũng chính là phát triển ý của “vi chính dĩ đức” ở phía trước, đem tinh thần đạo hiếu của văn hóa Trung Quốc, mở rộng ra lĩnh vực đối nhân xử thế, Trung Quốc từ cổ đến nay, các nhà đại chính trị trong nhà ngoài ngõ đều giữ một lòng không cẩu thả, chính là từ xuất phát điểm này mà bồi dưỡng nên.

Trước hết chúng ta giải thích câu chữ. Mạnh Ý Tử không nhất định là học trò của Khổng tử, mà là mối quan hệ ở giữa học trò và bạn bè, ông là đại phu nước Lỗ. “Đại phu” lúc đương thời, là một cấp bậc quan tương đối cao. Miễn cưỡng so sánh, như cấp thành viên nội các hiện nay, đều gọi là “đại phu.” Đại phu là cấp (bậc)  quan, không phải chức quan. Các loại cấp bậc chức vụ quan của Trung Quốc, qua các thời đều có biến động. Nếu chúng ta muốn hiểu các biến đổi hình thái chính trị qua các thời đại, cần đọc “Thập Thông” hoặc “Tam Thông” – thông chí, thông hiến, thông khảo. Nội dung không chỉ bao quát các diễn biến chế độ chính trị, quan chức, và mọi diễn biến khác của Trung Quốc, thậm chí nghiên cứu tư tưởng chủ nghĩa tam dân hiện đại, quốc phụ [Tôn Trung Sơn] tại sao lại chọn dùng chế độ ngũ quyền phân lập, đều có mối quan hệ sâu sắc với văn hóa “Tam Thông”, “Thập Thông.” Ở đây đang nói về chức vụ địa vị của Mạnh Ý tử, thuận tiện kể ra.

Nếu Mạnh Ý tử đã là nhân vật như vậy, theo lập trường lúc bấy giờ của Khổng tử mà nói, đoạn hội thoại này, rốt cuộc là Khổng tử trước khi làm Tư Khấu của nước Lỗ, hay sau khi làm nói, rất khó để khảo chứng. Địa vị của Khổng tử lúc đương thời ở trường quốc tế – tức là giữa các chư hầu, rất đặc thù, là một nhân vật kiệt xuất. Cho nên Mạnh Ý tử đến hỏi Khổng tứ hiếu là gì, Khổng tử chỉ nói  “không được vi phạm làm trái.” Nếu như theo câu này mà xem xét, Khổng tử nói lời vô cùng giảo hoạt không thành thật. Không được vi phạm làm trái cái gì? Không có phần tiếp theo. Đây là một lời đáp rất kỳ lạ, tiếp phía sau, lại là một màn đối thoại hình thức ngắn gọn. Chúng ta đọc Luận ngữ, đi sâu vào, rất thú vị, như đọc tiểu thuyết, không nhất thiết phải dùng thái độ nghiêm trọng để đọc.

“Phàn Trì ngự” – Phàn Trì là học trò của Khổng tử, tên là Phàn Tu, tự Tử Trì, nhỏ hơn Khổng tử 36 tuổi, là lứa thanh niên. “Ngự” là điều khiển xe. Mạnh Ý tử vừa mới đến bái phỏng Khổng tử, thỉnh giáo vấn đề đạo hiếu là gì, Khổng tử nói “không được vi phạm làm trái,” chỉ có mộ một câu như vậy. Qua một lúc Khổng tử đi ra ngoài […], do học trò trẻ là Phàn Trì đánh xe [bỏ mấy câu dông dài].

“Tử cáo chi viết” là miêu tả Khổng tử ở trên xe đặc biệt kể cho Phàn Trì một việc: “Mạnh Tôn hỏi ta về hiếu, ta trả lời: không vi phạm.” Mạnh Tôn là hiệu của Mạnh Ý tử, do ông là người có địa vị tương đối cao trong triều đình, nên trong chính giới đương thời mà nói, cũng tính là một nhân vật vai vế, do đó Khổng tử đối với ông tương đối tôn kính, nên chỉ gọi ông bằng tên hiệu. Khổng tử nói, Mạnh Tôn hỏi ta hiếu là gì, ta trả lời là “vô vi – không được vi phạm làm trái.” [Lại bỏ một phần dông dài và không quan trọng lắm].

Không được vi phạm làm trái, ý nghĩa rất đơn giản. “Sinh, sự chi dĩ lễ.” Chữ “sự” là cổ nhân dùng khi người dưới nói về người trên. Khổng tử nói, khi cha mẹ còn sống, chúng ta cần phải hiếu kính họ. Làm việc dĩ lễ là như thế nào? Rất khó nói, lễ này không phải là gặp bố mẹ liền hành lễ là hiếu. Lễ này là bao quát mọi yêu thương, chăm sóc trong đời sống. (Đạo lý này, về sau chúng ta sẽ có cơ hội nói riêng về lễ, ở đây tạm không nói đến.) Lại nói: “tử, táng chi dĩ lễ.” Do đó lễ là một khái niệm cơ bản vô cùng quan trọng trong văn hóa Trung Quốc, thấy chữ lễ này, tuyệt không thể dùng nghĩa hẹp là lễ mạo để giải thích. Sau khi mất lại phải “tế chi dĩ lễ.” Chúng ta nghiên cứu đoạn này, dường như không có gì đáng ngạc nhiên, nhưng ghi lại đoạn hội thoại này vào trong Luận ngữ, đến cuối cùng là có ý nghĩa gì? Đối với Vi chính có quan hệ như thế nào?

Chúng ta trước hết hãy đặt các vấn đề này sang một bên, xem tiếp đến đoạn sau, về sau mới tổng hợp lại để nghiên cứu.

Hàn

Advertisements

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.3

2.3. 子曰:“道之以政,齐之以刑,民免而无耻,道之以德,齐之以礼,有耻且格。”

Zǐ yuē: dào zhī yǐ zhèng, qí zhī yǐ xíng, mín miǎn ér wúchǐ, dào zhī yǐ dé, qí zhī yǐ lǐ, yǒu chǐ qiě gé.

Tử viết: đạo (1) chi dĩ chính, tề (2) chi dĩ hình, dân miễn (3) nhi vô sỉ (4), đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách (5).

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 道 – dào – đạo: có hai cách giải thích: một là “dẫn đạo” – dẫn dắt lãnh đạo; hai là “trị lý” – cai trị xử lý. Ý đầu so ra thỏa đáng hơn.
  2. 齐 – qí – tề: chỉnh tề, ước thúc, quản thúc.
  3. 免 – miǎn – miễn: tránh khỏi.
  4. 耻 – chǐ – sỉ: lòng hổ thẹn.
  5. 格 – gé – cách: có hai cách giải thích: một là “chí” –đạt đến, rất; hai là “chính.”

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Dùng pháp chế cấm lệnh để dẫn dắt bách tính, dùng hình pháp để quản thúc họ, bách tính chỉ mong tránh phạm tội chịu trừng phạt, nhưng mất đi lòng liêm sỉ; dùng đạo đức giáo hóa dẫn dắt bách tính, dùng lễ chế để thống nhất ngôn ngữ hành vi của bách tính, bách tính không những có lòng liêm sỉ, mà còn giữ gìn quy củ.”

[Bình luận- Chưa rõ là ai]

Trong chương này, Khổng tử nêu ra hai hai phương kế trị quốc khác nhau rành rành. Khổng tử cho rằng, hình phạt chỉ có thể khiến con người tránh phạm tội, không thể khiến họ hiểu được đạo lý là phạm tội đáng hổ thẹn thế nào, mà đạo đức giáo hóa so với hình phạt cao minh hơn nhiều, có thể khiến họ tuân thủ pháp luật quy củ, lại có thể khiến họ có lòng biết được thế nào là hổ thẹn. Điều này phản ảnh điểm đặc biệt của đạo đức trong việc trị lý quốc gia so với pháp chế. Nhưng cũng nên chỉ ra rằng: tư tưởng “vi chính dĩ đức” của Khổng tử, xem trọng đạo đức là cần thiết, nhưng lại xem nhẹ tác dụng của hình chính, pháp chế trong trị quốc.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu] 

道之以政- Đạo chi dĩ chính: chi – chữ chỉ người dân; đạo – nghĩa là lãnh đạo, dẫn dắt. Lấy chính sự mà lãnh đạo dân chúng, chính là cư thượng lâm hạ (ở trên cao nhìn xuống), pháp chế cấm lệnh, không thể thâm nhập vào lòng người.

齐之以刑- Tề chi dĩ hình: lãnh đạo mà nhân dân không theo, dùng hình phạt để khiến họ quy củ, dân biết là (lãnh đạo) có uy, nhưng lòng không được cảm hóa.

民免而无耻- Dân miễn nhi vô sỉ: miễn: muốn miễn bị phạt. Sỉ, lòng “sỉ” có điều bất cập (không tốt).  Chỉ nhanh tìm cách miễn bị hình phạt, lòng không có chút xấu hổ, không cảm giác gì mà tự thay đổi.

道之以德 – đạo chi dĩ đức: đức, là nhân cách và tâm địa của bản thân của người ở phía trên, dùng những phẩm chất này để lãnh đạo, mà người với người, tâm với tâm tương cảm tương thông, khác xa với việc ở trên cao mà nhìn xuống.

齐之以礼- tề chi dĩ lễ: lễ, là chế độ/hệ thống phẩm cách. Người người đều tuân thủ theo hệ thống phẩm cách, cũng đem lại hiệu quả là dân đi vào quy củ. Nhưng theo lễ, khác với dùng hình. Bản chất của lễ là ở chỗ hai bên tình ý tương thông, do tình cảm mà ra, không phải do sợ hãi.

有耻且格- hữu sỉ thả cách: cách, nghĩa là rất, (đạt đến) cùng cực. Người ở trên  dùng đức cảm hóa quần chúng, lại có thể lấy lễ để dân đi vào quy củ, người ở dưới tự biết đến lòng hổ thẹn, mà muốn đạt được như người trên. Cách còn có nghĩa là “chính” (đúng, thích đáng, hợp lẽ) như trong cách thức, quy cách. Người ở dưới có điều hổ thẹn, tất cố gắng đạt được tiêu chuẩn mà người ở trên định ra. Hai nghĩa tương thông với nhau.

Lý tưởng chính trị của Khổng môn, chủ về đức hóa, lễ trị. Chương này phát huy sâu sắc ý nghĩa của nó. Đại khái nhân đạo (đạo của con người) là ăn ở với nhau hòa bình, bình đẳng, đạo lý tương thông. Điều chủ chốt của nhân đạo này là ở tại tâm. Giáo dục chính trị, đạo của nó là nhất quán, sự việc có thể khác nhau nhưng đều theo một hướng chúng. Đây cũng là ý nghĩa xuyên suốt của Khổng môn, tuy cổ kim thời đại khác nhau, nhưng đạo này không thể vi phạm.

Khổng tử nói: ‘Dùng chính trị để lãnh đạo dân, dùng hình pháp để đưa dân vào trật tự, dân chỉ muốn tránh hình phạt là được, không cảm thấy việc không phục tùng lãnh đạo là đáng hổ thẹn. Nếu đem đức để lãnh đạo dân, đem lễ để đưa dân đi vào trật tự, trong lòng ai cũng cảm thấy vi phạm lãnh đạo là điều hổ thẹn, tự có thể đạt được một cách chính xác những gì người ở trên muốn lãnh đạo họ để đạt tới.’ 

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Tử viết: đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ, đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách.

“Đạo” này là đạo trong lãnh đạo. Ở phần trước chúng ta vừa mới chỉ ra, Khổng tử bàn luận về vi chính, không phải là nói về chính trị, dùng quan niệm hiện đại miễn cưỡng mà nói, Khổng tử bàn luận là về triết học chính trị, hoặc là nguyên lý của chính trị. Khổng tử nói lãnh đạo một quốc gia, một xã hội, nếu như dùng chính trị thể chế để lãnh đạo, lại dùng pháp chế để quản lý, “tề chi dĩ hình,” khiến cho mọi người không phạm pháp, phạm pháp liền bị phạt. Nhưng dùng pháp chế để quản lý nhân dân, một mặt “dân miễn” (dân tìm cách để miễn bị tội), ai cũng sẽ trốn tránh, tìm lỗ hổng của luật pháp, hơn nữa họ trốn tránh được trách nhiệm, pháp luật và xử phạt, còn tự đắc ý (i), cho rằng anh chẳng làm gì được họ, không có chút lòng hổ thẹn nào. Điều này cùng với lời giảng của Lão tử của Đạo gia về “法令滋彰,盗贼多有” – “pháp lệnh tư chương, đạo tặc đa hữu – pháp luật càng dày đặc, đạo tặc càng nhiều – đạo lý như nhau.

Do đó Khổng tử lại nói: “đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách.” Giả dụ dùng đạo đức để lãnh đạo, mỗi người dân đều có hàm dưỡng đạo đức, “tề chi dĩ lễ,” lấy lễ giáo hóa. Đây là nói đến tinh thần lễ nghĩa, mọi người đều tự động tự phát, nếu như làm sai, có lòng hổ thẹn, như thế khiến người người  đều có liêm sỉ, không dám làm việc thiếu đạo đức, không cần đợi đến pháp luật chế tài, tự bản thân đã thấy vô cùng khó chịu, đây chính là có liêm sỉ. Đạt đến cảnh giới này, tất “thả cách,” chính là đạt được mục tiêu của chính trị. Do đó Khổng tử chủ trương dùng chính trị đạo đức, cảm hóa đạo đức, đây chính là chỗ bất đồng giữa tinh thần Nho gia và Pháp gia. Tuy nhiên, chính trị Trung Quốc, trước nay vẫn luôn là Đạo gia, Nho gia, Pháp gia kết hợp với nhau.

(i) Nguyên văn: Tự minh đắc ý -自鳴得意 – zì míng dé yì (tự cho mình là hay, biểu hiện đắc ý; hình dung tự tán thưởng bản thân)

[Lời bàn của YL]   

Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức vốn là rất hay nhưng cũng rất phức tạp, tiếc là các nhà bình luận về Luận ngữ không đi sâu vào. Có lẽ phải đọc các sách mang tính tổng kết và phân tích, hoặc các sách so sánh đối chiếu giữa Nho gia và Pháp gia, hoặc các sách đi sâu vào từng khái niệm cụ thể như đạo đức, pháp luật, lễ, hình? Nhìn từ góc nhìn kiến tạo, đạo đức phần nhiều được thể hiện trong pháp luật, mà pháp luật cũng góp phần xây dựng nên các chuẩn mực đạo đức, hai phạm trù này không nhất thiết nằm trong mối quan hệ đối lập nhau như cách nhấn mạnh ở đây. Tất nhiên, cần lưu ý rằng, Nho gia có khái niệm “lễ” đi kèm với đạo đức, mà ý nghĩa bao hàm cả luật pháp, như một chương nào đó trong thiên Học nhi đã đề cập đến, mỗi tội “lễ” có vẻ thiếu đi sự răn đe của “hình.”

Hàn

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.13

1.13 有子曰:“信近于义,言可复也;恭近于礼,远耻辱也;因不失其亲,亦可宗也。”

Yǒu zǐ yuē :“xìn jìn yū yì ,yán kě fù yě 。Gōng jìn yū lǐ ,yuàn chǐ rǔ yě 。Yīn bù shī qí qīn ,yì kě zōng yě 。”

Hữu tử viết: “Tín cận (1) ư nghĩa (2), ngôn khả phục (3) dã. Cung cận ư lễ, viễn (4) sỉ nhục dã; nhân (5) bất thất kì thân, diệc khả tông (6) dã.”

 [Chú giải]

(1) 近 – jìn – cận: Ý nghĩa là tiếp cận (kề cận, cách không xa, thân cận), phù hợp.

(2)义 – yì – nghĩa:Nghĩa là phạm trù luân lý của Nho gia. Là chỉ tư tưởng và hành vi phù hợp tiêu chuẩn nhất định. Tiêu chuẩn này là “Lễ.”

(3) 复 – fù – phục: Ý nghĩa là thực tiễn. Chu Hi “Tập chú” viết: 复,践言也 – phúc, là nói tiễn (thực hành, thi hành).

(4) 远 – yuàn – viễn:phiên âm là yuàn,động từ, sử dụng như động từ, ý nghĩa là viễn ly, cách xa, tránh xa, ở đây có thể giải thích là tránh.

(5) 因 – yīn – nhân:Dựa vào, ỷ vào. Có thuyết nói 因 nên viết là 姻- nhân (trong hôn nhân, chỉ quan hệ thân thuộc do hôn nhân mà thành), nhưng xét cả đoạn trên dưới thì thấy như thế có chỗ không thích hợp.

(6) 宗 – zōng – tông: Chủ (người lãnh đạo), có thể dựa vào được (reliable), thường được giải thích thành “tôn kính” cũng có chỗ không thích hợp.

[Giải nghĩa câu]

Hữu tử nói: ‘nói tín cần phù hợp với nghĩa, lời nói (phù hợp với nghĩa) mới có thể thực hành. Cung kính cần phù hợp với lễ, như vậy mới tránh xa được sỉ nhục. Những người mà dựa vào đều là người đáng tin cậy, mới xứng đáng tôn kính.’

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Câu này của Hữu tử, thể hiện Khổng tử và các đệ tử cực kỳ coi trọng “信”- “tín” và “恭” -“cung” [cung trong cung kính, kính cẩn, kính trọng – YL]. “Tín” và “cung” đều cần lấy Chu lễ làm tiêu chuẩn, lời nói không phù hợp với lễ tuyệt không thể nói, nói ra là không phải thái độ của “tín”; việc không phù hợp với lễ tuyệt không thể làm, làm tức là không phải thái độ của “cung.” Ở đây là giảng về thái độ cơ bản của việc làm người xử thế.

 [Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Ngôn khả phục dã:  có ước hẹn với người khác mà cố giữ chữ tín, nhưng việc cố giữ ước hẹn này cần phải gần với nghĩa, mới có thể thực hành, giữ chữ tín được. Phục, phản phục, ở đây có nghĩa thực hành, tuân thủ lời nói.

Viễn sỉ nhục dã: cung kính cần phải hợp lễ, nếu không dễ tìm đến sự sỉ nhục.

Nhân bất thất kì thân, diệc khả tông dã: Nhân, giống như 依 – ỷ – dựa vào, tựa vào; Tông, giống như 主 – chủ – tông chủ, người lãnh đạo. Người mà dựa vào nhưng vẫn không mất đi khả năng thân cận (thân thiện gần gũi), thì khi cần được giúp đỡ có thể nương nhờ vào, cũng có thể thân cận như với bậc lãnh đạo. Hoặc nói: 因 – nhân là giản lược của 姻 – nhân (hôn nhân). Tông giả, thân như đồng tông (có chung tổ tông, họ hàng). Ngoại thân (người nhà vợ) không khác biệt mà như người thân [có chung tổ tông] của mình. Nay xét: giải thích đầu là thuyết thông dụng, giải thích sau là chuyên biệt. Nay theo thuyết đầu.

Chương này nói cùng người khác giao tế, cần cẩn thận ngay từ đầu, mà về sau có thể có được kết cục mĩ mãn. Có thể thấy được đạo có phân biệt trước sau cao thấp. Tín và cung đều là mỹ đức, như vậy cần hợp nghĩa hợp lễ.Có việc phải nương tựa vào người khác là điều không thể tránh khỏi, nhưng cần tìm người có thể thân.

Hữu tử nói: cùng với người khác ước hẹn mà muốn giữ chữ tín, trước hết cần giữ được nghĩa, rồi mới có thể tuân theo thi hành được. Cung kính với người khác, trước hết cần hợp lễ, rồi mới có thể tránh xa sự sỉ nhục. Gặp lúc cần phải dựa vào người khác, trước hết cần phải chọn người có thể thân, mới có thể dựa vào như người lãnh đạo vậy.

 [Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

“Tín cận ư nghĩa, ngôn khả phục dã.” Tại sao văn hóa Trung Quốc đề xướng “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”? “Tín” có chỗ nào tốt? Tại sao phải dạy con người ta xây dựng “tín”? Do “tín cận ư nghĩa” – tín gần với nghĩa, mà người có nghĩa/việc nghĩa thì tương thích,  hòa hợp với nhau. Chữ nghĩa này là một biểu hiện của sự bất đồng trong văn hóa Đông Tây. Chúng ta cần chú ý hai chữ “nhân nghĩa,” chữ “nhân,” tất cả bác ái, từ ái đều gọi là “nhân,” văn hóa các nước trên thế giới, đều có chữ đồng nghĩa với “nhân.”  Nhưng chữ “nghĩa” của Trung quốc, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, hay tiếng bất cứ nước nào đều không có từ đồng nghĩa. Chỉ có văn hóa Trung Quốc mới có. Chữ “nghĩa” này, có hai cách giải thích, giải thích của Nho gia Khổng môn là: 义者宜也” – “nghĩa giả nghi dã” – người nghĩa/việc nghĩa thì “nghi” – thích hợp, thích nghi, phù hợp. Vừa vặn, thích đáng, phù hợp, ở mức tốt đẹp, đem lại lợi ích gọi là nghi, đây cũng là tác dụng trung hòa của lễ, như “时宜” – thời nghi – hợp thời, hợp xu thế, cũng mang ý này. Cách giải thích khác, chính là tinh thần “hiệp nghĩa” của Mặc tử, cái gọi là “lộ kiến bất bình, bạt đao tương trợ” – trên đường gặp việc bất bình, rút đao giúp đỡ. Người Trung Quốc có tính cách này, có thể bán mạng vì bạn bè, loại tính cách này, có lúc so với ảnh hưởng của Nho gia còn lớn hơn, vì bạn bè, cho rằng tính mạng này có thể cho bạn, không có vấn đề gì hết, giúp bạn có thể cho luôn tính mạng, các dân tộc khác cũng có loại tinh thần này, nhưng không có loại định nghĩa này.

Chúng ta có loại văn hóa này, với lại trong quá khứ tồn tại phổ biển trong hạ tầng xã hội. Điều này rất quan trọng, đặc biệt là một quốc gia trong giai đoạn có nhiều biến loạn càng lộ rõ, trong thời kỳ kháng chiến có thể thấy, tinh thần hy sinh vì quốc gia dân tộc của bách tính, vô cùng vĩ đại, chính là biểu hiện của văn hóa Trung Quốc. Có người nói đây là ảnh hưởng của Nho gia Khổng Mạnh, hoàn toàn không phải như vậy, kì thực là do Tam Quốc diễn nghĩa các loại tiểu thuyết dạy mà ra. Do đó dân tộc Trung Hoa có tinh thần trung nghĩa, đây là đặc tính của dân tộc chúng ta, là sở trường đặc biệt, do đó những người phụ trách giáo dục như chúng ta, cần lưu ý đến vấn đề này.

Ở đây, “nghĩa” trong “tín cận ư nghĩa,” cùng với chữ “nghĩa” của Mặc tử, có điểm giống nhau. Con người tại sao phải thủ tín (giữ gìn/tuân thủ chữ tín )? Đã đáp ứng rồi, nhất định phải làm được. Vì thế chúng ta trong lịch sử có câu chuyện nổi tiếng “Quý Bố nhất nặc thiên kim” –  Quý Bố một lời nói ra đáng ngàn vàng (i). Trong Luận ngữ có Tử Lộ cũng là người như vậy. “Ngôn khả phục dã,” người thủ tín, không thể nói lời sáo rỗng, do “ngôn khả phục dã,” lời nói ra tất cần “khôi phục.” “恢复”- “khôi phục” – lấy lại được, hồi phục, thu phục là gì? Chính là lời nói ra cần thực hiện, biến thành sự thực.

“Cung cận ư lễ, viễn sỉ nhục dã.” Trong lúc thực hành lễ mạo cần cung kính. Cái gọi là cung, là đối với sự tình cẩn thận trang trọng từ trong nội tâm, chứ không phải là khi thấy người khác tỏ ra kính lễ là cung; mặc dù không kính lễ, nhưng lúc bạn bè gặp khó khăn, loại tinh thần quan tâm vô hạn, không cần nói ra cũng biết. Do đó con người cung kính hay không cung kính, mặc dù thái độ biểu hiện ra bên ngoài rất quan trọng, nhưng thứ trong nội tâm càng quan trọng hơn. Vì vậy cung kính chính là lễ. Giữa người và người tại sao cần cung kính? “Viễn sỉ nhục dã,” miễn đi việc chuốc lấy sự sỉ nhục vô vị.

“Nhân bất thất kì thân, diệc khả tông dã.” “Nhân” là động cơ, văn hóa Trung Quốc: thân ái với người thân, nhân ái với nhân dân, thương yêu quý mến vạn vật (ii). “Nhân bất thất kì thân,” ý nghĩa là con người không thể làm được việc là [làm người] tuyệt đối vô tư. (Vấn đề này sẽ được thảo luận sau, trong văn hóa Trung Quốc có 2 loại quan niệm từ Đạo gia mà ra, một là đại công vô tư (iii), một là tuyệt đối tự tư, hai loại tư tưởng cực đoan, đối với chúng ta mà nói đều là làm không được. Nho gia chủ trương tự tư có giới hạn.) Lấy một ví dụ, nếu ai cũng không có áo mặc, ta có được một tấm, trước hết phải để cho cha của ta mặc,  cha mặc rồi thì đến ta mặc, đợi đến khi có thêm một tấm khác, mới đưa cho người khác mặc. Tấm lòng và hành động giúp đỡ người khác, trước gần sau xa, dần dần rồi mới mở rộng ra cho mọi người. “Diệc khả tông,” được như vậy, mới có thể kính trọng.

(i) Quý Bố là tướng thời Hán Sở tranh hùng và đầu đời Hán.

(ii) 亲亲而仁民,仁民而爱物: thân thân nhi nhân dân, nhân dân nhi ái vật: thân với người thân mà nhân với người dân, nhân với người dân mà yêu vạn vật; câu trong sách Mạnh tử.

(iii) Đại công vô tư – 大公无私 – dà gōng wú sī (chỉ làm việc công chính, không có tư tâm – lòng riêng. Câu có từ đời Hán. Hiện chỉ làm việc xuất phát từ lợi ích của tập thể chứ không phải là tính toán riêng cho một người).

Si

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.12

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.12

Chương này thấy mỗi học giả chấm câu theo một kiểu. Ở đây là ta giữ chấm câu theo cách của Dương Bá Tuấn, bởi cho đến giờ vì dùng sách của Dương Bá Tuấn làm tài liệu cơ bản để học Luận ngữ. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là cách chấm câu của học giả này là đúng, còn của các học giả khác là sai. Ai hợp lý hơn, để người học tự xét.

1.12 有子曰:“礼之用,和为贵。先王之道,斯为美。小大由之, 有所不行。知和而和,不以礼节之,亦不可行也。”

Yǒu zǐ yuē :“Lǐ zhī yòng ,hé wéi guì 。Xiān wáng zhī dào ,sī wéi měi 。Xiǎo dà yóu zhī, yǒu suǒ bù xíng 。Zhī hé ér hé ,bù yǐ lǐ jié zhī ,yì bù kě xíng yě 。”

Hữu tử viết: “lễ (1) chi dụng, hòa (2) vi quý. Tiên vương chi đạo (3), tư (4) vi mỹ. Tiểu đại do chi, hữu sở bất hành. Tri hòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành dã.”

(1) 礼 – lǐ – lễ: ở thời Xuân Thu, “lễ” là chỉ chung chế độ điển chương và quy phạm đạo đức của xã hội nô lệ, phong kiến. “Lễ” của Khổng tử, là chỉ “Chu lễ,” lễ tiết, nghi thức, cũng chỉ quy phạm quy phạm đạo đức của con người.

(2) 和 – hé – hòa: điều hòa, hài hòa, hòa hợp, phối hợp hài hòa.

(3) Tiên vương chi đạo: chỉ đạo trị thế của Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ, Chu công, các bận đế vương cổ đại.

(4) 斯 – sī – tư: ý là đây, này. Ở đây chỉ “lễ,” cũng chỉ “hòa.”

[Giải nghĩa câu – Dương Bá Tuấn]

Hữu tử nói: Ứng dụng của lễ, là lấy hài hòa, hòa hợp làm quý. Phương pháp trị quốc của các bậc quân chủ thời cổ đại, điều đáng trân quý chính là ở chỗ này. Nhưng bất luận việc to việc nhỏ, chỉ theo biện pháp hài hòa mà làm, có lúc làm không thông. (Lý do ở đây là) vì (giữ) hài hòa mà hài hòa, không dùng lễ để tiết chế hài hòa, cũng là không khả thi vậy.

[Phân tích bình luận – Chưa rõ là ai]

Hòa là luân lý (ethics), là nguyên tắc chính trị và xã hội do Nho gia đặc biệt đề xướng. Lễ ký – Trung dung viết: 喜怒哀乐之未发谓之中,发而皆中节谓之和 – ‘Hỉ, nộ, ai, lạc chi vị phát vị chi trung, phát nhi giai trung tiết vị chi hòa’ – hỉ, nộ, ai, lạc (mừng, giận, buồn, vui) trong lúc chưa phát tiết ra, trong quá trình phát ra đều được tiết chế gọi là hòa. Trong sách ‘Luận ngữ sơ chứng’ của Dương Ngộ Phu viết: ‘Trong mọi việc được tiết chế đều gọi là hòa, không chỉ trong những việc mà liên quan đến hỉ nộ ai lạc. Hòa là nói thích hợp, thích đáng, cư xử tốt đẹp.’ Khổng môn cho rằng, việc thi hành, ứng dụng lễ cần lấy hài hòa làm quý. Nhưng, nếu việc nào cũng nói đến hài hòa, hoặc là lấy mục tiêu hài hòa làm chính, hài hòa để mà hài hòa, không bị lễ tiết phép luật ước thúc, thì làm cũng không xong. Đây là nói, chỉ cần tuân thủ các khác biệt đẳng cấp do lễ quy định, trong đối đãi với nhau sẽ không xuất hiện bất hòa. Khổng tử trong chương này đề ra quan điểm này là có ý nghĩa của nó. Trong xã hội chủ nô phong kiến, phân biệt và đối lập giữa các đẳng cấp là vô cùng nghiêm khắc, giới tuyến [giữa các đẳng cấp] không dung bất kỳ nhiễu loạn nào. Người thuộc đẳng cấp trên, lấy lễ nghĩa nghi thức của bản thân để biểu hiện uy phong; Người thuộc đẳng cấp dưới, tất đem lòng sợ hãi mà duy mệnh thị tòng (i). Nhưng đến thời Xuân Thu, loại quan hệ xã hội này bắt đầu đổ vỡ, hiện tượng tôi giết vua, con giết cha đã thành thường xuyên. Đối với vấn đề này, đề xuất ‘hòa vi quý,’ mục đích là vì hòa hoãn sự đối lập giữa các đẳng cấp khác nhau, không để đổ vỡ quan hệ, để an định trật tự xã hội đương thời.

Nhưng nếu nhìn từ mặt lý luận, chúng ta sẽ cảm thấy, Khổng tử cường điệu việc vận dụng lễ lấy hòa làm quý, lại chỉ ra không thể vì hòa mà hòa, cần lấy lễ để tiết chế, có thể thấy hòa mà Khổng tử đề xướng không phải là điều hòa một cách vô nguyên tắc, mà ở đây có tính hợp lý của nó.

(i) Duy mệnh thị tòng – 唯命是从 – wéi mìng shì cóng (hoàn toàn tuân theo mệnh lệnh, câu trong Tả truyện)

[Luận ngữ tân giải- Tiền Mưu]

(Do cách châm câu khác nên chép lại ở đây)

有子曰:“礼之用,和为贵。先王之道,斯为美小大由之。有所不行。知和而和,不以礼节之,亦不可行也。”

Hòa vi quý: lễ chủ về kính (tôn kính, kính trọng, cung kính), ở giữa quần chúng nói chung có nhiều các loại lễ để phân biệt. Trên thực tế lễ lấy hòa làm quý, là ở giữa mọi người lấy các loại lễ nghĩa để điều hòa.

Tư vi mĩ: Tư chỉ lễ, cũng chỉ hòa. Đạo của tiên vương,  lấy lễ làm đức hạnh, làm điều tốt đẹp. Hòa ở trong lễ, nên cũng là lấy hòa làm điều tốt đẹp.

Tiểu đại do chi: sự việc bất kể to nhỏ, đều thuận theo lễ, cũng là đều thuận theo hòa.

Hữu sở bất hành: bốn từ này liền với vế sau. Nếu gặp chỗ không làm được, thì sẽ như sau.

Tri hòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành dã: tiết, có nghĩa là phạm vi quy định khác biệt. Giống như đốt tre, mặc dù thông với nhau, nhưng đốt trên đốt dưới có sự khác biệt. Cha con vợ chồng, quan hệ rất thân mật, nhưng hai bên suy cho cùng vẫn có sự phân biệt, có lễ tiết quy định, khiến cho ở cùng nhau mà hòa.  Chỉ chú trọng hòa, mà không có lễ để tiết chế, tất không được. Nghĩa mở rộng là chỉ có lễ mà không có hòa cũng không được, chính là do chữ “diệc” này. (diệc có nghĩa là “lại,” “cũng là”).

Nghĩa chủ đạo của chương này, lễ tất phải hòa thuận từ trong tâm, khiến cho mọi người đều vì thế mà an, chứ  không phải [thứ] tình không chịu nổi, mà dùng lực cũng không thể gượng ép, thế mới gọi là đáng quý. Nếu cố cưỡng ép mà lập nên lễ, đến cuối cùng không thể hòa, thì sao mà làm được? Cho nên Lễ không phải là dùng sự bó buộc nghiêm khắc mà cưỡng ép người khác, mà là dùng lễ để đạt được hòa. Đây là ý nghĩa tốt đẹp nhất của lễ của Khổng môn, người học không thể không tìm hiểu kỹ.

Hữu tử nói: Việc vận dụng lễ, quý ở chỗ có thể hòa. Đạo của tiên vương, điểm tốt đẹp chính là ở chỗ này, việc to việc nhỏ đều nhờ điều này mà thông. Nhưng cũng có lúc làm không được. Chỉ biết là cần phải hòa, chỉ chú trọng dùng hòa, mà không dùng lễ để tiết chế hòa, cũng không làm được vậy.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

[Có một đoạn cảm khái về lễ nghĩa đang trở nên lung tung, ta bỏ không dịch].

“Lễ chi dụng, hòa vi quý.” Câu này tương đương với triết học của lễ. Lễ là để làm gì? Là có tác dụng trung hòa, nếu nói mở rộng ra một chút là hòa bình. Đây cũng là tư tưởng của lễ. Giữa người với người sẽ có những khác biệt, cũng như vậy giữa sự việc với sự việc có mâu thuẫn; trung hòa mâu thuẫn này, điều chỉnh sự khác biệt này, đều dựa vào lễ. Như vậy pháp luật cũng là một tác dụng của lễ, dưới các nguyên tắc của pháp luật, từ trị lý quốc gia cho đến các nguyên tắc rất nhỏ để làm việc gì đó, đều là tác dụng của lễ. Giả dụ không có lễ, xã hội sẽ không có trật tự, như thế làm sao được? Do đó giữa người với người cần lễ, giữa việc với việc cần lễ, mà tác dụng của lễ, là “hòa vi quý,” chính là sự điều chỉnh, điều hòa.

“Tiên vương chi đạo, tư vi mỹ. Tiểu đại do chi.” Trong văn hóa Trung Quốc gọi tiên vương, không phải chỉ tiên vương của bất kỳ một vị hoàng đế nào, hai chữ “tiên vương” này,  chính là thứ mà ngày nay chúng ta gọi là “truyền thống văn hóa,” “Trung Quốc văn hóa.” […] Chúng ta hiểu tinh thần của hai chữ “tiên vương” này, là đại diện cho liệt tổ liệt tông. […] “Tiểu đại do chi,” vô luận việc to việc nhỏ, đều cần dùng tinh thần của lễ mà xử lý, bỏ đi tinh thần của lễ là không được, nhất định xảy ra vấn đề.

“Hữu sở bất hành, tri hòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành dã.” Ở đây là nói về đạo lý mâu thuẫn cân bằng. Chúng ta thường thấy bốn chữ “矫枉过正” – Kiểu uổng quá chính (i), “枉”- “uổng” là méo, lệch, nghiêng, nhìn thấy sự vật méo lệch, cần phải uốn nắn cho thành thẳng; uốn quá độ, lại thành méo lệch. Nói cách khác, không phải lệch về hướng này, có nghĩa là cũng lệch về hướng khác. Tóm lại, “过正” – “quá chính” – quá/ vượt qua [giới hạn] thẳng, chính là méo lệch. Lễ cũng như vậy, cần trung hòa, nhưng điều tiết quá mức lại thành không tốt. Một người thanh niên không hiểu tý gì về lễ mạo tất nhiên là không đúng, nhưng cả ngày từ sáng đến tối chỉ nói về lễ mạo, quá nhiều lễ, người ta lại tưởng nhầm anh ta vỗ mông ngựa (nịnh nọt), do đó “tri hòa nhi hòa,” đối với mỗi sự việc, hiểu được đạo trung hòa của nó, mà đi trung hòa, đi điều chỉnh nó. Nhưng điều chỉnh quá mức lại thành sai, “bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành dã.” Do đó tinh thần cơ bản của lễ nghĩa, là điều tiết một sự việc, trung hòa một sự việc, nhưng cần phải có giới hạn mức độ nhất định, làm quá giới hạn này, lại phải điều chỉnh lại từ đầu.

Muốn nghiên cứu văn hóa Trung Quốc, không thể không xem cuốn “Lễ ký” do Khổng tử soạn. Lễ ký là trước tác về truyền thống văn hóa thời kỳ đầu, không cái gì không có. Nếu dùng học thuật hiện đại mà nói, Lễ ký bao gồm triết học, chính trị, quân sự, kinh tế, vệ sinh, y học các loại học vấn. Đương nhiên, không phân biệt chi tiết như hiện tại. Do đó bộ Lễ ký này, không chỉ nói về lễ mạo; lễ tiết lễ mạo của chúng ta, chỉ là một dạng biểu hiện của lễ mà thôi.

Chữ “Lễ” của văn hóa Trung Quốc, dùng văn hóa phương Tây mà nói, chính là triết học. Triết học nói chung có thể chia thành hai phạm vi, dùng đạo lý Trung Quốc mà nói, một phạm vi là hình nhi thượng, một là hình nhi hạ. Cái gọi là hình nhi hạ, là tất cả mọi học vấn trong vũ trụ, đều bao gồm trong đó; hình nhi thượng, ở Trung Quốc mọi người gọi là “đạo,” trong tư tưởng Nho gia gọi là “thiên,” “thiên đạo” cũng là “bản thể luận.” Hình nhi hạ, trong triết học phương Tây, cũng là “tri thức luận,” “giá trị nhân sinh luận.” Triết học phương Tây đại khái phân loại như vậy. Danh xưng “hình nhi thượng,” xuất xứ từ “Kinh dịch,” người Nhật bản khi dịch triết học Hy lạp, mượn danh từ này trong Kinh dịch – “形而上者谓之道” – “hình nhi thượng giả vị chi đạo” – hình nhi thượng gọi là đạo.

“Hình nhi thượng” là cái gì? Chính là vấn đề nguồn gốc của vũ trụ – con gà có trước hay quả trứng có trước? nam có trước hay nữ có trước? Rốt cuộc vạn vật trong vũ trụ này là do ai sáng tạo ra? Tông giáo gia nói là do một vị chúa tể sáng tạo ra. Triết học gia liền hỏi vị chúa tể này là từ đâu đến vậy? tạo ra vị chúa tể này là ai? Giả sử tạo ra chúa tể là mẹ của chúa tể, vậy bà ngoại của chúa tể là ai? Triết học gia muốn truy nguyên đến tận cùng. Thảo luận đạo hình nhi thượng này, chính là “bản thể luận.” “Hình nhi hạ” là nói các loại hiện tượng và các loại tri thức sau khi vạn vật trong vũ trụ đã hình thành. Nghiên cứu “bản thể luận” của phương Tây, bắt đầu rất sớm ở Hy Lạp, đã có hai ba ngàn năm lịch sử. Thời đó đại khái cũng chia thành hai trường phái, một phái là tư tưởng duy vật, một phái là tư tưởng duy tâm. Duy tâm này khác với duy tâm hay được nhắc đến trong văn hóa Trung Quốc. Nói đến triết học, vấn đề nguồn gốc tư tưởng cơ bản này, trước hết cần phải nhận thức rõ ràng, mới tránh được lẫn lộn.

Sau đó các nhà triết học cho rằng: con người làm sao để biết nguồn gốc của vũ trụ? Là dựa vào tri thức, dựa vào tư tưởng, vậy thì, bản thân tư tưởng có đáng tin để dựa vào được không? Trước hết cần phải nghiên cứu. Do vậy mà sinh ra tri thức luận. Giả sử không dựa vào được bản thân tư tưởng, vậy thì dùng tư tưởng để hiểu về “căn nguyên của vũ trụ,” cũng chưa phải là hoàn chỉnh. Đây chính là phạm vi của triết học. Ngành học thuật này trải qua một mạch vài ngàn năm lịch sử, người Trung Quốc mới theo phiên dịch của người Nhật Bản, mà gọi nó là “triết học.”

Một bộ phận khác là “triết học nhân sinh” – vấn đề giá trị của người nghiên cứu.

Theo cách nhìn của các nhà triết học phương Tây, người Trung Quốc không có triết học. Ít nhất là Trung Quốc trong quá khứ không như người phương Tây, nghiên cứu về bản thể của vũ trụ. Như chúng ta hiện nay thấy rõ, hệ thống này của văn hóa Tây Phương rất nghiêm túc cẩn thận, tư tưởng triết học của họ lúc đầu là tông giáo, tông giáo chỉ dậy con người ta tín, lại còn chuyên chế cường quyền, tuyệt không dung cho ai hoài nghi. Anh muốn biết thượng đế từ đâu mà có, nhưng cũng không thể hỏi, chỉ cần “tín” là được cứu vớt. Nhà triết học nói, muốn tôi tin cũng được, nhưng cần phải kéo tấm màn che đó ra cho tôi xem, sau khi xem xong, sẽ tin tuyệt đối. Đây là tinh thần triết học.

Sau đó, vì triết học phát triển, liền hình thành nên một khoa học, nhà triết học lại tiến thêm một bước nói, chỉ nhìn rõ thôi chưa đủ, phải chạm được vào, sau đó mới tin được là đích xác có thứ đó. Do đó, vì tông giáo mà có triết học, mà triết học, là tiến trình phát triển của văn hóa phương Tây ngày nay.

Người Trung Quốc thật sự không có triết học sao? Có! Triết học của Trung Quốc là “triết học nhân sinh.” Chỉ nói về đạo đức của luân lý làm người, nói làm người nên làm thế nào. Người phương Tây cho rằng chúng ta không có triết học, một số nhà triết học nước tôi (i) trong quá khứ cũng nói với người khác như vậy, điều này là không đúng. Trên thực tế, tư tưởng triết học Trung Quốc, điều nằm trong các quyển sách như “Lễ ký,” “Kinh dịch,” có rất nhiều, nhưng cần có người nỗ lực chỉnh lý. Học giả nước tôi, trong vài chục năm gần đây, đã chỉnh lý [sách xưa] ra được tư tưởng triết học, nhưng vẫn còn thiếu, thiếu rất nhiều. Chưa kể còn có thiên kiến. Điều này hãy còn cần chúng ta ôn cố tri tân, nỗ lực hơn nữa trong vấn đề này.

Hiện tại, trọng điểm của chúng ta là: “lễ” không chỉ là lễ mạo, lễ tiết, mà bao quát triết học hình nhi thượng, và tất cả các vận dụng trong nhân sinh của hình nhi hạ.

(i) Kiểu uổng quá chính -矫枉过正– jiǎo wǎng guò zhèng (câu trong Hậu Hán thư; kiểu là uốn nắn cho thẳng, sửa chữa; uổng là chỗ cong; đem vật cong uốn thành thẳng, lại làm cho méo lệnh hẳn về một bên. Dùng để hình dung sửa chữa sai lầm lại làm quá giới hạn cần có.)

(ii) Học giả là người Đài Loan. Mời mọi người vào đây xem tiểu sử, ngưỡng mộ quá. https://en.wikipedia.org/wiki/Nan_Huai-Chin

[Bình luận của YL]

Lại nợ bình luận, nhưng chỉ ra 1 điều cần chú ý thôi: qua phân tích bình luận của các học giả, có thể thấy ý nghĩa của “lễ” rất rộng, không chỉ là lễ tiết, mà bao gồm cả luân lý ,và các loại luật pháp, phép tắc, nguyên tắc, quy định dựa trên các luân lý đó mà đặt hay là phát triển ra, để điều chỉnh cho các mối quan hệ giữa con người với con người, cũng như quy định con người nên xử lý một sự việc thế nào.

Chú thích là từ luân lý, tiếng Anh gọi là ethics. Trong tiếng Anh có sự phân biệt giữa luân lý (ethics) và đạo đức (morality). Còn ở Việt Nam ít ai phân biệt giữa luân lý vào đạo đức. Ở Việt Nam thường chỉ nói đến đạo đức thôi.

Nhân chương này, lại nhớ đến cuộc cãi nhau kinh khủng của các nhà giáo dục Việt Nam, về việc có nên bỏ khẩu hiệu ‘tiên học lễ, hậu học văn’ trong các trường học, cho bài Trung Quốc, bài Nho giáo, thoát Trung, bài sự ‘lạc hậu, cổ hủ’ cho nó triệt để :-), trong đó không ít người hiểu lễ là giành cho học sinh, học sinh phải răm rắp nghe lời thầy cô giáo, thầy cô nói gì cấm cãi (vậy thầy cô thì không có lễ của thầy cô?). Ai có hứng thì chém gió về chủ đề này đi 🙂

Si

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: