Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.6

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.6

1.6. 子曰:“弟子入则孝,出则弟,谨而信,泛爱众,而亲仁,行有余力,则以学文。”

Zǐ yuē “dì zǐ rù zé xiào chū zé tì jǐn ér xìn fàn ài zhòng ér qīn rén , xíng yǒu yú lì zé yǐ xué wén ” 

Tử viết: Đệ tử (1) nhập (2) tắc hiếu, xuất (3) tắc đễ, cẩn (4) nhi tín, phiếm (5) ái chúng, nhi thân nhân (6), hành hữu dư lực (7), tắc dĩ học văn (8).

(1) 弟子- dì zǐ – đệ tử: thường có hai loại ý nghĩa: một là chỉ người tuổi tương đối nhỏ, làm con em người ta, hai là chỉ học sinh. Ở đây là dùng theo ý nghĩa thứ nhất.

(2) 入- rù, nhập: Ở thời cổ đại cha con sống ở nhà/phòng khác nhau, người đi học sẽ không sống ở nhà với cha mẹ. ‘Lễ ký. Nội tắc’ viết: 由命士以上,父子皆异宫 – do mệnh sĩ dĩ thượng, phụ tử giai dị cung: noi theo cấp sĩ trở lên, cha con đều ở nhà/phòng khác nhau. (Đẳng cấp cổ đại: thiên tử, chư hầu, đại phu, sĩ và thứ dân. Sĩ trở lên là cấp bậc được thụ phong. Ngày xưa nhà nào cũng gọi là cung, từ thời Tần, Hán trở đi chỉ nhà của vua ở mới gọi là cung. YL). Nhập là nhập phụ cung, chỉ đến nhà/phòng phụ thân ở, hoặc chỉ khi ở nhà (với cha mẹ).

(3) 出 – chū – xuất: là nói ngược lại so với “nhập,” chỉ ra ngoài bái sư học tập. Xuất tắc đễ, là nói cần dùng đạo “đễ” để đối đãi thầy giáo, cũng có thể chỉ đối đãi với những người tuổi lớn hơn mình nói chung.

(4) 谨 – jǐn – cẩn: quả ngôn thiểu ngữ gọi là cẩn. (quả ngôn thiểu ngữ-寡言少语 – nói ít).

(5) 泛 – fàn – phiếm: 广泛 – quảng phiếm: phổ biến, rộng khắp.

(6) 仁 – rén – nhân: chỉ người nhân, người có nhân đức.

(7) 行有余力 – xíng yǒu yú lì – hành hữu dư lực: chỉ có thời gian nhàn hạ.

(8) 文- wén – văn: văn hiến cổ đại, chủ yếu bao gồm các loại văn hóa tri thức thi thư lễ nhạc. (hiến (danh từ) có nghĩa là người hiền tài. Văn hiến là sách vở văn chương của người hiền tài).

[Dịch nghĩa câu]

Khổng tử nói: các đệ tử ở nhà, thì hiếu thuận cha mẹ; ra khỏi nhà, cần thuận tòng thầy giáo, ngôn hành [ngôn ngữ hành vi] cần cẩn thận, cần thành thực đáng tin, ít lời ít tiếng, cần yêu tất cả mọi người, thân cận những người có nhân đức. Sau khi tự mình thực hành(i) những điều này, nếu vẫn còn dư lực, thì học tập văn hiến tri thức.

(i) cung hành thực tiễn -躬行实践 – gōng xíng shí jiàn: tự mình thực hành hoặc thể nghiệm, xuất xứ từ thời Nguyên.

[Phân tích bình luận – Chưa rõ là ai]

Chương 2 của Thiên này từng nhắc đến “hiếu đễ,” chương này một lần nữa đề cập chủ đề này. Khổng tử yêu cầu những người trẻ tuổi làm con em trước hết cần tận lực hiếu đễ, cẩn tín [cẩn thận thành tín], ái chúng [yêu tất cả mọi người], thân nhân [thân cận người có nhân đức], bồi dưỡng nên quan niệm đạo đức và hành vi đạo đức tốt đẹp, nếu như vẫn còn thời gian nhàn hạ và sức lực, thì cần học tập sách vở của người xưa để lại, tăng thêm văn hóa tri thức.

Điều này thể hiện rõ, nền giáo dục của Khổng tử lấy giáo dục đạo đức làm trung tâm, coi trọng bồi dưỡng việc tu dưỡng đạo đức hành vi của học sinh, còn đối với việc học tập tri thức sách vở, chỉ đặt ở vị trí thứ hai.

Khổng tử thi hành giáo dục, đặt lên vị trí hàng đầu việc bồi dưỡng ý thức đạo đức của học sinh, còn học tập văn hóa chỉ đặt ở vị trí thứ hai. Trên thực tế, bất cứ giai cấp nào trong lịch sử, vô luận là giai cấp chủ nô, địa chủ, hay giai cấp tư sản, giáo dục đều là để phục vụ chính trị, đặc biệt coi trọng phẩm hành [phẩm chất hành vi] đạo đức và biểu hiện chính trị của học sinh, lấy “đức” đặt trước “thức” [tri thức], đây là đòi hỏi của giai cấp. Họ đều cần bồi dưỡng nhân tài nhiều mặt thích hợp với yêu cầu của giai cấp mình.

 [Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Cổ đại gọi học sinh là “đệ tử,” thầy giáo thời cổ đại đối với học sinh, xem như con em của mình. Quan hệ thầy giáo – học sinh như quan hệ cha con, có tình trạng là “一日从师,终身若父” – nhất nhật tòng sư, chung thân nhược phụ – một ngày theo thầy, cả đời coi như cha, mà thầy giáo đối với học sinh, cũng gánh trách nhiệm cả đời […].

Khổng tử nói một người học sinh “nhập tắc hiếu,” ở trong nhà phải là một người con có hiếu (như thế nào gọi là hiếu, rất nhiều phần tiếp theo sẽ giảng về hiếu đạo, ở đây tạm không bàn luận). “Xuất tắc đễ,” ra khỏi nhà, không ở cùng với anh em, thì đễ như thế nào? Chính là ở bên ngoài, đối với bạn bè, với xã hội, với mọi người nói chung đều phải thân ái, mở rộng ra là yêu nước, yêu thiên hạ, đều là ý nghĩa của chữ “đễ” này.

“Cẩn nhi tín,” làm người vô cùng cẩn thận, nhưng khi nói đến chữ “cẩn” cần chú ý, không nên biến thành nhỏ nhen. Cẩn thận và cố chấp câu nệ là hai việc khác nhau, có một số người vô cùng câu nệ, đến quá mức thì thành nhỏ nhen. Trong lịch sử có một tấm gương về cẩn thận, chính là một nhân vật được chúng ta vô cùng sùng bái là Gia Cát Lượng. Mới có câu là “Gia cát nhất sinh duy cẩn thận, Lã Đoan đại sự bất hồ đồ” – Gia Cát cả một đời luôn cẩn thận, Lã Đoan làm việc đại sự không hồ đồ (i). Đây là một câu đối nổi tiếng, cũng là một cách ngôn rất hay (ii). Lã Đoan là một tể tưởng nổi tiếng thời Tống, nhìn vào thì tưởng ông ta ngu đần, nhưng kỳ thực ông ta không hề ngu, mà đây là tu dưỡng của ông ta, khi phải xử lý đại sự, khi gặp chỗ then chốt trọng yếu, ông ta tuyệt đối không cẩu thả tùy tiện. Còn Gia Cát Lượng cả một đời làm việc đều ở một chữ cẩn thận, nếu cần tìm một tấm gương cẩn thận tốt nhất, chúng ta có thể nghiên cứu về Gia Cát Lượng, ở đây sẽ không nêu rõ.

Tóm lại, cái gọi là cẩn thận không thể biến thành nhỏ nhen, điểm này khi tu dưỡng cần chú ý, còn một người có thể cẩn thận xử thế mà giữ được tín, tức là giữa người với người, giữa người với xã hội, đều phải nói mà giữ được lời. Đồng thời cần phải “phiếm ái chúng,” có tấm lòng vĩ đại, có thể yêu mọi người […]. Về lý thuyết thì rất dễ, nhưng yêu tất cả mọi người, đó là tổng hợp của “quân đạo” và “sư đạo,” yêu người thiên hạ như yêu chính bản thân mình, lý thuyết dễ, nhưng tu dưỡng đạt đến trình độ này rất khó. Khổng tử nói, giả sử một người làm được việc này, “nhi thân nhân,” thân cận làm bạn với người có học vấn đạo đức, “hành hữu dư lực tắc dĩ học văn,” còn thừa tinh lực thì “học văn,” tức là thích làm văn học, khoa học, nghệ thuật hay lĩnh vực nào đi nữa đều có thể, đó là chí hướng, là sở thích của từng người, có thể lượng sức mình mà làm, ai cũng có thể tự do chọn.

(i) Lã Đoan, hay Lữ Đoan

(ii) Cách ngôn: câu nói ngắn gọn, có thể dùng làm phép tắc noi theo, châm ngôn.

[Nhận xét của YL]

Tiên học lễ, hậu học văn là ở đây?

Ta hiểu phần đầu của câu này như sau: ở nhà cần hiếu thuận với bố mẹ, ra đường cần lấy sự chân thành đáng tin cậy mà đối đãi người khác, lời nói phải thận trọng, không trí trá, nói ít, không cần nhiều lời nhưng lời nói việc làm đi đôi với nhau, nói được làm được, yêu thương tất cả mọi người nhưng nên tìm người nhân đức mà thân cận.

Phần bình luận của Dương bá Tuấn, còn thiếu không nhắc đến giai cấp vô sản 😛

Phần bình luận của Nam Hoài Cẩn ta không dịch hết, bỏ mấy mấy cái ví dụ, với một phần tổng kết là có 3 loại đạo: quân đạo, thần đạo, và sư đạo. Nhưng có thể thấy, “nhập tắc hiếu” của Nam Hoài Cẩn, là hiếu với cả cha mẹ và thầy giáo, còn “xuất tắc đễ,”là đối với bạn bè, với xã hội, không phải như Dương Bá Tuấn, đối với cha mẹ là hiếu, đối với thầy giáo là đễ.

Advertisements

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.3

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.3

1.3. 子曰:“巧言令色,鲜矣仁!”

Zǐ yuē: qiǎo yán lìng sè, xiān yǐ rén!

Tử viết: xảo ngôn lệnh sắc (1), tiển (2) hĩ nhân!

(1) 巧言令色 – qiǎo yán lìng sè – xảo ngôn lệnh sắc: Chu Hi chú thích: 好其言,善其色,致饰于外,务以说人 – hảo kì ngôn, thiện kì sắc, trí sức ư ngoại, vụ dĩ duyệt nhân – lời nói tốt đẹp, nhan sắc hòa thiện, hết lòng làm/thể hiện đẹp ở bên ngoài, chuyên chú làm đẹp lòng người khác . “Xảo” và “lệnh” đều mang ý nghĩa tốt đẹp. Tuy nhiên ở đây nên giải thích là giả trang dáng vẻ hòa ngôn duyệt sắc – dáng vẻ ngôn ngữ hòa nhã.

(2) 鲜- xiǎn – tiển: ít, thiếu, hiếm. Trong Luận ngữ, chữ鲜 đều mang ý nghĩa này. Chữ矣 tiếp theo dùng như từ 了 (le) hiện đại. Khi biểu thị cảm thán thấy Việt Nam mình hay dịch là “thay,” “vậy thay.”

[Dịch nghĩa câu]

Khổng tử viết: Hoa ngôn xảo ngữ, làm ra vẻ hòa ngôn duyệt sắc, loại người này, thật thiếu lòng nhân!

[Bình luận phân tích]

Chương trước đã nói, nhân là cốt lõi của học thuyết của Khổng tử và Nho gia, một trong những biểu hiện của nhân là hiếu và đễ. Ở đây trực tiếp giảng giải nhân là cái gì. Trong chương này, Khổng tử nói về mặt đối nghịch của nhân, đó là hoa ngôn xảo ngữ, làm ra vẻ hiền từ hòa thiện. Nho gia đề cao sự chất phác (simple, plain), phản đối hoa ngôn xảo ngữ; chủ trương lời nói ra nên cẩn thận, nói được làm được, làm trước nói sau, phản đối lời nói việc làm “thuận tâm sở dục” (thích gì làm đấy, thích gì nói đấy), chỉ nói không làm, chỉ dừng lại ở lời nói. Điều này thể hiện, Khổng tử và Nho gia chú trọng hành động thực tế của con người, đặc biệt nhấn mạnh con người nên “ngôn hành nhất trí”, hết sức tránh nói chuyện hão, lời nói phù phiếm, tâm khẩu bất nhất (ngôn hành nhất trí -言行一致 – yán xíng yī zhì – lời nói và việc làm như nhau). Loại tinh thần chất phác, thái độ thiết thực này có ảnh hưởng lâu dài đến người Trung Quốc, hình thành nên nội dung tinh hoa của văn hóa tư tưởng truyền thống Trung Hoa.

[Bình luận phân tích khác] (ta  vợt được trên mạng)

Từ 巧 – xảo thường có ý nghĩa cao diệu, thông huệ, linh xảo, mỹ hảo.

Từ 令 – lệnh có nghĩa tốt, thiện.

Do đó hai từ xảo ngôn, lệnh sắc đều có ý nghĩa tốt đẹp, tại sao ở đây chuyển 180 độ, “khí minh đầu ám”- bỏ chỗ sáng mà hướng về chỗ tối vậy? (khí minh đầu ám – 弃明投暗 – qì míng tóu àn). Suy luận hợp lý là ở đây ẩn tàng một chút “ngôn ngoại chi ý” (言外之意 – yán wài zhī yì – ý nằm ở ngoài lời nói, hàm ý, ẩn ý, xuất từ Lục nhất thi thoại của Âu Dương tu thời Tống).

Lời nói quá lọt tai, sắc mặt tỏ ra hòa thiện, nhưng không có một chút thành khẩn nào. Lời nói như thế không phải là biểu hiện của nhân vậy. Ngôn ngoại chi ý của xảo ngôn lệnh sắc, chính là “không có một chút thành khẩn nào.” Do đó ý của Khổng tử là xảo ngôn lệnh sắc nhưng không thành khẩn là không tốt.

[Bình luận khác nữa]

Có người nói, Khổng tử sinh ra không được trời phú cho nhan sắc, cho nên không ưa những người xảo ngôn lệnh sắc 😛

Si

 

 

 

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.2

 Thiên 1. Học nhi. Chương 1.2

1.2. 有子曰:“其为人也孝弟,而好犯上者,鲜矣;不好犯上而好作乱者,未之有也。君子务本,本立而道生。孝弟也者,其为仁之本与!”

Yǒu zǐ yuē: qí wéi rén yě xiào tì, ér hào fàn shàng zhě, xiǎn yǐ;  bù hào fàn shàng, ér hào zuò luàn zhě, wèi zhī yǒu yě。 Jūn zǐ wù běn, běn lì ér dào shēng。 Xiào tì yě zhě, qí wéi rén zhī běn yú。

Hữu tử (1) viết: kì (2) vi nhân dã hiếu đễ (3), nhi hảo phạm thượng giả (4), tiển (5) hĩ; bất hảo phạm thượng, nhi hảo tác loạn giả, vị chi hữu dã (6). Quân tử vụ bản (7), bản lập nhi đạo sinh (8). Hiếu đễ dã giả, kì vi nhân chi bản dư (9)!

(1) 有子 – Yǒu zǐ- Hữu tử: tức Hữu Nhược, học trò của Khổng tử, kém Khổng tử 13 tuổi. Có thuyết nói kém 33 tuổi, có vẻ đáng tin hơn. Trong sách Luận ngữ đều gọi học sinh của Khổng tử theo tên tự, chỉ có Tăng Sâm và Hữu Nhược xưng là “tử.” Do đó, nhiều người cho rằng Luận ngữ chính là do Tăng Sâm và Hữu Nhược tổng hợp.

(2) 其- qí – kỳ: từ này khó ghê lắm, ý nghĩa vô cùng “linh hoạt,” thấy đặt trong các câu khác nhau, và ở các vị trí khác nhau, lại mang ý nghĩa khác nhau. Để cho đơn giản dễ hiểu, thì tiếng Anh là his, her, its, theirs, that, such, it (refers to something preceding it).

(3) 孝弟 – xiào tì – hiếu đễ: Hiếu là cách đúng đắn, thích đáng của con cái cư xử với bố mẹ; đễ (弟đồng âm đồng nghĩa với悌, hay có thể nói là cách viết khác nhau, nhưng nghĩa như nhau) là thái độ đúng mực, thích đáng của em trai với bậc huynh trưởng. Hiếu, đễ là hai quy chuẩn đạo đức căn bản được Khổng tử và Nho gia đặc biệt đề cao. Chú thích xưa viết: 善事父母曰孝,善事兄长曰弟 – Thiện sự phụ mẫu viết hiếu, thiện sự huynh trưởng viết đễ- làm việc tốt đối với bố mẹ gọi là hiếu, làm việc tốt đối với huynh trưởng gọi là đễ.

(4) 犯上- fàn shàng- phạm thượng: Mạo phạm người ở vị trí cao hơn.

(5) 鲜- xiǎn – tiển: ít, thiếu, hiếm. Trong Luận ngữ, chữ鲜 đều mang ý nghĩa này. Chữ矣 tiếp theo dùng như từ 了 (le) hiện đại.

(6) 未之有也 : câu này theo quy tắc ngữ pháp Hán ngữ thời cổ đại. Trong câu phủ định, nếu tân ngữ (object) là đại từ (pronoun) thì phải đặt lên trước động từ. Chữ 之 (tiếng Anh là him, her, it, thế cho dễ hiểu nhé) chính là đại từ làm tân ngữ (object). Nên thực chất câu này là未有之也 – không có người như thế.

(7) 务本- wù běn – vụ bản: vụ là chuyên tâm, tận lực; bản là căn bản.

(8) 道 – dào – đạo: trong tư tưởng cổ đại Trung Quốc, đạo có rất nhiều hàm nghĩa. Đạo trong câu này, là chỉ仁 “nhân” đạo mà Khổng tử đề cao. Nhân là cốt lõi của toàn bộ hệ thống tư tưởng đạo đức, cũng như của biểu hiện đời sống hàng ngày. Nói một cách đơn giản, nhân là nguyên tắc căn bản của cả việc trị quốc lẫn việc làm người.

(9) 为仁之本 – wéi rén zhī běn – vi nhân chi bản: nhân là phạm trù cao nhất của tư tưởng triết học của Khổng tử, cũng là một chuẩn tắc đạo đức luân lý. Câu này vi nhân chi bản, ở đây có nghĩa là lấy hiếu đễ làm căn bản của đức nhân. Còn có một loại giải thích khác, cho rằng chữ 仁 (nhân) của cổ đại chính là 人 (nhân – người), cho nên “làm căn bản của đức nhân” cũng là “làm căn bản của việc làm người.”

[Giải nghĩa]

Hữu tử nói: hiếu thuận với bố mẹ, thuận phục  theo huynh trưởng, nhưng thích mạo phạm người trên (i), kiểu người như thế rất hiếm thấy. Không thích mạo phạm người trên, nhưng thích tạo phản, kiểu người như thế là không có. Quân tử chuyên tâm tận lực vào việc căn bản, căn bản một khi đã kiến lập được rồi, đạo sẽ theo đó mà sinh ra/xuất hiện (ii). Hiếu thuận với bố mẹ, thuận theo huynh trưởng, đây chính là căn bản của nhân vậy!

(i) Học giả Trung Quốc như Dương Bá Tuấn giải thích câu này là: nhưng thích phạm đến “thượng tầng thống trị giả” – người ở thượng tầng thống trị. Giải thích này đúng. Tuy nhiên, từ khi mặt trời chân lý chói rọi đến tư tưởng triết học, đạo đức luân lý phương Đông, mới có cụm từ gọi là “thượng tầng thống trị”? Và cụm từ này mang ý nghĩa tiêu cực?? Xét đến người xưa chưa chắc nói đến “thượng tầng thống trị” với hàm ý tiêu cực, nên ở đây ta đề chung chung là người trên, nhưng có thể hiểu chính là những người cai trị dân chúng (YL).

(ii) Dương Bá Tuấn giải nghĩa là: căn bản một khi đã kiến lập được rồi, nguyên tắc trị quốc làm người (trị quốc tác nhân) cũng sẽ có. Còn tại sao từ đạo lại suy ra “trị quốc làm người”, là theo chú giải số (8) của chính học giả này ở trên. Ta xét thấy, đạo, như ghi chú, có nhiều hàm nghĩa. Tốt nhất là để nguyên, để mỗi người tự cảm nhận. Chú giải của tiền bối, cũng chỉ là 1 cách luận mà thôi (YL).

[English]

The philosopher You said, “he who is filial toward his parents and obedient toward his elder brothers but is fond of opposing his superiors is rare indeed. He who is not fond of opposing his superiors, but is fond to raise a rebellion surely never exists. The gentleman devotes himself to the roots (=fundamentals). When the roots are well planted, the Way will grow. Filial piety and brotherly obedience are surely the roots of humaneness, aren’t they?”

[Phân tích bình luận] [của Dương Bá Tuấn???]

Có nhận định rằng, con người ta nếu ở nhà có thể tận hiếu với bố mẹ, thuận phục đối với anh trai, ra ngoài có thể tận trung với quốc gia. Hiếu đễ là tiền đề của trung, trung là mục đích của hiếu đễ. Nho gia cho rằng, ở trong nhà thực hành hiếu đễ, trong nội bộ nhóm thống trị sẽ không phát sinh các sự việc “phạm thượng tác loạn”; mang hiếu đễ truyền bá, dạy dỗ cho dân chúng, dân chúng cũng sẽ tuyệt đối phục tùng, chứ không tạo phản. Điều này giúp duy trì sự ổn định của xã hội và quốc gia.

Ở đây đề cập hiếu đễ là căn bản của nhân,  và Khổng tử coi nhân là cốt lõi của triết học, tư tưởng luân lý. Đây là điểm cực kỳ quan trọng. Trong thời Xuân Thu, Chu thiên tử thực hành chính sách con trai trưởng kế thừa ngôi vị, các con thứ phân phong làm chư hầu. Từ chư hầu trở xuống cũng theo chính sách như vậy. Toàn bộ kết câu chính trị của xã hội, từ thiên tử, chư hầu đến đại phu, cơ sở của nó là quan hệ huyết mạch tông pháp phong kiến. Do đó, thuyết hiếu đễ chính là phản ảnh nhu cầu đạo đức của xã hội theo chế độ tông pháp đương thời. (Tông pháp, hiểu một cách đơn giản là chế độ lấy gia tộc làm trung tâm, là phép tắc để điều chỉnh quan hệ gia tộc gần xa thân sơ).

Hiếu đễ có mối quan hệ trực tiếp với ổn định xã hội. Khổng tử đã nhìn ra điểm này, cho nên toàn bộ chủ trương tư tưởng của Khổng tử đều xuất phát từ đây.  Từ việc cho rằng người hiếu đễ sẽ không làm ra việc phạm thượng tác loạn, Khổng tử cho rằng hiếu đễ là căn bản của nhân. Sau thời Xuân Thu Chiến quốc, các triều đại phong kiến thống trị cũng như giới văn nhân đều tiếp nối thuyết hiếu đễ này của Khổng tử, chủ trương “dĩ hiếu trị thiên hạ” (lấy hiếu để trị vì thiên hạ), thời nhà Hán chính là một ví dụ điển hình. Nhà Hán đã biến việc giáo hóa đạo đức thành một thủ đoạn quan trọng để thi hành thống trị phong kiến, cấm túc trói buộc bách tính trong gông cùm của cương thường danh giáo, luân lý đạo đức, tạo ra ảnh hưởng to lớn đối với quan niệm đạo đức cũng như hành vi đạo đức của dân chúng, cũng như đối với toàn bộ văn hóa truyền thống Trung Quốc. Thuyết hiếu đễ là để phục vụ chế độ thống trị phong kiến và gia tộc tông pháp, đối với thuyết này cần có nhận thức, phân tích và phân biệt tỉnh táo, bài trừ độc tố phong kiến, thừa hưởng nội dung hợp lý, phát huy được tác dụng của đạo đức đối với ổn định xã hội.

[Bình luận của Yên Liên]

sẽ viết sau…

mỏi mắt trông chờ 😛

 

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Rie's Bento & Cooking

in healthy way with Love

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: