Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.11

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.11

1.11. 子曰:“父在,观其志;父没,观其行;三年无改于父之道,可谓孝矣。”

Zǐ yuē :“fù zài ,guān qí zhì ;fù méi ,guān qí xìng ;sān nián wú gǎi yú fù zhī dào ,kě wèi xiào yǐ 。”

Tử viết: “phụ tại, quan kì (1) chí; phụ một, quan kì hành (2); tam niên (3) vô cải ư phụ chi đạo (4), khả vị hiếu hĩ.”

(1) 其 – qí – kì: của anh ta (his), chỉ người con, không phải chỉ người cha.

(2) 行 – xíng – hành: chỉ hành vi cử chỉ các loại.

(3) 三年 – sān nián – tam niên: đối với số từ mà người xưa nói không nhất thiết phải lý giải một cách cơ giới, chỉ nói cần trải qua một khoảng thời gian dài là đủ, không nhất thiết là thời gian 3 năm.

(4) 道 – dào – đạo: có lúc là danh từ có ý nghĩa chung chung, bất luận tốt hay xấu, thiện hay ác đều có thể gọi là đạo. Nhưng rất nhiều lúc là danh từ mang nghĩa tích cực, ngụ ý những thứ thiện, tốt. Ở đây ý tứ là “nội dung hợp lý.”

[Giải nghĩa câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: Khi cha của anh ta còn tại thế, (do anh ta không có quyền hành động độc lập), cần quan sát chí hướng của anh ta; Sau khi cha của anh ta mất, cần kiểm tra xem xét hành vi của anh ta. Nếu như anh ta đối với các việc hợp lý của người cha, trong một thời gian dài không sửa đổi gì, người như thế này có thể gọi là tận hiếu vậy.

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Chương này như trước nói về vấn đề liên quan đến “hiếu,” cụ thể hóa chữ “hiếu.”  Lỗ Tấn từng nói: “chỉ cần là người tư tưởng không bị đóng kín, bế tắc, ai chẳng muốn con cái so với mình mạnh khỏe hơn, kiên cường hơn, thông minh cao thượng hơn,… hạnh phúc hơn; chính là vượt qua bản thân, vượt qua quá khứ. Vượt qua có nghĩa là cần phải cải cách sửa đổi, do đó con cháu đối với đối với việc của tổ tiên, nên sửa đổi, ‘tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu hĩ,’ đương nhiên là không đúng, là nguyên nhân sâu xa của sự quẩn quanh, sa sút, thụt lùi.”

Trong chương này Khổng tử nói một người sau khi cha mất, trong ba năm không thể sửa đổi những quy tắc do người cha đặt ra, đây gọi là tận hiếu. Kỳ thực, loại hiếu này, phiến diện cường điệu sự quy thuận của người con với người cha. Chú thích của các nhà Tống Nho nói, nếu không thể “vô cải ư phụ chi đạo,” hành động dù thiện lương cũng không thể coi là hiếu. Như thế, “vô cải ư phụ chi đạo” liền biến thành điều thiện lớn nhất, nếu không thì không thiện. Nguyên tắc phán định (phán xét quy định) kiểu này, chính như Lỗ Tấn nói, là sai trái. Lịch sử phát triển, xã hội tiến bộ, tư tưởng quan niệm, ngôn hành cử chỉ của con người đều không thể cố định ở tiêu chuẩn của ngày xưa, “thanh xuất ư lam nhi thắng ư lam” – màu lam bắt nguồn từ màu xanh nhưng xanh hơn cả màu xanh, thế hệ sau vượt qua thế hệ trước, đây là điều tất nhiên của lịch sử.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Tam niên vô cải ư phụ chi đạo: đạo – như việc, sự việc (chỉ sinh hoạt, hoạt động con người chung- YL). Nói đạo là dùng từ tôn kính khi nói về người cha. Chương này là nói về quan hệ phụ tử, nên nói đạo nói việc, đều là việc gia đình. Như kinh phí cho các lễ đội mũ, kết hôn, mai táng, tế lễ, việc tặng quà thăm hỏi trong các dịp hôn lễ hay đối với họ hàng, tiết kiệm hay chi tiêu cho việc ăn mặc, quy định lề lối khuôn phép cho các việc quanh năm, người con có hiếu không nỡ gấp rút thay đổi các quy định của người cha lúc còn sống. Hoặc là, theo thể lệ chuẩn tắc xưa, cha mất, con không vội vàng thân chính (đích thân cai trị, trị lí), trao chính sự cho tể tướng, ba năm không nói đến chính sự, đây là cái gọi là để tang ba năm. Tân quân (vua mới) trong lễ tang, đang vô cùng bi thương, không còn lòng dạ mà hỏi chính sự, lại do đột nhiên kế thừa ngôi vị, chưa có kinh nghiệm, nên sẽ im lặng không nói, không tùy tiện và thay đổi quy định của cha. Đây cũng là một cách hiểu. Chương này nói về cha con nói chung, không phải là nói riêng về bậc quân chủ.

Luận ngữ văn từ giản ước, dễ giải thích theo nhiều kiểu. Như chương này hoặc là chuyên giành cho quý tộc lúc đương thời, không phải cho dân thường. “Vô cải phụ đạo” – không sửa đổi đạo của cha, là chỉ thực thi chính trị, không phải chỉ hành vi sinh hoạt thông thường. Nếu không lúc người cha còn sống, người con chẳng lẽ lại không có hành vi thông thường, mà chỉ nói “quan kì chí” – xem chí hướng của anh ta? Hoặc là nói quan hệ cha con nói chung, chú trọng vào chữ “đạo” này. Nếu như hành vi của người cha là đạo, người con suốt đời tuân theo cũng là thích hợp. Nếu như không phải là đạo, việc gì phải chờ tận 3 năm? Hoặc là từ 3 năm này tìm hiểu, nếu như 3 năm không thay đổi, tất cả đời sẽ không đổi. Phân tích ra thật nhiều điều nghi vấn. Do đó những lời trong Luận ngữ, nguyên để học về quá khứ, cũng là để thông hiểu về hiện tại. Để tìm đến chính đạo, cũng là để phù hợp với thường tình. Nếu theo thuyết để tang ba năm, là chuyên khảo cứu về những cái chưa được của ngày xưa. Nếu nói hành vi của người cha không phải là đạo, tại sao lại phải đợi đến ba năm, đây là chuyên luận giải về cái chưa được của ý nghĩa của chương. Kì thật chương này của Khổng tử, là điều các gia đình ngày nay mong mỏi, người có thể tuân theo đạo này, nguyên là vẫn có. Ở đây không phải là không phù hợp với thường tình (i), cũng không phải là trái với chính đạo. Tấm lòng của người có hiếu, tự nhiên là hiểu điều này. Khổng tử xuất phát từ nhân tâm (trái tim con người/lòng người) mà thiết lập nên việc giáo dục, nếu cứ đòi hỏi cao xa(ii), sẽ thành làm mất đi ý nghĩa chân chính của chương. Người học cần cẩn thận làm rõ vậy.

(i) Nguyên văn là bất cận nhân tình. Còn bất cận nhân tình là gì thì mời vào Danh sách Thành ngữ Tục ngữ I để tham khảo J

(ii) Hảo cao vụ viễn – 好高鹜远 – hǎo gāo wù yuǎn: chữ vụ, nguyên nghĩa là con vịt trời, phải tra từ điển tiếng Trung ở cấp độ tinh vi, mới thấy còn làm động từ, nghĩa mở rộng là truy cầu. Câu này có nghĩa là thích truy cầu những thứ cao xa, dùng để chỉ không tự lượng sức, không theo thực tế mà xử lý sự việc, chỉ theo những thứ xa vời không thiết thực.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Giải thích của một số tiền bối đối với câu này, cũng là lầm lẫn. Họ nói xem một người, khi cha mẹ còn sống thì xem chí hướng của anh ta, khi  cha mẹ mất thì  xem hành vi của anh ta, trong vòng ba năm, nếu không thay đổi các chuẩn mực nguyên tắc do cha mẹ từng thực hành, người này có thể gọi là có hiếu. Vấn đề là, giả sử bố mẹ hành vi không đoan chính, sống bằng ăn cắp ăn trộm, người con không muốn làm trộm cắp, nhưng vì đạo hiếu, liền không thể không làm trộm cắp ba năm. Như thế này, không phải là không có vấn đề sao? […]

Chữ 志 – “chí”  trong “phụ tại quan kì chí,” chữ “chí” trong sách vở của người xưa có ý nghĩa là “ý chí,” bao gồm cả tư tưởng, thái độ. Chúng ta đều từng làm con, đều có kinh nghiệm này: trước mặt cha anh, nghe những lời phân phó giáo huấn, đều dạ dạ vâng vâng, nhưng quay lưng đi, liền cùng bạn học, bạn bè nhăn mặt nhăn mày, tỏ ý không nghe. Do đó, “phụ tại quan kì chí” câu này, là nói lúc ở trước mặt cha mẹ, cần ngôn hành nhất trí – lời nói hành động thống nhất. Khi cha mẹ không ở trước mặt, sau lưng cha mẹ, cho đến lúc cha mẹ mất đi, đều cần lời nói hành động như một, thành khẩn, thật thà, nói không tiếp thu là không tiếp thu. Nếu như làm người tốt liền làm đến cùng, cha mẹ mất rồi, trong vòng 3 năm, không thay đổi đạo của cha, nói được làm được, qua thời gian ba năm dài như thế này, tình cảm không phai nhạt, lời nói hành động thống nhất, hành xử nhất quán, đây chính là hiếu tử – người con có hiếu.

[Bình luận của YL]

Trước hết lại phải than vãn về phần bình giải của Tiền Mưu. Văn chương quá khó hiểu, câu cú không chủ ngữ không vị ngữ, từ ngữ lạ đời, để hiểu và dịch được một phần bình luận của học giả này, khéo bằng đọc cả 1 thiên Luận ngữ. Chưa kể dịch ra, cũng không rõ là có đúng nghĩa hay không. Không phải mỗi ta kêu, mà đến các bạn TQ cũng phải kêu.

Hôm nọ thâý một bình luận trên mạng, nhưng tiếc quá không giữ lại, đại ý nói. Dương Bá Tuấn coi Luận ngữ như cơ thể con người, đem ra phẫu thuật, mổ xẻ phân tích. Còn Tiền Mưu coi như cha mẹ, đặt lên bàn thờ mà phân tích. Hì.

Quay lại chương này, chủ yếu cũng vẫn là ở một chữ “đạo.” Từ cách phân tích khoa học mà học được của người phương Tây, phải đặt câu hỏi “nội hàm” của đạo là gì? hay nói cách khác, đạo bao gồm những gì? và không bao gồm những gì? Cái này chưa học giả nào liệt kê ra được cho thỏa mãn lòng học hỏi của người học.

Nếu nói tất cả mọi thứ của người cha, miễn là tốt đều gọi là đạo, nhưng thời thế thay đổi, xã hội thay đổi, có những thứ một vài chục năm trước tính là tốt, nhưng một vài chục năm sau lại không thể coi là tốt, như thế có nên giữ hay không? (Bình luận của Dương Bá Tuấn thiên theo hướng này)

Nhưng có những thứ, trước sau vẫn vậy, nếu đời sau quá thiên về cải cách, đổi mới, mà không giữ được những thứ tốt đẹp của đời trước truyền lại, như thế cũng có nên hay không? (Bình luận của Tiền Mưu thiên theo hướng này).

Chính vì không làm rõ nội dung của đạo, nên bảo nhất nhất cái gì cũng theo xưa mà làm, người thời nay khó ai có thể phục, nhưng nếu bảo giữ những cái tốt, còn hợp thời, thì lại phải đặt câu hỏi, cụ thể là những cái gì?

Không rõ các nhà Nho hiện đại, đã giải quyết vấn đề này chưa?

Vẫn là Hàn Sinh

 

Advertisements

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.9

Thiên 1. Học nhi. Chương 1.9

1.9. 曾子曰:“慎终追远,民德归厚矣。”

Zēng zǐ yuē :“Shèn zhōng zhuī yuǎn ,mín dé guī hòu yǐ 。” 

Tăng tử viết: “Thận chung (1) truy viễn (2), dân đức quy hậu hĩ.”

[Dịch câu – Dương Bá Tuấn]
Tăng tử nói: cẩn thận xử lý việc cha mẹ qua đời, truy niệm các đời tổ tiên, tự nhiên sẽ khiến cho lão bách tính trung hậu thật thà.

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]
1. Thận chung -慎终 – Shèn zhōng: Chú thích của Trịnh Huyền: “老死曰终?” (già mất gọi là chung). Có thể thấy chữ “chung” là chỉ cha mẹ qua đời. Nội dung của thận chung, “Luận ngữ chính nghĩa” của Lưu Bảo Nam dẫn lời của Tăng tử trong “Đàn cung” là chỉ các việc khâm liệm, mai táng cần thành tâm thành tín, không sẽ hối hận.
2. Truy viễn – 追远 – zhuī yuǎn: nói cụ thể là chỉ “tễ tự tẫn kì kính” – trong việc tế tự cần tận lòng tôn kính. Hai chú thích này đều suy từ mặt chữ mà ra.
[Luận ngữ tân giải – Tiền Mục]

Thận chung: chung, từ ngữ chỉ tang lễ. Người mất sẽ không quay lại, hơn nữa càng đi càng xa. Nếu như lễ tiễn người đi  mà không làm hết sức, sau có hối cũng không kịp, do đó cần làm cẩn thận.

Truy viễn: viễn, từ ngữ chỉ tế lễ. Người đã mất cách ta lâu rồi, vẫn có thể luôn nhớ đến không quên, mà sau đó làm lễ tế. Con người ở cùng với nhau, dễ sinh lòng tính toán so đo công danh lợi lộc, mà tình thâm ý trọng đáng ra phải có giữa người với người, cũng thường bị che khuất đi không dễ thấy. Nay đối với người đã mất, trước chỉ có  tình nghĩa, sau càng không nhận được báo đáp gì [mà vẫn nhớ đến và tế bái – YL], thì càng thấy độ sâu đậm của tình ý trong đó. Do đó làm lễ tang và lễ tế mà dùng tận bi ai và thành tâm, có thể khai mở, phát dương nhân tâm (人心 – lòng người/ trái tim của con người), khiến cho đạo đức của con người hàng ngày đều hướng về sự đôn hậu (thật thà trung hậu).

Nho gia không đề xướng tín ngưỡng tông giáo, cũng không chủ trương tồn tại linh hồn sau khi chết, nhưng vẫn cực kỳ coi trọng lễ tang tế bái, vì đây là một biểu hiện của thứ tình cảm  chân thực thuần khiết nhất trong việc sinh tử, chính là thứ mà Khổng tử gọi là 仁心 -“nhân tâm” và 仁道- “nhân đạo” (lòng nhân/đạo nhân)(i). Khổng môn thường lấy việc giáo dục con người ta đức “hiếu” để đạt được đến “nhân tâm” của nhân loại. Lễ tang tế bái, là biểu hiện cuối cùng của đạo hiếu. Đối với người mất có thể tận chân tình, từ chỗ người mất không đạt được lợi ích thực tế nào, từ chỗ người sống cũng không hy vọng báo đáp nào, việc này vượt ra ngoài phạm vi của tính toán công danh lợi lộc, do đó càng thấy tình ý chân thực. Biết rõ người đã mất rồi, mà không nhẫn tâm đối đãi chung chung, điều này tức là thứ mà Mạnh tử gọi là “bất nhẫn chi tâm.” Đối với người đã mất rồi mà còn không thể nhẫn tâm, thì đối với người vẫn sống có thể biết thế nào rồi. Cho nên một Nho giả có thể theo lý và trí mà nói rằng, mặc dù không khẳng định người sau khi mất đi có ma quỷ hay không, nhưng vẫn từ chỗ tình cảm sâu sắc nhất của  con người mà thiết lập việc giáo dục,  mà tuân theo việc thận chung truy viễn,  xác thực cũng là điều bắt buộc. Chương này của Tăng tử, là một phần của việc đề cao đạo nhân của Khổng môn vậy.

Câu này có thể diễn giải là,

Tăng tử nói: đối với lễ tang người mất có thể cẩn thận, đối với người mất đã lâu có thể không ngừng nhớ đến, như thế có thế làm cho phong tục đạo đức của xã hội hàng ngày đều hướng theo sự trung hậu thành thật. 

(i) Chú ý hai chữ “nhân” khác nhau. Chữ nhân trong 人心 -“nhân tâm” là chỉ con người. Chữ nhân trong 仁心 -“nhân tâm” – lòng nhân và 仁道 ” – nhân đạo” – đạo nhân, cũng là chữ nhân trong “nhân nghĩa lễ trí tín” mà chúng ta hay nói, là giá trị  đạo đức, khoan dung, thương yêu người khác, thiện lương, vân vân và vân vân. 

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Cách giải thích của người xưa với câu này, ta cũng có chút ý kiến. Giảng đến đạo hiếu, thời xưa giảng về đạo hiếu trong văn hóa của Trung Quốc,  nguyên là rất quan trọng, chúng ta thấy trong lịch sử tấu sớ gửi lên hoàng đế, thường có câu “thánh triều dĩ hiếu trị thiên hạ” – triều ta lấy hiếu trị thiên hạ (i). Giống như là cơ sở tinh thần của hiến pháp, thời xưa chúng ta không có danh từ “hiến pháp”, nhưng có tinh thần này  – tinh thần triết học của hiến pháp, lấy đạo hiếu làm cơ sở, làm trung tâm. Do đó các hoàng đế thời xưa, quyền khuynh thiên hạ (ii), một khi về nội cung, gặp mẫu hậu, hoàng đế cũng phải quỳ xuống, hoàng thái hậu đối với một vấn đề nào đó nói một câu không nên, hoàng đế liền không thể không thay đổi (nhưng ở nội cung, mẫu hậu tất không can dự triều chính). Dĩ nhiên, chúng ta trước giờ luôn lấy hiếu trị thiên hạ, nhưng gượng ép lôi vào để giải thích, cũng không đúng, người xưa đã giải thích “thận chung truy viễn” là đạo hiếu. Do đó ngày xưa ở đại lục, trên bài vị tổ tông đặt trong phòng thờ của người ta, luôn là 4 từ “thận chung truy viễn,” đây chính là do người xưa giải thích “thận chung truy viễn” là lời riêng dành cho đạo hiếu. Họ giải thích như sau: cẩn thận đối với người đã mất, là nói đối với người đã mất, tiền nhân đã mất, chúng ta phải hoài niệm họ (nhớ đến/ nghĩ đến). “Dân đức quy hậu hĩ,” được giải thích là, nếu như ai cũng có thể hiếu thuận với cha mẹ, hiếu với tổ tông, phong tục xã hội có thể trở nên nhân hậu.

Ở đây có vấn đề là,  ý tứ thì đúng, nhưng giải thích khiên cưỡng. Tại sao lại trích dẫn câu này của Tăng tử mà thực chất nói về học vấn? “Thận chung truy viễn” có ý nghĩa gì? “终-Chung” là kết quả, “远-viễn” là nguyên nhân rất xa, dùng một câu theo quan niệm hiện đại để nói là có thể giải thích ngay, “một người nếu hy vọng có một kết quả tốt, không bằng có một mở đầu tốt.” Muốn cẩn thận đối với kết quả, trước hết cần truy về nguyên nhân sâu xa, kết quả của mỗi việc, đều là do nguyên nhân sâu xa mà nên, ở đây chúng ta có thể trích dẫn một câu Phật học: Bồ tát úy nhân, phàm phu úy quả – Bồ tát sợ nhân, phàm phu sợ quả (iii). Bồ tát của Phật gia, đại loại như thánh nhân của Nho gia Trung Quốc, bậc thánh nhân cực kỳ coi trọng động cơ của một sự việc. Ví dụ có một người bạn đến rủ ta làm ăn, động cơ của anh ta, cũng tức là nguyên nhân ban đầu, chúng ta cần phải chú ý, có thể là nguyên nhân tốt, cũng có thể là nguyên nhân xấu, nếu như là nguyên nhân xấu, liền bảo ta làm giám đốc, tương lai nếu phải ngồi tù cũng là ta, nếu như vậy thì nguyên nhân này ta cần chú ý, do đó bồ tát chính là sợ “nhân” này. Còn “phàm phu” – người bình thường/phổ thông sợ “quả,” giống như người phạm tội tử hình đến khi chấp hình mới hối hận, hậu quả này đến rồi anh ta mới biết sợ. Cần chú ý người có học vấn, đối với mỗi sự việc, lúc có động cơ cần chuẩn bị tốt, cũng như vừa mới nói, muốn có kết quả tốt, không bằng có khởi đầu tốt, cũng có ý là lúc bắt đầu cần thận trọng.

Do đó ý nghĩa của “thận chung truy viễn,” là nói bất kỳ vấn đề gì nếu muốn kết quả tốt, cần có khởi đầu tốt, văn hóa phương Tây có một câu tục ngữ: khởi đầu tốt đã là thành công một nửa (iv), cũng chính là đạo lý này. Tất cả mọi người đều đều hiểu đạo lý này, liền “dân đức quy hậu hĩ.” Phong tục đạo đức xã hội, tự nhiên đều hướng về nhân hậu nghiêm cẩn (nghiêm túc, cẩn thận). Đây là đạo lý của học vấn.

(i) thánh – 圣 – shèng: là từ thánh trong thánh nhân, thần thánh, cũng là từ tôn xưng vua chúa hoàng đế.

(ii) Quyền khuynh thiên hạ – 权倾天下: quyền lực khuynh đảo thiên hạ – có thể làm nghiêng ngửa thiên hạ.

(iii) Bồ tát úy nhân, phàm phu úy quả -菩萨畏因,凡夫畏果 – Bồ tát sợ nhân, phàm phu sợ quả.

(iv) Ta thấy câu này: A good beginning makes a good ending; the beginning is the half of every action.

[Nhận xét của YL]

Dương Bá Tuấn/Tiền Mục giải nghĩa “đức” dày thành “trung hậu, thật thà.” Có vẻ như trong Nho giáo, rất coi trọng các giá trị này, lấy đây làm nền tảng cho việc tu tâm dưỡng tính, làm người tốt, nền tảng của đạo đức, của đức nhân. Các mối quan hệ bắc cầu, mạng lưới: hiếu- trung – trung hậu – thật thà- nhân đức- đạo đức, thật là phức tạp, làm người học loạn hết cả lên 🙂

Đoạn phân tích của Tiền Mục tiền bối, viết như lối văn cổ, thật khó hiểu, làm ta vò đầu bứt tai cả tuần, rất có tính gây trầm cảm.

Riêng cách giải thích của Nam Hoài Cẩn là khác với mọi người khác, cũng tức là khác so với số đông. Nếu đặt câu “thận chung truy viễn, dân đức quy hậu hĩ” riêng biệt, ta thấy cách giải nghĩa của Nam tiền bối có lý. Khi đọc cách giải thích của người khác, từ cẩn thận việc tang lễ mà suy ra tận đức hạnh của nhân dân sẽ đôn hậu hơn, quả có thấy con đường suy diễn hơi lắt léo (hoặc do đạo hiếu của ta không đủ, nên không thấy được sự tinh vi vi diệu trong đó). Tuy nhiên do vốn kiến thức ít ỏi, ta không dám khẳng định là cách giải nghĩa này có đúng với tinh thần của Tăng tử hay không, bởi vì để khẳng định, cần phải đọc rất nhiều sách vở thời xa xưa, để xem thời đó, người ta hay dùng từ “chung” với “viễn” theo nghĩa gì, cha mẹ mất – tổ tiên, hay là kết quả – nguyên nhân, hay có những câu nào tương tự hay không…

Tốt nhất vẫn là, “to each according to his needs” hả, hôm nay ta Marxist dễ sợ, 🙂

Si

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.7

* Một chương có nhiều kiến giải khác nhau, dài khủng khiếp, lại còn có thêm mấy thuật ngữ triết học cổ, nhớ đọc kỹ, đọc kỹ, và enjoy!!! 😛

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.7

1.7. 子夏曰:“贤贤易色;事父母,能竭其力;事君,能致其身;与朋友交,言而有信。虽曰未学,吾必谓之学矣。”

Zǐ xià yuē :“xián xián yì sè ;shì fù mǔ ,néng jié qí lì ;shì jūn ,néng zhì qí shēn ;yǔ péng yǒu jiāo ,yán ér yǒu xìn 。suī yuē wèi xué ,wú bì wèi zhī xué yǐ 。” 

Tử hạ (1) viết:“hiền hiền dị (2) sắc;sự phụ mẫu,năng kiệt kì lực;sự quân,năng trí (3) kì thân;dữ bằng hữu giao,ngôn nhi hữu tín。Tuy viết vị học,ngô tất vị chi học hĩ。”

[Dịch câu – Dương Bá Tuấn]
Tử Hạ nói: đối với thê tử, trọng phẩm chất đạo đức, không trọng dung mạo; phục dịch cha mẹ, có thể tận tâm kiệt lực; phục vụ quân chủ, có thể hy sinh tính mạng, giao du với bạn bè, nói lời thành thực, giữ đức tín. Loại người này, mặc dù nói là chưa từng học hành, ta cũng nhất định nói là anh ta đã học rồi.

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]
1. Tử Hạ: tức Bốc Thương, học sinh của Khổng tử, kém Khổng tử 44 tuổi.

2. 贤贤易色 – xián xián yì sè– hiền hiền dị sắc: câu này thường được giải thích là: “dùng cái tâm tôn trọng phẩm chất đạo đức ưu tú để hoán đổi (hoặc cải biến) cái tâm yêu mĩ sắc.” Theo cách giải thích này, ý nghĩa của câu này khá mơ hồ không rõ nghĩa. Các sách như “Kinh chỉ” của Trần Tổ Phạm, “Phác học. Trai trát kí” của Tống Tường Phượng lại nói, ba câu tiếp theo, sự phụ mẫu, sự quân, giao du với bạn bè, mỗi câu đều chỉ một mối quan hệ nhất định, vì vậy “hiền hiền dị sắc” cũng nên chỉ một loại quan hệ, chứ không phải là phiếm chỉ chung chung. Xã hội nô lệ và xã hội phong kiến rất xem trọng quan hệ phu thê, cho rằng đây là “nhân luân chi thủy” (khởi điểm của nhân luân/luân thường, đạo lý bình thường giữa con người) và “vương hóa chi cơ” (căn bản, nền tảng của giáo hóa), câu nàykhởi đầu liền nói đến [quan hệ phu thê], không có gì kỳ lạ cả. Tôi cho rằng câu này rất có đạo lý. “Dị” có nghĩa nghĩa trao đổi, thay đổi, cũng có ý nghĩa khinh thị, bất kính. Do vậy, tôi sử dụng cách giải thích trong “Hán thư”, quyển 75 “Lý Tầm truyền”, Nhan Sư Cổ “Chú”, giải thích “dị sắc” thành “không xem trọng dung mạo”.

3. 致其身 – trí kì thân: trí có ý là “hiến nạp” (cống hiến, cống nạp), “tận lực”. Ở đây có thể dùng “豁出生命” – hoát xuất sinh mệnh – “hi sinh tính mạng” để giải thích.

[Luận ngữ tân giải của Tiền Mưu] (viết trước sách của Dương Bá Tuấn)

Hiền hiền dị sắc, có thể chỉ quan hệ phu thê, nói người làm chồng có thể tôn trọng hiền đức hơn là nhan sắc diện mạo của người vợ. 4 câu đầu là lần lượt nói về quan hệ phu thê, phụ tử, quân thần, và bằng hữu.

Chương trước Khổng tử nói học, trước hết phải có đức hành, sau mới học văn (hóa), các nhà biên tập Luận ngữ xưa đặt tiếp theo là chương này của Tử Hạ. Có thể nói ngữ khí của chương này trầm trọng quá mức, đến gần như là phế luôn cả việc học hành. Do đó việc luận học của Khổng môn, vốn chỉ cho rằng cần coi trọng việc đạt được đức hạnh, người đời sau lại phân đức hạnh với học tập làm hai, mà làm mất đi ý nghĩa của hai chương này vậy.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Mấy câu này, là tiếp theo câu trước, chứng minh mục đích của học tập, không phải là văn học, tri thức, mà là làm người biết xử thế. Tử Hạ nhỏ hơn Khổng tử 44 tuổi […]. Sau khi Khổng tử mất, tại giai đoạn đầu của thời kỳ Chiến Quốc, Tử Hạ dạy học ở Hà Tây.  Các học giả có ảnh hưởng lớn tại thời kỳ Chiến Quốc, đều chịu nhiều ảnh hưởng của Tử Hạ. Do đó chúng ta cần chú ý đến điều này. Lãnh đạo lịch sử, lãnh đạo quốc gia xã hội, tới cùng đều là học vấn tư tưởng.

[…] Chúng ta xem nguyên văn “hiền hiền dị sắc,” hai chữ hiền, chữ đầu tiên là động từ, bởi vì văn tự Trung Quốc có lúc là mượn một chữ mà dùng với nghĩa khác. Chữ hiền thứ hai là danh từ, chỉ người hiền, tức là người có tu dưỡng, có học vấn tốt. “Dị sắc,” người xưa như các Nho gia thời Tống (Tống Nho), giải thích như thế nào? Họ đem “sắc” giải thích thành “nữ sắc,” “nữ nhân,” “nam nữ chi sắc.” (Khổng tử bị người ta đả đảo, chính là bị oan thế này). “hiền hiền dị sắc” là khi gặp được người hiền – người có đạo đức học vấn, lập tức phải học tập người đó. “Dị sắc,” đến nữ sắc cũng không cần, vợ cũng không cần, trong tình yêu, bạn gái cũng quăng sang một bên. Nếu như là nữ, đến bạn trai cũng không cần. Nếu thật như cách giải thích của Tống Nho, ta cho rằng Khổng phu tử không phải là thánh nhân vậy. Bởi vì thánh nhân, sẽ không đi trái ngược lại nhân tình. Khổng tử trong “Lễ ký” nói “饮食男女,人之大欲存焉” – ẩm thực nam nữ, nhân chi đại dục tồn yên – ăn uống, tình ái nam nữ, là bản tính và mong cầu lớn của con người. Đích xác cách nhìn của  Khổng tử đối với nhân sinh- là hình nhi hạ, chứ không nói đến hình nhi thượng (i). Đã là đời sống con người, không thể thoát khỏi hai việc lớn: ẩm thực, nam nữ. Một việc là vấn đề ‘tính’ (bản tính, bản chất, bản năng tự nhiên của con người), một việc là vấn đề sinh sống, sinh hoạt. Cái gọi là ẩm thực, bằng với vấn đề dân sinh. Nam nữ thuộc về vấn đề khang lạc [yên vui]. Nhân sinh không thể tách rời hai việc này. Có lúc xem sách vở liên quan đến văn hóa Trung Quốc, nói “食色性也” – thực sắc tính dã (thực và sắc là hai bản tính của con người) là do Khổng tử nói. Sai, câu này không phải là Khổng tử nói, mà là do Cáo tử, cùng thời với Mạnh tử, nói. Về sau dẫn chứng hay sử dụng sách vở, không nên trước sai sau cũng sai, đã sai lại tiếp tục sai.

Vấn đề tính này, đến cuối cùng là tính tiên thiên hay hậu thiên (ii)? Về sau hãy thảo luận. Nhưng Tống Nho giải thích “hiền hiền dị sắc,” vì học tập, mà có thể vất bỏ cả vợ hoặc chồng của mình, điều này thật không thông. Từ “sắc” này, rất đơn giản, chính là sắc thái, thái độ. “Hiền hiền dị sắc” ý nghĩa là: chúng ta gặp một người, học vấn cao, tu dưỡng tốt, năng lực cao, đích xác là rất tài giỏi, gặp được người như vậy sẽ ‘túc nhiên khởi kính’ – sinh ra lòng kính phục (iii),  thái độ cũng tự nhiên theo đó mà chuyển. Điều này là rất rõ ràng, rất thông thường, là tâm lý phổ thông của con người, bất kể là một người có xấu đến mức nào, gặp một người tốt, cũng không tự giác mà đối với người tốt này tương đối hòa thiện hơn, điều này là thường tình của con người.

“Sự phụ mẫu năng kiệt kì lực” là nói về đạo hiếu. Câu này có một vấn đề, Tử hạ tại sao nói đến “kiệt kì lực”? Trọng điểm là ở chữ “kiệt” này.  Xưa ai nói đến hiếu thuận với cha mẹ, đều là “không hiếu không được.” Kỳ thực đạo hiếu cũng cần ‘lượng lực nhi vi’- lượng sức mà làm (iv), hiếu cần “tận kì lực,” nhưng không cần quá phận. Một hai năm trước, có một thanh niên trời sinh có tấm lòng hiếu thảo (không phải là do giáo dục mà nên). Vì hiếu với cha mẹ, mà đi ăn cắp vặt, phạm pháp, đối với người làm việc hiếu theo kiểu này, trên phương diện tâm lý đạo đức, chúng ta cảm thấy người này không có tội, do anh ta vì hiếu thuận, vì chữa bệnh cho cha mẹ nên mới đi trộm tiền, phạm pháp, điều này có thể lượng thứ được. Nhưng nhìn từ phương diện tu dưỡng học vấn, phê bình đối với anh ta sẽ là “người này chưa nhận được giáo dưỡng tốt [giáo dục nuôi dưỡng].” Từ phương diện đạo lý, người thanh niên này có lòng tốt, nhưng lòng tốt cần được vun trồng chăm sóc bằng học vấn tri thức, khiến cho anh ta biết cần “tận kì lực” chứ không phải là làm ra các việc quá phận. Người xưa có câu đối tổng kết rằng:

Bách thiện hiếu vi tiên, nguyên tâm bất nguyên tích, nguyên tích bần gia vô hiếu tử.

Vạn ác dâm vi thủ, luận tích bất luận tâm, luận tâm thế thượng thiểu hoàn nhân (v).

(Trong trăm việc thiện, việc hiếu đứng đầu, hiếu bắt nguồn từ tâm chứ không phải từ tích [sự vật, sự việc, tích trong dấu tích, vết tích, sự tích], nếu bắt nguồn từ tích thì nhà nghèo không có ai là có hiếu. Trong vạn việc xấu, việc dâm đứng đầu, để đánh giá dựa vào tích chứ không dựa vào tâm, vì nếu tính theo tâm thì thế gian quá thiếu người hoàn mĩ/người không có khuyết điểm).

“Nguyên tâm bất nguyên tích” của câu trên chính là xem lòng anh ta có hiếu hay là không có hiếu. Ví dụ một người rất nghèo, muốn mua 1 lọ sữa bột cho cha mẹ ăn, nhưng lại không có tiền, không mua được, do vậy trong lòng anh ta rất thống khổ, chỉ hy vọng dần dần tích cóp đủ tiền để mua. Chỉ cần có tấm lòng này, chỉ cần phần tình cảm này của anh ta là chân thực, chúng ta không thể nói là anh ta bất hiếu. “Nguyên tích bần gia vô hiếu tử,” nếu nhất định cần phải có biểu hiện trên thực tế, thì nhà nghèo chẳng có nổi người có hiếu. Đạo lý này vô cùng rõ ràng minh bạch, chúng ta dùng đạo lý này để giải thích, chính là nói rõ “sự phụ mẫu năng tận kì lực” có nghĩa là tận hết tâm lực của mình để làm được chính là hiếu.

“Sự quân năng trí kì thân”, chữ “quân” đã trở thành điểm để đả đảo Khổng gia, và thâm chí là cớ để một số người vu cáo khinh thường coi rẻ Khổng tử, phỉ báng văn hóa Trung Quốc. Họ cho rằng đây là tư tưởng chuyên chế, là đề cao đế vương, đề cao giáo điều cổ lỗ của chế độ độc tài. Sự thực không phải là như vậy, chúng ta trước hết cần hiểu chữ “quân” trong văn hóa Trung Quốc có ý nghĩa là gì. Từ khía cạnh tượng hình của văn tự [chữ viết], người xưa viết chữ “quân” -君, ở phía trên là chữ “doãn”- “尹”, chữ này thời cổ viết là “丮” Trong tay cầm một cây quải trượng [gậy chống],  ở dưới là một chữ khẩu, đại diện cho một người, người này tuổi tác cao, học vấn đạo đức rất cao, cầm cây quải trượng, cũng ngang với chỉ một cây huy trượng [gậy chỉ huy], do vậy người cầm cây gậy chống, hay gậy chỉ huy, đều là “quân”-  君. Về sau mới dần biến thành từ chuyên dụng cho hoàng đế, kỳ thực “quân” trong văn hóa Trung Quốc cũng không phải là từ chuyên dụng cho hoàng đế, ví dụ trong quá khứ chúng ta viết thư cho người ngang hàng, không tiện gọi anh ta là ‘tiên sinh,’ cũng không tiện gọi anh ta là ‘lão đệ,’ cho đến một người thầy giáo viết cho học sinh, người thầy giáo này khiêm tốn một chút liền gọi học sinh “某某君” – “mỗ mỗ quân” […] Người Nhật Bản học văn hóa Trung Quốc của chúng ta, viết thư thông thường đều dùng quân là từ xưng hô tôn trọng.

Câu “sự quân năng trí kì lực” này, ý nghĩa là: bất luận là bạn bè hay đồng nghiệp, anh ta với ta có giao tình tốt, anh ta hiểu ta, nhận biết về ta, cho rằng chỉ có ta có thể giúp đỡ anh ta, còn ta đã đáp ứng giúp đỡ, thì anh ta chính là quân, còn ta đã tự đáp ứng giúp đỡ anh ta làm một việc, nếu cần bỏ ra nhiều công sức thì cũng nhất định phải tận tâm, đáp ứng rồi thì lời nói phải có tín. “Năng trí kì lực,” kiệt tận năng lực của tâm, của thân mình […]. Còn không thì lúc đầu đừng có nhận lời, một khi đã nhận lời rồi, nói đến đạo lý làm người, thì cần phải có tín. Còn đạo lý của việc thay người khác làm việc thì là trung, cũng là tận hết sức lực của mình. Không nên ngoài mặt thì bằng lòng giúp đỡ, khi làm bộ hạ [người thuộc cấp, người dưới quyền] thì tỏ ra dáng vẻ cung kính, sau lưng lại không đồng ý, ngược lại còn làm lộn xộn, gây rối, phá hoại, hoặc là rút lui không làm. Đây chính là làm người chưa đạt được “thần đạo,” nói một cách đơn giản thì chính là không thành khẩn [chân thành].

Do đó “hiền hiền dị sắc, sự phụ mẫu năng kiệt kì lực, sự quân năng trí kì thân” có nghĩa là gặp được người tốt nên có lòng và thái độ kính phục, ở nhà nên kiệt tâm tận lực yêu gia đình, yêu cha mẹ, ra xã hội làm việc, đối với người khác, đối với đất nước, bỏ đi tư tâm, cái gọi là phụng thân vì nước. Còn có “dữ bằng hữu giao ngôn nhi hữu tín,” câu này phải nhắc đi nhắc lại, trên phương diện cảm tình, mỗi người đều tự cho mình là đối với bạn bè làm được “ngôn nhi hữu tín.” Theo ta tự nhận thấy, mặc dù rất muốn làm được đến cùng, trên thực tế vô cùng khó. Có lúc có việc đã đáp ứng với bạn rồi nhưng làm không được, trong lòng vô cùng buồn bực, vì yêu cầu đạo đức của bản thân, muốn tìm hết mọi cách để làm, do đó chú tâm nghiên cứu thấy, câu “dữ bằng hữu giao ngôn nhi hữu tín” này, thực tại rất không dễ dàng. Do đó Tử Hạ nói, nếu có thể làm được như vậy, “tuy viết vị học, ngô tất vị chi học hĩ.” Bất kể người này chưa đọc qua một chương sách nào, ta nhất định nói rằng người này thật là có học vấn, điều này giải thích “học nhi thời tập chi”  không phải là nhất định chỉ đọc sách một cách cứng nhắc, không phải vậy sao? Do đó, chúng ta không nên theo giải thích từng chỗ một của Tống Nho, đọc liên kết cả một thiên, tự sẽ thấy rõ ràng.

(i) 形而下- “Hình nhi hạ” và 形而上 – “hình nhi thượng”  là hai phạm trù quan trọng của triết học Trung Quốc cổ đại. Triết học Nho gia dùng “hình nhi hạ” để chỉ những thứ hữu hình, đã thành hình, còn “hình nhi thượng” để chỉ những thứ vô hình, hoặc chưa thành hình. Trong Chu Dịch – Hệ từ thượng viết: “形而上者谓之道,形而下者谓之器” – hình nhi thượng giả vị chi đạo, hình nhi hạ giả vị chi khí, cho rằng phép tắc là vô hình, gọi là hình nhi thượng; vật dụng khí cụ là thứ hữu hình, gọi là hình nhi hạ.

(ii) 先天 – “tiên thiên”: từ lúc sinh ra đã có, đã tồn tại, hay còn gọi là thiên tính. 后天 – “hậu thiên”: ngược lại với tiên thiên, sau khi sinh ra mới có được, đạt được. Tiếng Anh gọi là nature versus nurture.

(iii) Túc nhiên khởi kính – 肃然起敬 – sù rán qǐ jìng (túc nhiên: dáng vẻ cung kính; khởi kính: sinh ra lòng kính phục. Dùng để hình dung việc sinh ra lòng kính phục, thái độ kính phục. Tiếng Anh là feel deep respect for).

(iv) Lượng lực nhi vi – 量力而为 – liàng lì ér wéi (lượng sức mà làm, lượng được sức của bản thân rồi làm theo năng lực của bản thân, làm theo năng lực (hưởng theo nhu cầu :-P)).

(v) Bách thiện hiếu vi tiên, nguyên tâm bất nguyên tích, nguyên tích bần gia vô hiếu tử. Vạn ác dâm vi thủ, luận tích bất luận tâm, luận tâm thế thượng thiểu hoàn nhân- 百善孝为先,原心不原迹,原迹贫家无孝子。万恶淫为首,论迹不论心,论心世上少完人。

Si

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.6

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.6

1.6. 子曰:“弟子入则孝,出则弟,谨而信,泛爱众,而亲仁,行有余力,则以学文。”

Zǐ yuē :“dì zǐ ,rù zé xiào ,chū zé tì ,jǐn ér xìn ,fàn ài zhòng ,ér qīn rén , xíng yǒu yú lì ,zé yǐ xué wén 。”

Tử viết: Đệ tử (1) nhập (2) tắc hiếu, xuất (2) tắc đễ, cẩn (3) nhi tín, phiếm ái chúng, nhi thân nhân (4), hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn.

[Dịch câu – Dương Bá Tuấn]
Khổng tử nói:những người hậu bối trẻ tuổi, ở trước mặt cha mẹ, thì hiếu thuận cha mẹ; ra khỏi nhà mình, cần kính trọng yêu quý bậc huynh trưởng, ít lời ít tiếng, khi nói cần thành thực đáng tin, cần yêu tất cả mọi người, thân cận những người có nhân đức. Sau khi tự mình thực hành(i) những điều này, nếu vẫn còn dư lực, thì học tập văn hiến tri thức.

(i) cung hành thực tiễn -躬行实践 – gōng xíng shí jiàn: tự mình thực hành hoặc thể nghiệm, xuất xứ từ thời Nguyên.

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 弟子- dì zǐ – đệ tử: thường có hai loại ý nghĩa: một là chỉ người tuổi tương đối nhỏ, hai là chỉ học sinh. Ở đây là dùng theo ý nghĩa thứ nhất.
  2. 入- rù, nhập; 出 – chū – xuất: ‘Lễ ký. Nội tắc’ viết: 由命士以上,父子皆异宫 – do mệnh sĩ dĩ thượng, phụ tử giai dị cung: noi theo cấp sĩ trở lên, cha con đều ở nhà/phòng khác nhau. Vì vậy biết “đệ tử” ở đây là chỉ những người “mệnh sĩ” (cấp bậc sĩ) trở lên. “Nhập” là “nhập phụ cung” (vào nhà của cha), “xuất” là “xuất tử cung” (ra khỏi nhà của con). (Đẳng cấp cổ đại: thiên tử, chư hầu, đại phu, sĩ và thứ dân. Sĩ trở lên là cấp bậc được thụ phong. Ngày xưa nhà nào cũng gọi là cung, từ thời Tần, Hán trở đi chỉ nhà của vua ở mới gọi là cung. YL).
  3. 谨 – jǐn – cẩn: quả ngôn (nói ít) gọi là cẩn.
  4. 仁 – rén – nhân: chỉ “người nhân”, người có nhân đức.

 [Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Cổ đại gọi học sinh là “đệ tử,” thầy giáo thời cổ đại đối với học sinh, xem như con em của mình. Quan hệ thầy giáo – học sinh như quan hệ cha con, có tình trạng là “一日从师,终身若父” – nhất nhật tòng sư, chung thân nhược phụ – một ngày theo thầy, cả đời coi như cha, mà thầy giáo đối với học sinh, cũng gánh trách nhiệm cả đời […].

Khổng tử nói một người học sinh “nhập tắc hiếu,” ở trong nhà phải là một người con có hiếu (như thế nào gọi là hiếu, rất nhiều phần tiếp theo sẽ giảng về hiếu đạo, ở đây tạm không bàn luận). “Xuất tắc đễ,” ra khỏi nhà, không ở cùng với anh em, thì đễ như thế nào? Chính là ở bên ngoài, đối với bạn bè, với xã hội, với mọi người nói chung đều phải thân ái, mở rộng ra là yêu nước, yêu thiên hạ, đều là ý nghĩa của chữ “đễ” này.

“Cẩn nhi tín,” làm người vô cùng cẩn thận, nhưng khi nói đến chữ “cẩn” cần chú ý, không nên biến thành nhỏ nhen. Cẩn thận và cố chấp câu nệ là hai việc khác nhau, có một số người vô cùng câu nệ, đến quá mức thì thành nhỏ nhen. Trong lịch sử có một tấm gương về cẩn thận, chính là một nhân vật được chúng ta vô cùng sùng bái là Gia Cát Lượng. Mới có câu là “Gia cát nhất sinh duy cẩn thận, Lã Đoan đại sự bất hồ đồ” – Gia Cát cả một đời luôn cẩn thận, Lã Đoan làm việc đại sự không hồ đồ (i). Đây là một câu đối nổi tiếng, cũng là một cách ngôn rất hay (ii). Lã Đoan là một tể tưởng nổi tiếng thời Tống, nhìn vào thì tưởng ông ta ngu đần, nhưng kỳ thực ông ta không hề ngu, mà đây là tu dưỡng của ông ta, khi phải xử lý đại sự, khi gặp chỗ then chốt trọng yếu, ông ta tuyệt đối không cẩu thả tùy tiện. Còn Gia Cát Lượng cả một đời làm việc đều ở một chữ cẩn thận, nếu cần tìm một tấm gương cẩn thận tốt nhất, chúng ta có thể nghiên cứu về Gia Cát Lượng, ở đây sẽ không nêu rõ.

Tóm lại, cái gọi là cẩn thận không thể biến thành nhỏ nhen, điểm này khi tu dưỡng cần chú ý, còn một người có thể cẩn thận xử thế mà giữ được tín, tức là giữa người với người, giữa người với xã hội, đều phải nói mà giữ được lời. Đồng thời cần phải “phiếm ái chúng,” có tấm lòng vĩ đại, có thể yêu mọi người […]. Về lý thuyết thì rất dễ, nhưng yêu tất cả mọi người, đó là tổng hợp của “quân đạo” và “sư đạo,” yêu người thiên hạ như yêu chính bản thân mình, lý thuyết dễ, nhưng tu dưỡng đạt đến trình độ này rất khó. Khổng tử nói, giả sử một người làm được việc này, “nhi thân nhân,” thân cận làm bạn với người có học vấn đạo đức, “hành hữu dư lực tắc dĩ học văn,” còn thừa tinh lực thì “học văn,” tức là thích làm văn học, khoa học, nghệ thuật hay lĩnh vực nào đi nữa đều có thể, đó là chí hướng, là sở thích của từng người, có thể lượng sức mình mà làm, ai cũng có thể tự do chọn.

(i) Lã Đoan, hay Lữ Đoan

(ii) Cách ngôn: câu nói ngắn gọn, có thể dùng làm phép tắc noi theo, châm ngôn.

[Nhận xét của YL]

Tiên học lễ, hậu học văn là ở đây?

Ta hiểu phần đầu của câu này như sau: ở nhà cần hiếu thuận với bố mẹ, ra đường cần lấy sự chân thành đáng tin cậy mà đối đãi người khác, lời nói phải thận trọng, không trí trá, nói ít, không cần nhiều lời nhưng lời nói việc làm đi đôi với nhau, nói được làm được, yêu thương tất cả mọi người nhưng nên tìm người nhân đức mà thân cận.

Phần bình luận của Nam Hoài Cẩn ta không dịch hết, bỏ mấy mấy cái ví dụ, với một phần tổng kết là có 3 loại đạo: quân đạo, thần đạo, và sư đạo. Nhưng có thể thấy, “nhập tắc hiếu” của Nam Hoài Cẩn, là hiếu với cả cha mẹ và thầy giáo, còn “xuất tắc đễ,”là đối với bạn bè, với xã hội, không phải như Dương Bá Tuấn, đối với cha mẹ là hiếu, đối với thầy giáo là đễ.

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: