Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.7

* Một chương có nhiều kiến giải khác nhau, dài khủng khiếp, lại còn có thêm mấy thuật ngữ triết học cổ, nhớ đọc kỹ, đọc kỹ, và enjoy!!! 😛

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.7

子夏曰:“贤贤易色;事父母,能竭其力;事君,能致其身;与朋友交,言而有信。虽曰未学,吾必谓之学矣。”

Zǐ xià yuē :“xián xián yì sè ;shì fù mǔ ,néng jié qí lì ;shì jūn ,néng zhì qí shēn ;yǔ péng yǒu jiāo ,yán ér yǒu xìn 。suī yuē wèi xué ,wú bì wèi zhī xué yǐ 。” 

Tử hạ (1) viết“hiền hiền (2) dị (3) sắcsự phụ mẫunăng kiệt kì lựcsự quânnăng trí kì thân (4)dữ bằng hữu giaongôn nhi hữu tínTuy viết vị họcngô tất vị chi học hĩ

(1) Tử Hạ: tức Bốc Thương, học sinh của Khổng tử, kém Khổng tử 44 tuổi. Sau khi Khổng tử mất, Tử hạ ở nước Ngụy tuyên truyền chủ trương tư tưởng của Khổng tử.

(2) 贤贤 – xián xián – hiền hiền: chữ hiền đầu tiên là động từ, có nghĩa là tôn trọng. Hiền hiền là tôn trọng người hiền.

(3) 易 – yì – dị: có hai cách giải thích. Một là có nghĩa cải biến, câu này sẽ là tôn trọng người hiền mà (tự) cải biến lòng háo sắc; Hai mang nghĩa khinh thị, xem nhẹ, câu này sẽ là xem trọng hiền đức mà xem nhẹ nữ sắc.

(4) 致其身 – trí kì thân: trí có ý là “hiến nạp” (cống hiến, cống nạp), “tận lực”. Ở đây là nói đem sinh mệnh cống hiến cho quân chủ.

[Giải nghĩa câu]

Tử Hạ nói: một người có thể đạt đến mức xem trọng hiền đức mà không xem trọng nữ sắc; khi phục dịch cha mẹ, có thể kiệt tận toàn lực; khi phục vụ quân chủ, có thể cống hiến cả sinh mệnh của mình;  khi giao du với bạn bè, nói lời thành thực, nghiêm thủ đức tín. Loại người như thế này, bất kể có nói là bản thân mình chưa từng học hành, ta cũng nhất định nói là anh ta đã học rồi.

[Phân tích bình luận – Chưa rõ là ai]

Chương trước có câu “hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn.” Những gì Tử Hạ nói trong chương này trên thực tế là phát triển ý của chương trước. Tử Hạ cho rằng, một người dù có học vấn hay không, học vấn ít hay nhiều, chủ yếu không phải nhìn ở văn hóa tri thức, mà cần nhìn xem anh ta có khả năng thực hành “hiếu,” “trung,” “tín” các loại đạo đức luân lý truyền thống hay không. Chỉ cần làm được phần sau, thì kể cả anh ta nói anh ta chưa từng học qua, anh ta cũng đã là người có tu dưỡng đạo đức rồi. Do đó, đem chương này với chương trước kết hợp lai phân tích, càng thấy rõ giáo dục của Khổng tử có đặc điểm cơ bản là xem trọng đức hành.

[Luận ngữ tân giải của Tiền Mưu] (viết trước sách của Dương Bá Tuấn)

Hiền hiền dị sắc, có thể chỉ quan hệ phu thê, nói người làm chồng có thể tôn trọng hiền đức hơn là nhan sắc diện mạo của người vợ. 4 câu đầu là lần lượt nói về quan hệ phu thê, phụ tử, quân thần, và bằng hữu.

Chương trước Khổng tử nói học, trước hết phải có đức hành, sau mới học văn (hóa), các nhà biên tập Luận ngữ xưa đặt tiếp theo là chương này của Tử Hạ. Có thể nói ngữ khí của chương này trầm trọng quá mức, đến gần như là phế luôn cả việc học hành. Do đó việc luận học của Khổng môn, vốn chỉ cho rằng cần coi trọng việc đạt được đức hạnh, người đời sau lại phân đức hạnh với học tập làm hai, mà làm mất đi ý nghĩa của hai chương này vậy.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Mấy câu này, là tiếp theo câu trước, chứng minh mục đích của học tập, không phải là văn học, tri thức, mà là làm người biết xử thế. Tử Hạ nhỏ hơn Khổng tử 44 tuổi […]. Sau khi Khổng tử mất, tại giai đoạn đầu của thời kỳ Chiến Quốc, Tử Hạ dạy học ở Hà Tây.  Các học giả có ảnh hưởng lớn tại thời kỳ Chiến Quốc, đều chịu nhiều ảnh hưởng của Tử Hạ. Do đó chúng ta cần chú ý đến điều này. Lãnh đạo lịch sử, lãnh đạo quốc gia xã hội, tới cùng đều là học vấn tư tưởng.

[…] Chúng ta xem nguyên văn “hiền hiền dị sắc,” hai chữ hiền, chữ đầu tiên là động từ, bởi vì văn tự Trung Quốc có lúc là mượn một chữ mà dùng với nghĩa khác. Chữ hiền thứ hai là danh từ, chỉ người hiền, tức là người có tu dưỡng, có học vấn tốt. “Dị sắc,” người xưa như các Nho gia thời Tống (Tống Nho), giải thích như thế nào? Họ đem “sắc” giải thích thành “nữ sắc,” “nữ nhân,” “nam nữ chi sắc.” (Khổng tử bị người ta đả đảo, chính là bị oan thế này). “hiền hiền dị sắc” là khi gặp được người hiền – người có đạo đức học vấn, lập tức phải học tập người đó. “Dị sắc,” đến nữ sắc cũng không cần, vợ cũng không cần, trong tình yêu, bạn gái cũng quăng sang một bên. Nếu như là nữ, đến bạn trai cũng không cần. Nếu thật như cách giải thích của Tống Nho, ta cho rằng Khổng phu tử không phải là thánh nhân vậy. Bởi vì thánh nhân, sẽ không đi trái ngược lại nhân tình. Khổng tử trong “Lễ ký” nói “饮食男女,人之大欲存焉” – ẩm thực nam nữ, nhân chi đại dục tồn yên – ăn uống, tình ái nam nữ, là bản tính và mong cầu lớn của con người. Đích xác cách nhìn của  Khổng tử đối với nhân sinh- là hình nhi hạ, chứ không nói đến hình nhi thượng (i). Đã là đời sống con người, không thể thoát khỏi hai việc lớn: ẩm thực, nam nữ. Một việc là vấn đề ‘tính’ (bản tính, bản chất, bản năng tự nhiên của con người), một việc là vấn đề sinh sống, sinh hoạt. Cái gọi là ẩm thực, bằng với vấn đề dân sinh. Nam nữ thuộc về vấn đề khang lạc [yên vui]. Nhân sinh không thể tách rời hai việc này. Có lúc xem sách vở liên quan đến văn hóa Trung Quốc, nói “食色性也” – thực sắc tính dã (thực và sắc là hai bản tính của con người) là do Khổng tử nói. Sai, câu này không phải là Khổng tử nói, mà là do Cáo tử, cùng thời với Mạnh tử, nói. Về sau dẫn chứng hay sử dụng sách vở, không nên trước sai sau cũng sai, đã sai lại tiếp tục sai.

Vấn đề tính này, đến cuối cùng là tính tiên thiên hay hậu thiên (ii)? Về sau hãy thảo luận. Nhưng Tống Nho giải thích “hiền hiền dị sắc,” vì học tập, mà có thể vất bỏ cả vợ hoặc chồng của mình, điều này thật không thông. Từ “sắc” này, rất đơn giản, chính là sắc thái, thái độ. “Hiền hiền dị sắc” ý nghĩa là: chúng ta gặp một người, học vấn cao, tu dưỡng tốt, năng lực cao, đích xác là rất tài giỏi, gặp được người như vậy sẽ ‘túc nhiên khởi kính’ – sinh ra lòng kính phục (iii),  thái độ cũng tự nhiên theo đó mà chuyển. Điều này là rất rõ ràng, rất thông thường, là tâm lý phổ thông của con người, bất kể là một người có xấu đến mức nào, gặp một người tốt, cũng không tự giác mà đối với người tốt này tương đối hòa thiện hơn, điều này là thường tình của con người.

“Sự phụ mẫu năng kiệt kì lực” là nói về đạo hiếu. Câu này có một vấn đề, Tử hạ tại sao nói đến “kiệt kì lực”? Trọng điểm là ở chữ “kiệt” này.  Xưa ai nói đến hiếu thuận với cha mẹ, đều là “không hiếu không được.” Kỳ thực đạo hiếu cũng cần ‘lượng lực nhi vi’- lượng sức mà làm (iv), hiếu cần “tận kì lực,” nhưng không cần quá phận. Một hai năm trước, có một thanh niên trời sinh có tấm lòng hiếu thảo (không phải là do giáo dục mà nên). Vì hiếu với cha mẹ, mà đi ăn cắp vặt, phạm pháp, đối với người làm việc hiếu theo kiểu này, trên phương diện tâm lý đạo đức, chúng ta cảm thấy người này không có tội, do anh ta vì hiếu thuận, vì chữa bệnh cho cha mẹ nên mới đi trộm tiền, phạm pháp, điều này có thể lượng thứ được. Nhưng nhìn từ phương diện tu dưỡng học vấn, phê bình đối với anh ta sẽ là “người này chưa nhận được giáo dưỡng tốt [giáo dục nuôi dưỡng].” Từ phương diện đạo lý, người thanh niên này có lòng tốt, nhưng lòng tốt cần được vun trồng chăm sóc bằng học vấn tri thức, khiến cho anh ta biết cần “tận kì lực” chứ không phải là làm ra các việc quá phận. Người xưa có câu đối tổng kết rằng:

Bách thiện hiếu vi tiên, nguyên tâm bất nguyên tích, nguyên tích bần gia vô hiếu tử.

Vạn ác dâm vi thủ, luận tích bất luận tâm, luận tâm thế thượng thiểu hoàn nhân (v).

(Trong trăm việc thiện, việc hiếu đứng đầu, hiếu bắt nguồn từ tâm chứ không phải từ tích [sự vật, sự việc, tích trong dấu tích, vết tích, sự tích], nếu bắt nguồn từ tích thì nhà nghèo không có ai là có hiếu. Trong vạn việc xấu, việc dâm đứng đầu, để đánh giá dựa vào tích chứ không dựa vào tâm, vì nếu tính theo tâm thì thế gian quá thiếu người hoàn mĩ/người không có khuyết điểm).

“Nguyên tâm bất nguyên tích” của câu trên chính là xem lòng anh ta có hiếu hay là không có hiếu. Ví dụ một người rất nghèo, muốn mua 1 lọ sữa bột cho cha mẹ ăn, nhưng lại không có tiền, không mua được, do vậy trong lòng anh ta rất thống khổ, chỉ hy vọng dần dần tích cóp đủ tiền để mua. Chỉ cần có tấm lòng này, chỉ cần phần tình cảm này của anh ta là chân thực, chúng ta không thể nói là anh ta bất hiếu. “Nguyên tích bần gia vô hiếu tử,” nếu nhất định cần phải có biểu hiện trên thực tế, thì nhà nghèo chẳng có nổi người có hiếu. Đạo lý này vô cùng rõ ràng minh bạch, chúng ta dùng đạo lý này để giải thích, chính là nói rõ “sự phụ mẫu năng tận kì lực” có nghĩa là tận hết tâm lực của mình để làm được chính là hiếu.

“Sự quân năng trí kì thân”, chữ “quân” đã trở thành điểm để đả đảo Khổng gia, và thâm chí là cớ để một số người vu cáo khinh thường coi rẻ Khổng tử, phỉ báng văn hóa Trung Quốc. Họ cho rằng đây là tư tưởng chuyên chế, là đề cao đế vương, đề cao giáo điều cổ lỗ của chế độ độc tài. Sự thực không phải là như vậy, chúng ta trước hết cần hiểu chữ “quân” trong văn hóa Trung Quốc có ý nghĩa là gì. Từ khía cạnh tượng hình của văn tự [chữ viết], người xưa viết chữ “quân” -君, ở phía trên là chữ “doãn”- “尹”, chữ này thời cổ viết là “丮” Trong tay cầm một cây quải trượng [gậy chống],  ở dưới là một chữ khẩu, đại diện cho một người, người này tuổi tác cao, học vấn đạo đức rất cao, cầm cây quải trượng, cũng ngang với chỉ một cây huy trượng [gậy chỉ huy], do vậy người cầm cây gậy chống, hay gậy chỉ huy, đều là “quân”-  君. Về sau mới dần biến thành từ chuyên dụng cho hoàng đế, kỳ thực “quân” trong văn hóa Trung Quốc cũng không phải là từ chuyên dụng cho hoàng đế, ví dụ trong quá khứ chúng ta viết thư cho người ngang hàng, không tiện gọi anh ta là ‘tiên sinh,’ cũng không tiện gọi anh ta là ‘lão đệ,’ cho đến một người thầy giáo viết cho học sinh, người thầy giáo này khiêm tốn một chút liền gọi học sinh “某某君” – “mỗ mỗ quân” […] Người Nhật Bản học văn hóa Trung Quốc của chúng ta, viết thư thông thường đều dùng quân là từ xưng hô tôn trọng.

Câu “sự quân năng trí kì lực” này, ý nghĩa là: bất luận là bạn bè hay đồng nghiệp, anh ta với ta có giao tình tốt, anh ta hiểu ta, nhận biết về ta, cho rằng chỉ có ta có thể giúp đỡ anh ta, còn ta đã đáp ứng giúp đỡ, thì anh ta chính là quân, còn ta đã tự đáp ứng giúp đỡ anh ta làm một việc, nếu cần bỏ ra nhiều công sức thì cũng nhất định phải tận tâm, đáp ứng rồi thì lời nói phải có tín. “Năng trí kì lực,” kiệt tận năng lực của tâm, của thân mình […]. Còn không thì lúc đầu đừng có nhận lời, một khi đã nhận lời rồi, nói đến đạo lý làm người, thì cần phải có tín. Còn đạo lý của việc thay người khác làm việc thì là trung, cũng là tận hết sức lực của mình. Không nên ngoài mặt thì bằng lòng giúp đỡ, khi làm bộ hạ [người thuộc cấp, người dưới quyền] thì tỏ ra dáng vẻ cung kính, sau lưng lại không đồng ý, ngược lại còn làm lộn xộn, gây rối, phá hoại, hoặc là rút lui không làm. Đây chính là làm người chưa đạt được “thần đạo,” nói một cách đơn giản thì chính là không thành khẩn [chân thành].

Do đó “hiền hiền dị sắc, sự phụ mẫu năng kiệt kì lực, sự quân năng trí kì thân” có nghĩa là gặp được người tốt nên có lòng và thái độ kính phục, ở nhà nên kiệt tâm tận lực yêu gia đình, yêu cha mẹ, ra xã hội làm việc, đối với người khác, đối với đất nước, bỏ đi tư tâm, cái gọi là phụng thân vì nước. Còn có “dữ bằng hữu giao ngôn nhi hữu tín,” câu này phải nhắc đi nhắc lại, trên phương diện cảm tình, mỗi người đều tự cho mình là đối với bạn bè làm được “ngôn nhi hữu tín.” Theo ta tự nhận thấy, mặc dù rất muốn làm được đến cùng, trên thực tế vô cùng khó. Có lúc có việc đã đáp ứng với bạn rồi nhưng làm không được, trong lòng vô cùng buồn bực, vì yêu cầu đạo đức của bản thân, muốn tìm hết mọi cách để làm, do đó chú tâm nghiên cứu thấy, câu “dữ bằng hữu giao ngôn nhi hữu tín” này, thực tại rất không dễ dàng. Do đó Tử Hạ nói, nếu có thể làm được như vậy, “tuy viết vị học, ngô tất vị chi học hĩ.” Bất kể người này chưa đọc qua một chương sách nào, ta nhất định nói rằng người này thật là có học vấn, điều này giải thích “học nhi thời tập chi”  không phải là nhất định chỉ đọc sách một cách cứng nhắc, không phải vậy sao? Do đó, chúng ta không nên theo giải thích từng chỗ một của Tống Nho, đọc liên kết cả một thiên, tự sẽ thấy rõ ràng.

(i) 形而下- “Hình nhi hạ” và 形而上 – “hình nhi thượng”  là hai phạm trù quan trọng của triết học Trung Quốc cổ đại. Triết học Nho gia dùng “hình nhi hạ” để chỉ những thứ hữu hình, đã thành hình, còn “hình nhi thượng” để chỉ những thứ vô hình, hoặc chưa thành hình. Trong Chu Dịch – Hệ từ thượng viết: “形而上者谓之道,形而下者谓之器” – hình nhi thượng giả vị chi đạo, hình nhi hạ giả vị chi khí, cho rằng phép tắc là vô hình, gọi là hình nhi thượng; vật dụng khí cụ là thứ hữu hình, gọi là hình nhi hạ.

(ii) 先天 – “tiên thiên”: từ lúc sinh ra đã có, đã tồn tại, hay còn gọi là thiên tính. 后天 – “hậu thiên”: ngược lại với tiên thiên, sau khi sinh ra mới có được, đạt được. Tiếng Anh gọi là nature versus nurture.

(iii) Túc nhiên khởi kính – 肃然起敬 – sù rán qǐ jìng (túc nhiên: dáng vẻ cung kính; khởi kính: sinh ra lòng kính phục. Dùng để hình dung việc sinh ra lòng kính phục, thái độ kính phục. Tiếng Anh là feel deep respect for).

(iv) Lượng lực nhi vi – 量力而为 – liàng lì ér wéi (lượng sức mà làm, lượng được sức của bản thân rồi làm theo năng lực của bản thân, làm theo năng lực (hưởng theo nhu cầu :-P)).

(v) Bách thiện hiếu vi tiên, nguyên tâm bất nguyên tích, nguyên tích bần gia vô hiếu tử. Vạn ác dâm vi thủ, luận tích bất luận tâm, luận tâm thế thượng thiểu hoàn nhân- 百善孝为先,原心不原迹,原迹贫家无孝子。万恶淫为首,论迹不论心,论心世上少完人。

Si

Advertisements

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.5

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.5

1.5. 子曰:“道千乘之国,敬事而信,节用而爱人,使民以时。”

Zǐ yuē :“dào qiān shèng zhī guó ,jìng shì ér xìn ,jié yòng ér ài rén ,shǐ mín yǐ shí 。”

Tử viết: Đạo (1) thiên thặng chi quốc (2), kính sự (3) nhi tín, tiết dụng nhi ái nhân (4), sử dân dĩ thời (5).

(1) 道- dào – đạo: có sách viết là “导” (hán việt cũng là đạo, trong chỉ đạo lãnh đạo), dùng làm động từ. Ý nghĩa ở đây là trị lý, quản trị, cai trị quản lý.

(2) 千乘之国 – thiên thặng chi quốc: thặng có nghĩa là cỗ xe. Ở đây chỉ đơn vị cơ sở/nhỏ nhất của quân đội thời cổ đại. Mỗi thặng bao gồm một cỗ binh xa có 4 ngựa kéo, trên xe có 3 giáp sĩ (binh sĩ mặc áo giáp), dưới xe bộ tốt 72 người, hậu cần 25 người, tổng cộng là 100 người. Thiên thặng chi quốc, chỉ quốc gia có 1000 cỗ chiến xa, tức là một quốc gia chư hầu.Tại thời Xuân Thu, chiến tranh liên miên, do đó sự mạnh yếu của quốc gia đều dùng số lượng xe để tính. Ở thời của Khổng tử, nước có nghìn cỗ xe không phải là nước lớn (Sách Luận ngữ Tân giải của Tiền Mục lại cho rằng, quốc gia mà có khả năng xuất binh 1000 xe, đã là nước lớn).

(3) 敬事- jìng shì- kính sự: từ “kính” đều dùng để biểu thị thái độ của một người, đặc biệt là đối với những sự việc do mình đảm nhiệm cần cẩn thận chuyên nhất.

(4) 爱人- ái nhân: thời cổ đại, “nhân” có nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Nghĩa rộng là chỉ nhân dân quần chúng nói chung. Nghĩa hẹp là chỉ những người từ bậc sĩ đại phu trở lên. Ở đây “nhân” được phân biệt với “dân” (ở phần tiếp theo), cho nên có thể thấy là được dùng theo nghĩa hẹp.

(5) 使民以时 – sử dân dĩ thời: thời chỉ nông thời – thời gian làm nông nghiệp. Thời cổ đại bách tính lấy nông nghiệp làm chủ, ở đây nói cần khiến bách tính theo thời vụ mà canh tác hoặc thu hoạch.

[Dịch nghĩa câu]

Tử viết: quản trị một quốc gia có một ngàn cỗ binh xa, cần nghiêm túc cẩn thận trong việc xử lý quốc gia đại sự, cũng như cần kính cẩn tuân thủ đức tín, thành thật không dối trá; tiết kiệm hạn chế chi tiêu cũng như thương yêu bảo hộ quan lại thần liêu (i), khiến bách tính không được để lỡ thời gian mùa màng.

(i) Thần liêu: thần trong quân thần, tức là bầy tôi, liêu trong quan liêu: quan lại.

[Bình luận phân tích – Chưa rõ là ai]

Những lời Khổng tử nói trong chương này, chủ yếu giành cho bậc chấp chính, liên quan đến nguyên tắc cơ bản của quản trị đất nước. Khổng tử giảng về ba phương diện, bao gồm yêu cầu người thống trị nghiêm túc xử lý các loại sự vụ của quốc gia, hết sức tuân thủ đức tín; hạn chế tiết kiệm chi tiêu, yêu thương bảo hộ bách quan; khiến bách tính chú ý không để lỡ thời gian mùa màng. Đây là điểm cơ bản của trị quốc an bang.

Khang Hữu Vi nói, học thuyết của Khổng tử là “ái nhân” (yêu [con] người), bao quát yêu tất cả mọi người. Nhưng “ái nhân” trong chương này không phải mang ý như vậy. Khổng tử nói “nhân” ở đây không phải là bách tính, mà là quan lại, là người có địa vị; còn “dân” mới là bách tính, là đối tượng để người trị quốc sai khiến. Có thể thấy, ái nhân- yêu người không phải yêu tất cả mọi người, mà chỉ là yêu những người nằm trong tập đoàn thống trị. Tư tưởng “tiết dụng nhi ái nhân, sử dân dĩ thời” là hợp lý, phản ảnh tư tưởng xã hội của Khổng tử. Tuy nhiên điều này với “ái nhân” hay gì nữa đều không can hệ lớn lắm. Nhìn từ một góc độ khác, Khổng tử ở đây là đưa ra kế sách cho người thống trị để trị lý quốc gia, thống trị bách tính.

Lỗ Tấn từng chỉ ra rằng: “Khổng phu tử từng vạch ra phương pháp trị quốc xuất sắc, nhưng đều là vì người trị dân, tức là vạch ra phương pháp cho người quyền thế, đối với bản thân dân chúng, thì một chút cũng không có.” Đây là đứng từ lập trường của nhân dân quần chúng nhìn phương lược trị quốc của Khổng tử. Do đó có tính sắc bén cao.

[Luận ngữ tân giải của Tiền Mục]

Ở chương này Khổng tử bàn luận chính trị, nói về tâm địa của bậc cai trị. Chuyên chú trong công việc, không kiêu ngạo, không trí trá, giữ đức tín. Không xa hoa, tiết kiệm tiêu dùng, có lòng yêu thương mọi người (i). Gặp việc phải sai sử dân (sai khiến sử dụng), cũng không được gây trở ngại đến sinh nghiệp của dân. Lời nói này tuy đơn giản, nhưng chính trị không nằm ngoài ‘đạo nhân,’ do chỉ có lòng nhân như vậy mới có thể ở vị trí trên người khác, lãnh đạo quần chúng. Đây là đạo lý, xưa nay không khác. Nếu như bỏ qua đạo lý này, mà chỉ chuyên tâm vào các phương pháp quyền thuật, tất không phải là đạo trị quốc.

(i) Có thể thấy là Tiền Mục hiểu “ái nhân” khác với Dương Bách Tuấn.

[Nhận xét của YL]

Thú thực ta kỳ vọng hơn ở phần phân tích nhận xét (của Dương Bá Tuấn). Ở đây tác giả chủ yếu bình luận từ lập trường giai cấp: thống trị >< bị trị, thống trị >< quần chúng nhân dân.

Nhưng ta muốn biết, Khổng tử có giảng trị một quốc gia nhỏ khác với trị một quốc gia lớn như thế nào không? Khác ở chỗ nào? Tại sao Vua phải thương yêu bảo hộ bách quan? Nội dung của thương yêu bảo hộ này bao gồm những gì? Và vai trò của nó trong mối quan hệ quân thần? Vân vân…. Giá có như thế, thì hay hơn.

……

[Nhận xét của AC] (yêu hòa bình nên là viết chữ màu xanh cho nó nổi nhé hí hí)

Chắc thời Khổng Tử chỉ có các quốc gia nhỏ, rời rạc, nên ông sẽ ko tưởng tượng dc cách quản trị một quốc gia lớn, kiểu như Trung Hoa của Tần, Hán… sau này?
Mà cũng có thể vì chỉ dùng để cai trị các quốc gia quy mô nhỏ nên các rao giảng của Khổng tử vẫn mang tính trừu tượng, chung chung, để lại “dư địa” (loophole) cho việc giải thích khác nhau trong các tình huống cụ thể (ví dụ nên ưu tiên điều nào, ý nào, cách hiểu nào… vì nhiều lời giảng của Khổng tử cũng hay bị đối lập nhau)
Đây là điểm khác với cách quản trị của Pháp gia hoặc với chế độ thượng tôn pháp luật của các nước phương Tây thời hiện đại – đưa ra hệ thống quy định, chế tài luật pháp càng rõ ràng rành mach, càng giảm mơ hồ càng tốt.

Theo logic thì để quản trị hệ thống lớn, dùng pháp trị có lẽ là hiệu quả hơn, tuy nhiên, why Hán Đường Tống Nguyên Minh (và Thanh?) đều dùng Nho giáo để trị quốc? Hoặc là Nho giáo đã kết hợp với Pháp gia (hay là luật pháp) như thế nào ở các triều đại này? Nho và Pháp tương quan lực lượng ntn? Nho là chủ trương, đường lối, là kim chỉ nam soi đường; còn Pháp là cụ thể hóa ở mức độ hành pháp???
Những câu hỏi này là khơi gợi ra, để bậc trí giá thâm nho YL từ từ tiếp tục đào sâu nghiên cứu 😀

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: