Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.13

1.13 有子曰:“信近于义,言可复也;恭近于礼,远耻辱也;因不失其亲,亦可宗也。”

Yǒu zǐ yuē :“xìn jìn yū yì ,yán kě fù yě 。Gōng jìn yū lǐ ,yuàn chǐ rǔ yě 。Yīn bù shī qí qīn ,yì kě zōng yě 。”

Hữu tử viết: “Tín cận (1) ư nghĩa (2), ngôn khả phục (3) dã. Cung cận ư lễ, viễn (4) sỉ nhục dã; nhân (5) bất thất kì thân, diệc khả tông (6) dã.”

 [Chú giải]

(1) 近 – jìn – cận: Ý nghĩa là tiếp cận (kề cận, cách không xa, thân cận), phù hợp.

(2)义 – yì – nghĩa:Nghĩa là phạm trù luân lý của Nho gia. Là chỉ tư tưởng và hành vi phù hợp tiêu chuẩn nhất định. Tiêu chuẩn này là “Lễ.”

(3) 复 – fù – phục: Ý nghĩa là thực tiễn. Chu Hi “Tập chú” viết: 复,践言也 – phúc, là nói tiễn (thực hành, thi hành).

(4) 远 – yuàn – viễn:phiên âm là yuàn,động từ, sử dụng như động từ, ý nghĩa là viễn ly, cách xa, tránh xa, ở đây có thể giải thích là tránh.

(5) 因 – yīn – nhân:Dựa vào, ỷ vào. Có thuyết nói 因 nên viết là 姻- nhân (trong hôn nhân, chỉ quan hệ thân thuộc do hôn nhân mà thành), nhưng xét cả đoạn trên dưới thì thấy như thế có chỗ không thích hợp.

(6) 宗 – zōng – tông: Chủ (người lãnh đạo), có thể dựa vào được (reliable), thường được giải thích thành “tôn kính” cũng có chỗ không thích hợp.

[Giải nghĩa câu]

Hữu tử nói: ‘nói tín cần phù hợp với nghĩa, lời nói (phù hợp với nghĩa) mới có thể thực hành. Cung kính cần phù hợp với lễ, như vậy mới tránh xa được sỉ nhục. Những người mà dựa vào đều là người đáng tin cậy, mới xứng đáng tôn kính.’

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Câu này của Hữu tử, thể hiện Khổng tử và các đệ tử cực kỳ coi trọng “信”- “tín” và “恭” -“cung” [cung trong cung kính, kính cẩn, kính trọng – YL]. “Tín” và “cung” đều cần lấy Chu lễ làm tiêu chuẩn, lời nói không phù hợp với lễ tuyệt không thể nói, nói ra là không phải thái độ của “tín”; việc không phù hợp với lễ tuyệt không thể làm, làm tức là không phải thái độ của “cung.” Ở đây là giảng về thái độ cơ bản của việc làm người xử thế.

 [Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Ngôn khả phục dã:  có ước hẹn với người khác mà cố giữ chữ tín, nhưng việc cố giữ ước hẹn này cần phải gần với nghĩa, mới có thể thực hành, giữ chữ tín được. Phục, phản phục, ở đây có nghĩa thực hành, tuân thủ lời nói.

Viễn sỉ nhục dã: cung kính cần phải hợp lễ, nếu không dễ tìm đến sự sỉ nhục.

Nhân bất thất kì thân, diệc khả tông dã: Nhân, giống như 依 – ỷ – dựa vào, tựa vào; Tông, giống như 主 – chủ – tông chủ, người lãnh đạo. Người mà dựa vào nhưng vẫn không mất đi khả năng thân cận (thân thiện gần gũi), thì khi cần được giúp đỡ có thể nương nhờ vào, cũng có thể thân cận như với bậc lãnh đạo. Hoặc nói: 因 – nhân là giản lược của 姻 – nhân (hôn nhân). Tông giả, thân như đồng tông (có chung tổ tông, họ hàng). Ngoại thân (người nhà vợ) không khác biệt mà như người thân [có chung tổ tông] của mình. Nay xét: giải thích đầu là thuyết thông dụng, giải thích sau là chuyên biệt. Nay theo thuyết đầu.

Chương này nói cùng người khác giao tế, cần cẩn thận ngay từ đầu, mà về sau có thể có được kết cục mĩ mãn. Có thể thấy được đạo có phân biệt trước sau cao thấp. Tín và cung đều là mỹ đức, như vậy cần hợp nghĩa hợp lễ.Có việc phải nương tựa vào người khác là điều không thể tránh khỏi, nhưng cần tìm người có thể thân.

Hữu tử nói: cùng với người khác ước hẹn mà muốn giữ chữ tín, trước hết cần giữ được nghĩa, rồi mới có thể tuân theo thi hành được. Cung kính với người khác, trước hết cần hợp lễ, rồi mới có thể tránh xa sự sỉ nhục. Gặp lúc cần phải dựa vào người khác, trước hết cần phải chọn người có thể thân, mới có thể dựa vào như người lãnh đạo vậy.

 [Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

“Tín cận ư nghĩa, ngôn khả phục dã.” Tại sao văn hóa Trung Quốc đề xướng “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”? “Tín” có chỗ nào tốt? Tại sao phải dạy con người ta xây dựng “tín”? Do “tín cận ư nghĩa” – tín gần với nghĩa, mà người có nghĩa/việc nghĩa thì tương thích,  hòa hợp với nhau. Chữ nghĩa này là một biểu hiện của sự bất đồng trong văn hóa Đông Tây. Chúng ta cần chú ý hai chữ “nhân nghĩa,” chữ “nhân,” tất cả bác ái, từ ái đều gọi là “nhân,” văn hóa các nước trên thế giới, đều có chữ đồng nghĩa với “nhân.”  Nhưng chữ “nghĩa” của Trung quốc, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, hay tiếng bất cứ nước nào đều không có từ đồng nghĩa. Chỉ có văn hóa Trung Quốc mới có. Chữ “nghĩa” này, có hai cách giải thích, giải thích của Nho gia Khổng môn là: 义者宜也” – “nghĩa giả nghi dã” – người nghĩa/việc nghĩa thì “nghi” – thích hợp, thích nghi, phù hợp. Vừa vặn, thích đáng, phù hợp, ở mức tốt đẹp, đem lại lợi ích gọi là nghi, đây cũng là tác dụng trung hòa của lễ, như “时宜” – thời nghi – hợp thời, hợp xu thế, cũng mang ý này. Cách giải thích khác, chính là tinh thần “hiệp nghĩa” của Mặc tử, cái gọi là “lộ kiến bất bình, bạt đao tương trợ” – trên đường gặp việc bất bình, rút đao giúp đỡ. Người Trung Quốc có tính cách này, có thể bán mạng vì bạn bè, loại tính cách này, có lúc so với ảnh hưởng của Nho gia còn lớn hơn, vì bạn bè, cho rằng tính mạng này có thể cho bạn, không có vấn đề gì hết, giúp bạn có thể cho luôn tính mạng, các dân tộc khác cũng có loại tinh thần này, nhưng không có loại định nghĩa này.

Chúng ta có loại văn hóa này, với lại trong quá khứ tồn tại phổ biển trong hạ tầng xã hội. Điều này rất quan trọng, đặc biệt là một quốc gia trong giai đoạn có nhiều biến loạn càng lộ rõ, trong thời kỳ kháng chiến có thể thấy, tinh thần hy sinh vì quốc gia dân tộc của bách tính, vô cùng vĩ đại, chính là biểu hiện của văn hóa Trung Quốc. Có người nói đây là ảnh hưởng của Nho gia Khổng Mạnh, hoàn toàn không phải như vậy, kì thực là do Tam Quốc diễn nghĩa các loại tiểu thuyết dạy mà ra. Do đó dân tộc Trung Hoa có tinh thần trung nghĩa, đây là đặc tính của dân tộc chúng ta, là sở trường đặc biệt, do đó những người phụ trách giáo dục như chúng ta, cần lưu ý đến vấn đề này.

Ở đây, “nghĩa” trong “tín cận ư nghĩa,” cùng với chữ “nghĩa” của Mặc tử, có điểm giống nhau. Con người tại sao phải thủ tín (giữ gìn/tuân thủ chữ tín )? Đã đáp ứng rồi, nhất định phải làm được. Vì thế chúng ta trong lịch sử có câu chuyện nổi tiếng “Quý Bố nhất nặc thiên kim” –  Quý Bố một lời nói ra đáng ngàn vàng (i). Trong Luận ngữ có Tử Lộ cũng là người như vậy. “Ngôn khả phục dã,” người thủ tín, không thể nói lời sáo rỗng, do “ngôn khả phục dã,” lời nói ra tất cần “khôi phục.” “恢复”- “khôi phục” – lấy lại được, hồi phục, thu phục là gì? Chính là lời nói ra cần thực hiện, biến thành sự thực.

“Cung cận ư lễ, viễn sỉ nhục dã.” Trong lúc thực hành lễ mạo cần cung kính. Cái gọi là cung, là đối với sự tình cẩn thận trang trọng từ trong nội tâm, chứ không phải là khi thấy người khác tỏ ra kính lễ là cung; mặc dù không kính lễ, nhưng lúc bạn bè gặp khó khăn, loại tinh thần quan tâm vô hạn, không cần nói ra cũng biết. Do đó con người cung kính hay không cung kính, mặc dù thái độ biểu hiện ra bên ngoài rất quan trọng, nhưng thứ trong nội tâm càng quan trọng hơn. Vì vậy cung kính chính là lễ. Giữa người và người tại sao cần cung kính? “Viễn sỉ nhục dã,” miễn đi việc chuốc lấy sự sỉ nhục vô vị.

“Nhân bất thất kì thân, diệc khả tông dã.” “Nhân” là động cơ, văn hóa Trung Quốc: thân ái với người thân, nhân ái với nhân dân, thương yêu quý mến vạn vật (ii). “Nhân bất thất kì thân,” ý nghĩa là con người không thể làm được việc là [làm người] tuyệt đối vô tư. (Vấn đề này sẽ được thảo luận sau, trong văn hóa Trung Quốc có 2 loại quan niệm từ Đạo gia mà ra, một là đại công vô tư (iii), một là tuyệt đối tự tư, hai loại tư tưởng cực đoan, đối với chúng ta mà nói đều là làm không được. Nho gia chủ trương tự tư có giới hạn.) Lấy một ví dụ, nếu ai cũng không có áo mặc, ta có được một tấm, trước hết phải để cho cha của ta mặc,  cha mặc rồi thì đến ta mặc, đợi đến khi có thêm một tấm khác, mới đưa cho người khác mặc. Tấm lòng và hành động giúp đỡ người khác, trước gần sau xa, dần dần rồi mới mở rộng ra cho mọi người. “Diệc khả tông,” được như vậy, mới có thể kính trọng.

(i) Quý Bố là tướng thời Hán Sở tranh hùng và đầu đời Hán.

(ii) 亲亲而仁民,仁民而爱物: thân thân nhi nhân dân, nhân dân nhi ái vật: thân với người thân mà nhân với người dân, nhân với người dân mà yêu vạn vật; câu trong sách Mạnh tử.

(iii) Đại công vô tư – 大公无私 – dà gōng wú sī (chỉ làm việc công chính, không có tư tâm – lòng riêng. Câu có từ đời Hán. Hiện chỉ làm việc xuất phát từ lợi ích của tập thể chứ không phải là tính toán riêng cho một người).

Si

Advertisements

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.8

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.8

1.8. 子曰:“君子,不重则不威; 学则不固。主忠信。无友不如己者。过则勿惮改。”

Zǐ yuē :“jūn zǐ, bù zhòng zé bù wēi ;xué zé bù gù 。Zhǔ zhōng xìn。Wú yǒu bù rú yǐ zhě。 Guò zé wù dàn gǎi 。”

Tử viết: “quân tử (1), bất trọng (2) tắc bất uy; học tắc bất cố (3). Chủ trung tín (4). Vô (5) hữu bất như kỉ giả (6). Quá (7) tắc vật đạn (8) cải.”

(1) 君子 – jūn zǐ – quân tử: từ này liên kết cả đoạn văn từ đầu đến cuối, cho nên ở đây nên đặt một dấu cách câu (dấu phẩy).

(2) 重 – zhòng – trọng: trang trọng (trang nghiêm, thận trọng), khống chế dục vọng và cảm xúc của bản thân.

(3) 学则不固 – xué zé bù gù – học tắc bất cố: có hai cách giải thích. Một giải thích là kiên cố (kiên cường, vững vàng, vững chắc), liền ý với câu trước, nếu như không trang nghiêm thận trọng thì không có uy nghiêm, do đó sở học cũng không kiên cường vững vàng. Hai giải thích là cố lậu (ngoan cố, hủ lậu, học thức nông cạn), nói người ít kiến văn (kiến thức văn hóa), học hành rồi sẽ không ngoan cố hủ lậu nữa.

(4) 主忠信 – Zhǔ zhōng xìn – chủ trung tín: lấy trung tín làm chủ.

(5) 无 – wú – vô: không có, “chớ nên, đừng”, don’t.

(6) 不如己 – bù rú yǐ – bất như kỉ: thường được giải thích là không bằng bản thân ta. Một cách giải thích khác là, 不如己者,不类乎己 – bất như kỉ giả, bất loại hồ kỉ – người không như ta, không cùng loại với ta, cái gọi là “đạo bất đồng bất tương vi mưu” – không cùng một đạo không cùng mưu sự/làm việc với nhau được vậy. Ở đây giải thích “như” thành “cùng loại.” Cách giải thích thứ hai phù hợp hơn với nguyên ý của Khổng tử.

(7) 过 – guò – quá: sai, lỗi.

(8) 惮 – dàn – đạn: sợ, sợ hãi.

[Dịch nghĩa câu]

Khổng tử nói: Quân tử, không trang trọng thì không có uy nghiêm; học tập có thể khiến cho con người hết bế tắc (i); Cần lấy trung tín (ii) làm chủ, đừng kết bạn với người không đồng đạo với mình; Có lỗi, đừng sợ cải chính (iii).

(i) Bế: đóng, khép (như trong bế quan tỏa cảng). Tắc: ngăn trở, cách trở, nghẽn (như trong tắc xe, tắc đường). Bế tắc ở đây là không được mở mang (YL)

(ii) Trung và tín

(iii) Sửa thành đúng, correct.

[Phân tích bình luận – Chưa rõ là ai]

Trong chương này, Khổng tử đề ra các phẩm đức mà quân tử cần có, nội dung chủ yếu bao gồm trang nghiêm cẩn trọng, học tập cẩn thận, thận trọng kết bạn, có lỗi biết sửa mình. Trở thành quân tử thật sự có nhân cách lý tưởng, biểu hiện bên ngoài phải khiến người khác thấy nghiêm túc, thận trọng, đường hoàng, uy nghiêm, thâm trầm sâu sắc, làm cho người khác cảm thấy ổn trọng (ổn định cẩn trọng), có thể tin cậy dựa dẫm được, có thể phụ trách trọng trách được giao phó. Khổng tử coi trọng việc học tập, không tự phong bế bản thân, khéo kết giao bạn bè, có lỗi thì sửa. Bốn nguyên tắc được nêu ra ở trên đều quan trọng như nhau. Làm được một quân tử có nhân cách cao thượng, “quá tắc vật đạn cải” chính là thái độ chính xác đối với lỗi lầm, có thể nói tư tưởng này chiếu rọi hào quang chân lý, phản ảnh phẩm chất đạo đức hoàn mỹ trong lý tưởng của Khổng tử, có ý nghĩa quan trọng đối với việc nghiên cứu và lý giải tư tưởng của Khổng tử.

[Luận ngữ Tân giải – Tiền Mục]

Bất trọng tắc bất uy: Trọng – hậu trọng: nhâu hậu/trung hậu +trang trọng/thận trọng/đường hoàng; uy – uy nghiêm. Người không trung hậu đường hoàng, tất sẽ mất đi sự uy nghiêm, không được người khác kính trọng.

Học tắc bất cố: có hai cách giải thích. Một, là kiên cố, liền với ý của câu trước, người không trung hậu đường hoàng, tất những gì học được cũng không giữ được một cách kiên cố vững chắc mà không mất đi. Hai là cố lậu – kiến thức nông cạn, bốn từ tự làm thành một câu, người có thể hướng đến việc học tập, thì không cố lậu.

Chủ trung tín: có hai cách giải thích. Một, hành sự lấy trung tín làm chủ. Hai, chủ, nghĩa là thân thiết. Như người làm khách, coi gia đình mà mình nương nhờ, hoặc là gặp gỡ là chủ. Đối chiếu với chữ “hữu” ở câu sau, thân thiết với người trung tín. Ở đây theo nghĩa thứ nhất.

Vô hữu bất như kì giả: Vô, không có, cấm chỉ. Làm bạn với ‘bất như kỷ giả’- người không bằng mình, không có ích mà chỉ có tổn hại. Hoặc nói: con người ta nếu như ai cũng muốn làm bạn với người hơn mình, như thế thì người hơn ta sẽ không muốn làm bạn với ta, kỳ thực không phải như vậy. Thầy giáo, bạn hữu, đều cố chọn bạn như chọn thầy, tất phải chọn người hơn mình, thông qua như vậy mà tăng tiến về đạo đức, nhân đức. Có thể có tâm thế này, tự biết ‘kiến hiền tư tề’- (i) gặp được người hiền thì cũng muốn được như vậy, ‘trạch thiện cố chấp’ – (ii) kiên trì không từ bỏ việc tốt, mở lòng hướng học, giữ mình cung kính khiêm nhượng, người hiền tất sẽ vui lòng mà làm bạn với ta. Hoặc nói: chữ “như” này, nghĩa giống như chữ “tự”- 似 – tương tự, giống như. Người hơn ta ở trên ta, người không bằng ta ở dưới ta, người tương tự như ta, ngang bằng với ta. Trộm nghĩ chương này tuyệt không dạy con người ta tính toán bạn nào hơn bạn nào kém, mà đặt thành điều kiện để kết giao. Khổng tử dạy, chủ yếu là chỉ lòng người (nhân tâm).  Tự răn tâm mình thường phải thấy chỗ hơn mình của người ta mà kết giao, vừa dễ có được một người bạn, vừa có thể thu hoạch được ích lợi của “hữu đạo” – đạo bằng hữu/bạn bè. Nếu người nào trong lòng chỉ thích kết giao với người không bằng mình, tất phải cực kỳ cẩn thận. Nói sách Luận ngữ rất dễ hiểu, người học cần tự biết mà chọn lọc cẩn thận, từ những cách giải nghĩa khác nhau mà chọn lấy nghĩa tốt đẹp, tất có thể thấy mình ngày càng tiến bộ.

(i) Kiến hiền tư tề – 见贤思齐 – jiàn xián sī qí (chỉ gặp được người tài đức thì muốn trở nên ngang bằng với người ta, tài đức như người ta, câu này cũng xuất phát từ Luận ngữ).

(ii) Trạch thiện cố chấp -择善固执 – zé shàn gù zhí (trạch có nghĩa là chọn lựa, thiện: việc tốt, việc lành; cố chấp: giữ vững không làm trái. Câu chỉ đã xác định mục tiêu rồi thì kiên trì không từ bỏ, đây cũng là cảnh giới cao nhất của tu dưỡng. Xuất phát từ Lễ ký, Trung Dung)  

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Chữ “trọng” trong “Quân tử bất trọng tắc bất uy” là “tự trọng,” nói theo cách hiện nay là lòng tự tôn, cũng là nói mỗi người đều cần tự trọng. “Quân tử bất trọng tắc bất uy,” nói theo cách hiện nay, cũng có thể nói là bản thân không có “tín tâm” – lòng tự tin.  

Chúng ta nên biết, con người ta ai sinh ra cũng có tính ngạo mạn, nhưng có lúc, giải quyết một vấn đề nào đó , một chút tự tín cũng không có, đây là vấn đề tâm lý, cũng là tâm lý chung của tất cả mọi người […] Do đó một người không có tự tin sẽ không tự coi trọng bản thân, không tự tôn, “học tắc bất cố,” học vấn sẽ không ổn định kiên cố, tức là tri thức này đối với anh ta không hữu dụng, do vậy chúng ta cần xây dựng nhân cách của bản thân, lòng tin vào bản thân trước.

Còn “vô hữu bất như kỉ giả,” giảng giải thế nào? Là nói không nên xem nhẹ bất kỳ ai, không nên cho rằng ai cũng không bằng mình. Câu trước là về tự trọng, câu tiếp theo này là về tôn trọng người khác. Chúng ta mặc dù cần tự tôn, đồng thời cũng phải tôn trọng lòng tự tôn của mọi người khác, “vô hữu bất như kỉ giả,” đừng cho rằng bạn của mình không bằng mình, không có bạn nào là không bằng mình cả, con người trên thế giới này, thông minh trí huệ đại khái là như nhau, phản ứng nhanh gọi là thông minh, phản ứng chậm gọi là ngu độn. Ta lừa người thông minh, họ sẽ biết ngay, ta lừa người ngu độn, bất kể là thời gian dài mấy chục năm, đến chết rốt cuộc họ cũng sẽ biết. Rất hiếm khi có người thực sự ngu đến mức mà ta lừa họ đến chết họ cũng không biết gì, đạo lý này chúng ta nên chú ý.  

Do đó, không nên xem thường bất kỳ người nào, người với người kết giao, mỗi người đều có thế mạnh của mình, anh ta chưa đúng ở điểm này, nhưng sẽ đúng ở điểm khác. Có hai trọng điểm cần chú ý: “bất nhân kì nhân nhi phế kì ngôn, bất nhân kì ngôn nhi phế kì nhân” -不因其人而废其言,不因其言而废其人 – không vì một người (địa vị kém hay đã từng có lỗi lầm gì), mà phủ định cả lời nói đúng đắn của anh ta, không vì một lời nói không hay, mà phủ định cả một con người (i). Có một tên gia hỏa này hành vi vô cùng hỗn đản, nhưng có lúc  hắn nói một câu, ý kiến rất hay. Ta cần chú ý, không nên vì nhân cách của hắn ta có vấn đề, hoặc là ấn tượng với hắn ta không tốt, mà đối với ý kiến hay của hắn ta, cương quyết không thèm nghe, làm như vậy là không đúng. Có lúc “bất nhân kì ngôn nhi phế kì nhân,” có người cứ mở miệng là mắng người khác, nói lời thô lỗ, ta cho rằng người nói năng thô lỗ, không có học vấn, sau đó coi khinh toàn bộ nhân cách của người ta. Như vậy cũng không đúng, không nên thiên lệch, phiến diện, lầm lẫn, “vô hữu bất như kỉ giả,” trên thế giới ai cũng có điểm mạnh của mình, chúng ta nên nhìn vào điểm mạnh của anh ta mà bỏ qua điểm yếu, do đó mới “quá tắc vật đạn cải,” vì nhìn ra điểm mạnh của mỗi người, mà phát hiện ra khuyết điểm của bản thân, sau đó thì không sợ sửa sai, đây mới là học vấn chân chính.

Theo nghiên cứu tâm lý học, con người đối với khuyết điểm, việc làm sai trái của mình, đều rất dễ phát hiện. Mỗi người làm sai việc gì đó, nói sai lời nào đó, tự thân có hiểu rõ hay không? Cực kỳ hiểu, nhưng nhân loại có một loại mao bệnh, đặc biệt là những người mà không thật sự có tu dưỡng, thì loại mao bệnh này không cải biến được. Bệnh này chính là biết rõ mình đã làm sai, nhưng ngay giây phút sau liền tìm ra một đống lý do, bênh những gì mình làm sai là đúng, càng tự nghĩ càng thấy không có gì sai cả, đặc biệt là người sự nghiệp hơi có chút thành tựu, bệnh này một khi phạm phải, là không có cách nào cả. Do đó sau khi làm sai mà phát hiện, có dũng khí sửa, mới là chân học vấn, chân đạo đức.

Như vậy, ta làm cách nào để chứng minh cách giải thích “vô hữu bất như kỉ giả” như thế này? Rất tự nhiên, vẫn là theo Luận ngữ. Nếu Khổng tử đặt chữ “vô” làm động từ, thì không cần dùng đến chữ “vô” này. Tỉ như nói, “vô ý,” “vô ngã” các loại ở phần sau, đều dùng chữ “vô” này. Hơn nữa chiếu theo lời văn ở trên và dưới, theo tinh thần của toàn bộ cuốn Luận ngữ, câu này cực kỳ rõ ràng, ở trên dạy ta tôn trọng bản thân, ở dưới dạy ta tôn trọng người khác. Hơn một nghìn năm qua, giải thích đều biến thành lợi thế của việc kết giao, làm sao mà thông được?

(i) Đây là một ý khác trong Luận ngữ, về sau này sẽ học đến 😛

Si

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.7

* Một chương có nhiều kiến giải khác nhau, dài khủng khiếp, lại còn có thêm mấy thuật ngữ triết học cổ, nhớ đọc kỹ, đọc kỹ, và enjoy!!! 😛

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.7

子夏曰:“贤贤易色;事父母,能竭其力;事君,能致其身;与朋友交,言而有信。虽曰未学,吾必谓之学矣。”

Zǐ xià yuē :“xián xián yì sè ;shì fù mǔ ,néng jié qí lì ;shì jūn ,néng zhì qí shēn ;yǔ péng yǒu jiāo ,yán ér yǒu xìn 。suī yuē wèi xué ,wú bì wèi zhī xué yǐ 。” 

Tử hạ (1) viết“hiền hiền (2) dị (3) sắcsự phụ mẫunăng kiệt kì lựcsự quânnăng trí kì thân (4)dữ bằng hữu giaongôn nhi hữu tínTuy viết vị họcngô tất vị chi học hĩ

(1) Tử Hạ: tức Bốc Thương, học sinh của Khổng tử, kém Khổng tử 44 tuổi. Sau khi Khổng tử mất, Tử hạ ở nước Ngụy tuyên truyền chủ trương tư tưởng của Khổng tử.

(2) 贤贤 – xián xián – hiền hiền: chữ hiền đầu tiên là động từ, có nghĩa là tôn trọng. Hiền hiền là tôn trọng người hiền.

(3) 易 – yì – dị: có hai cách giải thích. Một là có nghĩa cải biến, câu này sẽ là tôn trọng người hiền mà (tự) cải biến lòng háo sắc; Hai mang nghĩa khinh thị, xem nhẹ, câu này sẽ là xem trọng hiền đức mà xem nhẹ nữ sắc.

(4) 致其身 – trí kì thân: trí có ý là “hiến nạp” (cống hiến, cống nạp), “tận lực”. Ở đây là nói đem sinh mệnh cống hiến cho quân chủ.

[Giải nghĩa câu]

Tử Hạ nói: một người có thể đạt đến mức xem trọng hiền đức mà không xem trọng nữ sắc; khi phục dịch cha mẹ, có thể kiệt tận toàn lực; khi phục vụ quân chủ, có thể cống hiến cả sinh mệnh của mình;  khi giao du với bạn bè, nói lời thành thực, nghiêm thủ đức tín. Loại người như thế này, bất kể có nói là bản thân mình chưa từng học hành, ta cũng nhất định nói là anh ta đã học rồi.

[Phân tích bình luận – Chưa rõ là ai]

Chương trước có câu “hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn.” Những gì Tử Hạ nói trong chương này trên thực tế là phát triển ý của chương trước. Tử Hạ cho rằng, một người dù có học vấn hay không, học vấn ít hay nhiều, chủ yếu không phải nhìn ở văn hóa tri thức, mà cần nhìn xem anh ta có khả năng thực hành “hiếu,” “trung,” “tín” các loại đạo đức luân lý truyền thống hay không. Chỉ cần làm được phần sau, thì kể cả anh ta nói anh ta chưa từng học qua, anh ta cũng đã là người có tu dưỡng đạo đức rồi. Do đó, đem chương này với chương trước kết hợp lai phân tích, càng thấy rõ giáo dục của Khổng tử có đặc điểm cơ bản là xem trọng đức hành.

[Luận ngữ tân giải của Tiền Mưu] (viết trước sách của Dương Bá Tuấn)

Hiền hiền dị sắc, có thể chỉ quan hệ phu thê, nói người làm chồng có thể tôn trọng hiền đức hơn là nhan sắc diện mạo của người vợ. 4 câu đầu là lần lượt nói về quan hệ phu thê, phụ tử, quân thần, và bằng hữu.

Chương trước Khổng tử nói học, trước hết phải có đức hành, sau mới học văn (hóa), các nhà biên tập Luận ngữ xưa đặt tiếp theo là chương này của Tử Hạ. Có thể nói ngữ khí của chương này trầm trọng quá mức, đến gần như là phế luôn cả việc học hành. Do đó việc luận học của Khổng môn, vốn chỉ cho rằng cần coi trọng việc đạt được đức hạnh, người đời sau lại phân đức hạnh với học tập làm hai, mà làm mất đi ý nghĩa của hai chương này vậy.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Mấy câu này, là tiếp theo câu trước, chứng minh mục đích của học tập, không phải là văn học, tri thức, mà là làm người biết xử thế. Tử Hạ nhỏ hơn Khổng tử 44 tuổi […]. Sau khi Khổng tử mất, tại giai đoạn đầu của thời kỳ Chiến Quốc, Tử Hạ dạy học ở Hà Tây.  Các học giả có ảnh hưởng lớn tại thời kỳ Chiến Quốc, đều chịu nhiều ảnh hưởng của Tử Hạ. Do đó chúng ta cần chú ý đến điều này. Lãnh đạo lịch sử, lãnh đạo quốc gia xã hội, tới cùng đều là học vấn tư tưởng.

[…] Chúng ta xem nguyên văn “hiền hiền dị sắc,” hai chữ hiền, chữ đầu tiên là động từ, bởi vì văn tự Trung Quốc có lúc là mượn một chữ mà dùng với nghĩa khác. Chữ hiền thứ hai là danh từ, chỉ người hiền, tức là người có tu dưỡng, có học vấn tốt. “Dị sắc,” người xưa như các Nho gia thời Tống (Tống Nho), giải thích như thế nào? Họ đem “sắc” giải thích thành “nữ sắc,” “nữ nhân,” “nam nữ chi sắc.” (Khổng tử bị người ta đả đảo, chính là bị oan thế này). “hiền hiền dị sắc” là khi gặp được người hiền – người có đạo đức học vấn, lập tức phải học tập người đó. “Dị sắc,” đến nữ sắc cũng không cần, vợ cũng không cần, trong tình yêu, bạn gái cũng quăng sang một bên. Nếu như là nữ, đến bạn trai cũng không cần. Nếu thật như cách giải thích của Tống Nho, ta cho rằng Khổng phu tử không phải là thánh nhân vậy. Bởi vì thánh nhân, sẽ không đi trái ngược lại nhân tình. Khổng tử trong “Lễ ký” nói “饮食男女,人之大欲存焉” – ẩm thực nam nữ, nhân chi đại dục tồn yên – ăn uống, tình ái nam nữ, là bản tính và mong cầu lớn của con người. Đích xác cách nhìn của  Khổng tử đối với nhân sinh- là hình nhi hạ, chứ không nói đến hình nhi thượng (i). Đã là đời sống con người, không thể thoát khỏi hai việc lớn: ẩm thực, nam nữ. Một việc là vấn đề ‘tính’ (bản tính, bản chất, bản năng tự nhiên của con người), một việc là vấn đề sinh sống, sinh hoạt. Cái gọi là ẩm thực, bằng với vấn đề dân sinh. Nam nữ thuộc về vấn đề khang lạc [yên vui]. Nhân sinh không thể tách rời hai việc này. Có lúc xem sách vở liên quan đến văn hóa Trung Quốc, nói “食色性也” – thực sắc tính dã (thực và sắc là hai bản tính của con người) là do Khổng tử nói. Sai, câu này không phải là Khổng tử nói, mà là do Cáo tử, cùng thời với Mạnh tử, nói. Về sau dẫn chứng hay sử dụng sách vở, không nên trước sai sau cũng sai, đã sai lại tiếp tục sai.

Vấn đề tính này, đến cuối cùng là tính tiên thiên hay hậu thiên (ii)? Về sau hãy thảo luận. Nhưng Tống Nho giải thích “hiền hiền dị sắc,” vì học tập, mà có thể vất bỏ cả vợ hoặc chồng của mình, điều này thật không thông. Từ “sắc” này, rất đơn giản, chính là sắc thái, thái độ. “Hiền hiền dị sắc” ý nghĩa là: chúng ta gặp một người, học vấn cao, tu dưỡng tốt, năng lực cao, đích xác là rất tài giỏi, gặp được người như vậy sẽ ‘túc nhiên khởi kính’ – sinh ra lòng kính phục (iii),  thái độ cũng tự nhiên theo đó mà chuyển. Điều này là rất rõ ràng, rất thông thường, là tâm lý phổ thông của con người, bất kể là một người có xấu đến mức nào, gặp một người tốt, cũng không tự giác mà đối với người tốt này tương đối hòa thiện hơn, điều này là thường tình của con người.

“Sự phụ mẫu năng kiệt kì lực” là nói về đạo hiếu. Câu này có một vấn đề, Tử hạ tại sao nói đến “kiệt kì lực”? Trọng điểm là ở chữ “kiệt” này.  Xưa ai nói đến hiếu thuận với cha mẹ, đều là “không hiếu không được.” Kỳ thực đạo hiếu cũng cần ‘lượng lực nhi vi’- lượng sức mà làm (iv), hiếu cần “tận kì lực,” nhưng không cần quá phận. Một hai năm trước, có một thanh niên trời sinh có tấm lòng hiếu thảo (không phải là do giáo dục mà nên). Vì hiếu với cha mẹ, mà đi ăn cắp vặt, phạm pháp, đối với người làm việc hiếu theo kiểu này, trên phương diện tâm lý đạo đức, chúng ta cảm thấy người này không có tội, do anh ta vì hiếu thuận, vì chữa bệnh cho cha mẹ nên mới đi trộm tiền, phạm pháp, điều này có thể lượng thứ được. Nhưng nhìn từ phương diện tu dưỡng học vấn, phê bình đối với anh ta sẽ là “người này chưa nhận được giáo dưỡng tốt [giáo dục nuôi dưỡng].” Từ phương diện đạo lý, người thanh niên này có lòng tốt, nhưng lòng tốt cần được vun trồng chăm sóc bằng học vấn tri thức, khiến cho anh ta biết cần “tận kì lực” chứ không phải là làm ra các việc quá phận. Người xưa có câu đối tổng kết rằng:

Bách thiện hiếu vi tiên, nguyên tâm bất nguyên tích, nguyên tích bần gia vô hiếu tử.

Vạn ác dâm vi thủ, luận tích bất luận tâm, luận tâm thế thượng thiểu hoàn nhân (v).

(Trong trăm việc thiện, việc hiếu đứng đầu, hiếu bắt nguồn từ tâm chứ không phải từ tích [sự vật, sự việc, tích trong dấu tích, vết tích, sự tích], nếu bắt nguồn từ tích thì nhà nghèo không có ai là có hiếu. Trong vạn việc xấu, việc dâm đứng đầu, để đánh giá dựa vào tích chứ không dựa vào tâm, vì nếu tính theo tâm thì thế gian quá thiếu người hoàn mĩ/người không có khuyết điểm).

“Nguyên tâm bất nguyên tích” của câu trên chính là xem lòng anh ta có hiếu hay là không có hiếu. Ví dụ một người rất nghèo, muốn mua 1 lọ sữa bột cho cha mẹ ăn, nhưng lại không có tiền, không mua được, do vậy trong lòng anh ta rất thống khổ, chỉ hy vọng dần dần tích cóp đủ tiền để mua. Chỉ cần có tấm lòng này, chỉ cần phần tình cảm này của anh ta là chân thực, chúng ta không thể nói là anh ta bất hiếu. “Nguyên tích bần gia vô hiếu tử,” nếu nhất định cần phải có biểu hiện trên thực tế, thì nhà nghèo chẳng có nổi người có hiếu. Đạo lý này vô cùng rõ ràng minh bạch, chúng ta dùng đạo lý này để giải thích, chính là nói rõ “sự phụ mẫu năng tận kì lực” có nghĩa là tận hết tâm lực của mình để làm được chính là hiếu.

“Sự quân năng trí kì thân”, chữ “quân” đã trở thành điểm để đả đảo Khổng gia, và thâm chí là cớ để một số người vu cáo khinh thường coi rẻ Khổng tử, phỉ báng văn hóa Trung Quốc. Họ cho rằng đây là tư tưởng chuyên chế, là đề cao đế vương, đề cao giáo điều cổ lỗ của chế độ độc tài. Sự thực không phải là như vậy, chúng ta trước hết cần hiểu chữ “quân” trong văn hóa Trung Quốc có ý nghĩa là gì. Từ khía cạnh tượng hình của văn tự [chữ viết], người xưa viết chữ “quân” -君, ở phía trên là chữ “doãn”- “尹”, chữ này thời cổ viết là “丮” Trong tay cầm một cây quải trượng [gậy chống],  ở dưới là một chữ khẩu, đại diện cho một người, người này tuổi tác cao, học vấn đạo đức rất cao, cầm cây quải trượng, cũng ngang với chỉ một cây huy trượng [gậy chỉ huy], do vậy người cầm cây gậy chống, hay gậy chỉ huy, đều là “quân”-  君. Về sau mới dần biến thành từ chuyên dụng cho hoàng đế, kỳ thực “quân” trong văn hóa Trung Quốc cũng không phải là từ chuyên dụng cho hoàng đế, ví dụ trong quá khứ chúng ta viết thư cho người ngang hàng, không tiện gọi anh ta là ‘tiên sinh,’ cũng không tiện gọi anh ta là ‘lão đệ,’ cho đến một người thầy giáo viết cho học sinh, người thầy giáo này khiêm tốn một chút liền gọi học sinh “某某君” – “mỗ mỗ quân” […] Người Nhật Bản học văn hóa Trung Quốc của chúng ta, viết thư thông thường đều dùng quân là từ xưng hô tôn trọng.

Câu “sự quân năng trí kì lực” này, ý nghĩa là: bất luận là bạn bè hay đồng nghiệp, anh ta với ta có giao tình tốt, anh ta hiểu ta, nhận biết về ta, cho rằng chỉ có ta có thể giúp đỡ anh ta, còn ta đã đáp ứng giúp đỡ, thì anh ta chính là quân, còn ta đã tự đáp ứng giúp đỡ anh ta làm một việc, nếu cần bỏ ra nhiều công sức thì cũng nhất định phải tận tâm, đáp ứng rồi thì lời nói phải có tín. “Năng trí kì lực,” kiệt tận năng lực của tâm, của thân mình […]. Còn không thì lúc đầu đừng có nhận lời, một khi đã nhận lời rồi, nói đến đạo lý làm người, thì cần phải có tín. Còn đạo lý của việc thay người khác làm việc thì là trung, cũng là tận hết sức lực của mình. Không nên ngoài mặt thì bằng lòng giúp đỡ, khi làm bộ hạ [người thuộc cấp, người dưới quyền] thì tỏ ra dáng vẻ cung kính, sau lưng lại không đồng ý, ngược lại còn làm lộn xộn, gây rối, phá hoại, hoặc là rút lui không làm. Đây chính là làm người chưa đạt được “thần đạo,” nói một cách đơn giản thì chính là không thành khẩn [chân thành].

Do đó “hiền hiền dị sắc, sự phụ mẫu năng kiệt kì lực, sự quân năng trí kì thân” có nghĩa là gặp được người tốt nên có lòng và thái độ kính phục, ở nhà nên kiệt tâm tận lực yêu gia đình, yêu cha mẹ, ra xã hội làm việc, đối với người khác, đối với đất nước, bỏ đi tư tâm, cái gọi là phụng thân vì nước. Còn có “dữ bằng hữu giao ngôn nhi hữu tín,” câu này phải nhắc đi nhắc lại, trên phương diện cảm tình, mỗi người đều tự cho mình là đối với bạn bè làm được “ngôn nhi hữu tín.” Theo ta tự nhận thấy, mặc dù rất muốn làm được đến cùng, trên thực tế vô cùng khó. Có lúc có việc đã đáp ứng với bạn rồi nhưng làm không được, trong lòng vô cùng buồn bực, vì yêu cầu đạo đức của bản thân, muốn tìm hết mọi cách để làm, do đó chú tâm nghiên cứu thấy, câu “dữ bằng hữu giao ngôn nhi hữu tín” này, thực tại rất không dễ dàng. Do đó Tử Hạ nói, nếu có thể làm được như vậy, “tuy viết vị học, ngô tất vị chi học hĩ.” Bất kể người này chưa đọc qua một chương sách nào, ta nhất định nói rằng người này thật là có học vấn, điều này giải thích “học nhi thời tập chi”  không phải là nhất định chỉ đọc sách một cách cứng nhắc, không phải vậy sao? Do đó, chúng ta không nên theo giải thích từng chỗ một của Tống Nho, đọc liên kết cả một thiên, tự sẽ thấy rõ ràng.

(i) 形而下- “Hình nhi hạ” và 形而上 – “hình nhi thượng”  là hai phạm trù quan trọng của triết học Trung Quốc cổ đại. Triết học Nho gia dùng “hình nhi hạ” để chỉ những thứ hữu hình, đã thành hình, còn “hình nhi thượng” để chỉ những thứ vô hình, hoặc chưa thành hình. Trong Chu Dịch – Hệ từ thượng viết: “形而上者谓之道,形而下者谓之器” – hình nhi thượng giả vị chi đạo, hình nhi hạ giả vị chi khí, cho rằng phép tắc là vô hình, gọi là hình nhi thượng; vật dụng khí cụ là thứ hữu hình, gọi là hình nhi hạ.

(ii) 先天 – “tiên thiên”: từ lúc sinh ra đã có, đã tồn tại, hay còn gọi là thiên tính. 后天 – “hậu thiên”: ngược lại với tiên thiên, sau khi sinh ra mới có được, đạt được. Tiếng Anh gọi là nature versus nurture.

(iii) Túc nhiên khởi kính – 肃然起敬 – sù rán qǐ jìng (túc nhiên: dáng vẻ cung kính; khởi kính: sinh ra lòng kính phục. Dùng để hình dung việc sinh ra lòng kính phục, thái độ kính phục. Tiếng Anh là feel deep respect for).

(iv) Lượng lực nhi vi – 量力而为 – liàng lì ér wéi (lượng sức mà làm, lượng được sức của bản thân rồi làm theo năng lực của bản thân, làm theo năng lực (hưởng theo nhu cầu :-P)).

(v) Bách thiện hiếu vi tiên, nguyên tâm bất nguyên tích, nguyên tích bần gia vô hiếu tử. Vạn ác dâm vi thủ, luận tích bất luận tâm, luận tâm thế thượng thiểu hoàn nhân- 百善孝为先,原心不原迹,原迹贫家无孝子。万恶淫为首,论迹不论心,论心世上少完人。

Si

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.6

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.6

1.6. 子曰:“弟子入则孝,出则弟,谨而信,泛爱众,而亲仁,行有余力,则以学文。”

Zǐ yuē “dì zǐ rù zé xiào chū zé tì jǐn ér xìn fàn ài zhòng ér qīn rén , xíng yǒu yú lì zé yǐ xué wén ” 

Tử viết: Đệ tử (1) nhập (2) tắc hiếu, xuất (3) tắc đễ, cẩn (4) nhi tín, phiếm (5) ái chúng, nhi thân nhân (6), hành hữu dư lực (7), tắc dĩ học văn (8).

(1) 弟子- dì zǐ – đệ tử: thường có hai loại ý nghĩa: một là chỉ người tuổi tương đối nhỏ, làm con em người ta, hai là chỉ học sinh. Ở đây là dùng theo ý nghĩa thứ nhất.

(2) 入- rù, nhập: Ở thời cổ đại cha con sống ở nhà/phòng khác nhau, người đi học sẽ không sống ở nhà với cha mẹ. ‘Lễ ký. Nội tắc’ viết: 由命士以上,父子皆异宫 – do mệnh sĩ dĩ thượng, phụ tử giai dị cung: noi theo cấp sĩ trở lên, cha con đều ở nhà/phòng khác nhau. (Đẳng cấp cổ đại: thiên tử, chư hầu, đại phu, sĩ và thứ dân. Sĩ trở lên là cấp bậc được thụ phong. Ngày xưa nhà nào cũng gọi là cung, từ thời Tần, Hán trở đi chỉ nhà của vua ở mới gọi là cung. YL). Nhập là nhập phụ cung, chỉ đến nhà/phòng phụ thân ở, hoặc chỉ khi ở nhà (với cha mẹ).

(3) 出 – chū – xuất: là nói ngược lại so với “nhập,” chỉ ra ngoài bái sư học tập. Xuất tắc đễ, là nói cần dùng đạo “đễ” để đối đãi thầy giáo, cũng có thể chỉ đối đãi với những người tuổi lớn hơn mình nói chung.

(4) 谨 – jǐn – cẩn: quả ngôn thiểu ngữ gọi là cẩn. (quả ngôn thiểu ngữ-寡言少语 – nói ít).

(5) 泛 – fàn – phiếm: 广泛 – quảng phiếm: phổ biến, rộng khắp.

(6) 仁 – rén – nhân: chỉ người nhân, người có nhân đức.

(7) 行有余力 – xíng yǒu yú lì – hành hữu dư lực: chỉ có thời gian nhàn hạ.

(8) 文- wén – văn: văn hiến cổ đại, chủ yếu bao gồm các loại văn hóa tri thức thi thư lễ nhạc. (hiến (danh từ) có nghĩa là người hiền tài. Văn hiến là sách vở văn chương của người hiền tài).

[Dịch nghĩa câu]

Khổng tử nói: các đệ tử ở nhà, thì hiếu thuận cha mẹ; ra khỏi nhà, cần thuận tòng thầy giáo, ngôn hành [ngôn ngữ hành vi] cần cẩn thận, cần thành thực đáng tin, ít lời ít tiếng, cần yêu tất cả mọi người, thân cận những người có nhân đức. Sau khi tự mình thực hành(i) những điều này, nếu vẫn còn dư lực, thì học tập văn hiến tri thức.

(i) cung hành thực tiễn -躬行实践 – gōng xíng shí jiàn: tự mình thực hành hoặc thể nghiệm, xuất xứ từ thời Nguyên.

[Phân tích bình luận – Chưa rõ là ai]

Chương 2 của Thiên này từng nhắc đến “hiếu đễ,” chương này một lần nữa đề cập chủ đề này. Khổng tử yêu cầu những người trẻ tuổi làm con em trước hết cần tận lực hiếu đễ, cẩn tín [cẩn thận thành tín], ái chúng [yêu tất cả mọi người], thân nhân [thân cận người có nhân đức], bồi dưỡng nên quan niệm đạo đức và hành vi đạo đức tốt đẹp, nếu như vẫn còn thời gian nhàn hạ và sức lực, thì cần học tập sách vở của người xưa để lại, tăng thêm văn hóa tri thức.

Điều này thể hiện rõ, nền giáo dục của Khổng tử lấy giáo dục đạo đức làm trung tâm, coi trọng bồi dưỡng việc tu dưỡng đạo đức hành vi của học sinh, còn đối với việc học tập tri thức sách vở, chỉ đặt ở vị trí thứ hai.

Khổng tử thi hành giáo dục, đặt lên vị trí hàng đầu việc bồi dưỡng ý thức đạo đức của học sinh, còn học tập văn hóa chỉ đặt ở vị trí thứ hai. Trên thực tế, bất cứ giai cấp nào trong lịch sử, vô luận là giai cấp chủ nô, địa chủ, hay giai cấp tư sản, giáo dục đều là để phục vụ chính trị, đặc biệt coi trọng phẩm hành [phẩm chất hành vi] đạo đức và biểu hiện chính trị của học sinh, lấy “đức” đặt trước “thức” [tri thức], đây là đòi hỏi của giai cấp. Họ đều cần bồi dưỡng nhân tài nhiều mặt thích hợp với yêu cầu của giai cấp mình.

 [Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Cổ đại gọi học sinh là “đệ tử,” thầy giáo thời cổ đại đối với học sinh, xem như con em của mình. Quan hệ thầy giáo – học sinh như quan hệ cha con, có tình trạng là “一日从师,终身若父” – nhất nhật tòng sư, chung thân nhược phụ – một ngày theo thầy, cả đời coi như cha, mà thầy giáo đối với học sinh, cũng gánh trách nhiệm cả đời […].

Khổng tử nói một người học sinh “nhập tắc hiếu,” ở trong nhà phải là một người con có hiếu (như thế nào gọi là hiếu, rất nhiều phần tiếp theo sẽ giảng về hiếu đạo, ở đây tạm không bàn luận). “Xuất tắc đễ,” ra khỏi nhà, không ở cùng với anh em, thì đễ như thế nào? Chính là ở bên ngoài, đối với bạn bè, với xã hội, với mọi người nói chung đều phải thân ái, mở rộng ra là yêu nước, yêu thiên hạ, đều là ý nghĩa của chữ “đễ” này.

“Cẩn nhi tín,” làm người vô cùng cẩn thận, nhưng khi nói đến chữ “cẩn” cần chú ý, không nên biến thành nhỏ nhen. Cẩn thận và cố chấp câu nệ là hai việc khác nhau, có một số người vô cùng câu nệ, đến quá mức thì thành nhỏ nhen. Trong lịch sử có một tấm gương về cẩn thận, chính là một nhân vật được chúng ta vô cùng sùng bái là Gia Cát Lượng. Mới có câu là “Gia cát nhất sinh duy cẩn thận, Lã Đoan đại sự bất hồ đồ” – Gia Cát cả một đời luôn cẩn thận, Lã Đoan làm việc đại sự không hồ đồ (i). Đây là một câu đối nổi tiếng, cũng là một cách ngôn rất hay (ii). Lã Đoan là một tể tưởng nổi tiếng thời Tống, nhìn vào thì tưởng ông ta ngu đần, nhưng kỳ thực ông ta không hề ngu, mà đây là tu dưỡng của ông ta, khi phải xử lý đại sự, khi gặp chỗ then chốt trọng yếu, ông ta tuyệt đối không cẩu thả tùy tiện. Còn Gia Cát Lượng cả một đời làm việc đều ở một chữ cẩn thận, nếu cần tìm một tấm gương cẩn thận tốt nhất, chúng ta có thể nghiên cứu về Gia Cát Lượng, ở đây sẽ không nêu rõ.

Tóm lại, cái gọi là cẩn thận không thể biến thành nhỏ nhen, điểm này khi tu dưỡng cần chú ý, còn một người có thể cẩn thận xử thế mà giữ được tín, tức là giữa người với người, giữa người với xã hội, đều phải nói mà giữ được lời. Đồng thời cần phải “phiếm ái chúng,” có tấm lòng vĩ đại, có thể yêu mọi người […]. Về lý thuyết thì rất dễ, nhưng yêu tất cả mọi người, đó là tổng hợp của “quân đạo” và “sư đạo,” yêu người thiên hạ như yêu chính bản thân mình, lý thuyết dễ, nhưng tu dưỡng đạt đến trình độ này rất khó. Khổng tử nói, giả sử một người làm được việc này, “nhi thân nhân,” thân cận làm bạn với người có học vấn đạo đức, “hành hữu dư lực tắc dĩ học văn,” còn thừa tinh lực thì “học văn,” tức là thích làm văn học, khoa học, nghệ thuật hay lĩnh vực nào đi nữa đều có thể, đó là chí hướng, là sở thích của từng người, có thể lượng sức mình mà làm, ai cũng có thể tự do chọn.

(i) Lã Đoan, hay Lữ Đoan

(ii) Cách ngôn: câu nói ngắn gọn, có thể dùng làm phép tắc noi theo, châm ngôn.

[Nhận xét của YL]

Tiên học lễ, hậu học văn là ở đây?

Ta hiểu phần đầu của câu này như sau: ở nhà cần hiếu thuận với bố mẹ, ra đường cần lấy sự chân thành đáng tin cậy mà đối đãi người khác, lời nói phải thận trọng, không trí trá, nói ít, không cần nhiều lời nhưng lời nói việc làm đi đôi với nhau, nói được làm được, yêu thương tất cả mọi người nhưng nên tìm người nhân đức mà thân cận.

Phần bình luận của Dương bá Tuấn, còn thiếu không nhắc đến giai cấp vô sản 😛

Phần bình luận của Nam Hoài Cẩn ta không dịch hết, bỏ mấy mấy cái ví dụ, với một phần tổng kết là có 3 loại đạo: quân đạo, thần đạo, và sư đạo. Nhưng có thể thấy, “nhập tắc hiếu” của Nam Hoài Cẩn, là hiếu với cả cha mẹ và thầy giáo, còn “xuất tắc đễ,”là đối với bạn bè, với xã hội, không phải như Dương Bá Tuấn, đối với cha mẹ là hiếu, đối với thầy giáo là đễ.

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.5

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.5

1.5. 子曰:“道千乘之国,敬事而信,节用而爱人,使民以时。”

Zǐ yuē :“dào qiān shèng zhī guó ,jìng shì ér xìn ,jié yòng ér ài rén ,shǐ mín yǐ shí 。”

Tử viết: Đạo (1) thiên thặng chi quốc (2), kính sự (3) nhi tín, tiết dụng nhi ái nhân (4), sử dân dĩ thời (5).

(1) 道- dào – đạo: có sách viết là “导” (hán việt cũng là đạo, trong chỉ đạo lãnh đạo), dùng làm động từ. Ý nghĩa ở đây là trị lý, quản trị, cai trị quản lý.

(2) 千乘之国 – thiên thặng chi quốc: thặng có nghĩa là cỗ xe. Ở đây chỉ đơn vị cơ sở/nhỏ nhất của quân đội thời cổ đại. Mỗi thặng bao gồm một cỗ binh xa có 4 ngựa kéo, trên xe có 3 giáp sĩ (binh sĩ mặc áo giáp), dưới xe bộ tốt 72 người, hậu cần 25 người, tổng cộng là 100 người. Thiên thặng chi quốc, chỉ quốc gia có 1000 cỗ chiến xa, tức là một quốc gia chư hầu.Tại thời Xuân Thu, chiến tranh liên miên, do đó sự mạnh yếu của quốc gia đều dùng số lượng xe để tính. Ở thời của Khổng tử, nước có nghìn cỗ xe không phải là nước lớn (Sách Luận ngữ Tân giải của Tiền Mục lại cho rằng, quốc gia mà có khả năng xuất binh 1000 xe, đã là nước lớn).

(3) 敬事- jìng shì- kính sự: từ “kính” đều dùng để biểu thị thái độ của một người, đặc biệt là đối với những sự việc do mình đảm nhiệm cần cẩn thận chuyên nhất.

(4) 爱人- ái nhân: thời cổ đại, “nhân” có nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Nghĩa rộng là chỉ nhân dân quần chúng nói chung. Nghĩa hẹp là chỉ những người từ bậc sĩ đại phu trở lên. Ở đây “nhân” được phân biệt với “dân” (ở phần tiếp theo), cho nên có thể thấy là được dùng theo nghĩa hẹp.

(5) 使民以时 – sử dân dĩ thời: thời chỉ nông thời – thời gian làm nông nghiệp. Thời cổ đại bách tính lấy nông nghiệp làm chủ, ở đây nói cần khiến bách tính theo thời vụ mà canh tác hoặc thu hoạch.

[Dịch nghĩa câu]

Tử viết: quản trị một quốc gia có một ngàn cỗ binh xa, cần nghiêm túc cẩn thận trong việc xử lý quốc gia đại sự, cũng như cần kính cẩn tuân thủ đức tín, thành thật không dối trá; tiết kiệm hạn chế chi tiêu cũng như thương yêu bảo hộ quan lại thần liêu (i), khiến bách tính không được để lỡ thời gian mùa màng.

(i) Thần liêu: thần trong quân thần, tức là bầy tôi, liêu trong quan liêu: quan lại.

[Bình luận phân tích – Chưa rõ là ai]

Những lời Khổng tử nói trong chương này, chủ yếu giành cho bậc chấp chính, liên quan đến nguyên tắc cơ bản của quản trị đất nước. Khổng tử giảng về ba phương diện, bao gồm yêu cầu người thống trị nghiêm túc xử lý các loại sự vụ của quốc gia, hết sức tuân thủ đức tín; hạn chế tiết kiệm chi tiêu, yêu thương bảo hộ bách quan; khiến bách tính chú ý không để lỡ thời gian mùa màng. Đây là điểm cơ bản của trị quốc an bang.

Khang Hữu Vi nói, học thuyết của Khổng tử là “ái nhân” (yêu [con] người), bao quát yêu tất cả mọi người. Nhưng “ái nhân” trong chương này không phải mang ý như vậy. Khổng tử nói “nhân” ở đây không phải là bách tính, mà là quan lại, là người có địa vị; còn “dân” mới là bách tính, là đối tượng để người trị quốc sai khiến. Có thể thấy, ái nhân- yêu người không phải yêu tất cả mọi người, mà chỉ là yêu những người nằm trong tập đoàn thống trị. Tư tưởng “tiết dụng nhi ái nhân, sử dân dĩ thời” là hợp lý, phản ảnh tư tưởng xã hội của Khổng tử. Tuy nhiên điều này với “ái nhân” hay gì nữa đều không can hệ lớn lắm. Nhìn từ một góc độ khác, Khổng tử ở đây là đưa ra kế sách cho người thống trị để trị lý quốc gia, thống trị bách tính.

Lỗ Tấn từng chỉ ra rằng: “Khổng phu tử từng vạch ra phương pháp trị quốc xuất sắc, nhưng đều là vì người trị dân, tức là vạch ra phương pháp cho người quyền thế, đối với bản thân dân chúng, thì một chút cũng không có.” Đây là đứng từ lập trường của nhân dân quần chúng nhìn phương lược trị quốc của Khổng tử. Do đó có tính sắc bén cao.

[Luận ngữ tân giải của Tiền Mục]

Ở chương này Khổng tử bàn luận chính trị, nói về tâm địa của bậc cai trị. Chuyên chú trong công việc, không kiêu ngạo, không trí trá, giữ đức tín. Không xa hoa, tiết kiệm tiêu dùng, có lòng yêu thương mọi người (i). Gặp việc phải sai sử dân (sai khiến sử dụng), cũng không được gây trở ngại đến sinh nghiệp của dân. Lời nói này tuy đơn giản, nhưng chính trị không nằm ngoài ‘đạo nhân,’ do chỉ có lòng nhân như vậy mới có thể ở vị trí trên người khác, lãnh đạo quần chúng. Đây là đạo lý, xưa nay không khác. Nếu như bỏ qua đạo lý này, mà chỉ chuyên tâm vào các phương pháp quyền thuật, tất không phải là đạo trị quốc.

(i) Có thể thấy là Tiền Mục hiểu “ái nhân” khác với Dương Bách Tuấn.

[Nhận xét của YL]

Thú thực ta kỳ vọng hơn ở phần phân tích nhận xét (của Dương Bá Tuấn). Ở đây tác giả chủ yếu bình luận từ lập trường giai cấp: thống trị >< bị trị, thống trị >< quần chúng nhân dân.

Nhưng ta muốn biết, Khổng tử có giảng trị một quốc gia nhỏ khác với trị một quốc gia lớn như thế nào không? Khác ở chỗ nào? Tại sao Vua phải thương yêu bảo hộ bách quan? Nội dung của thương yêu bảo hộ này bao gồm những gì? Và vai trò của nó trong mối quan hệ quân thần? Vân vân…. Giá có như thế, thì hay hơn.

……

[Nhận xét của AC] (yêu hòa bình nên là viết chữ màu xanh cho nó nổi nhé hí hí)

Chắc thời Khổng Tử chỉ có các quốc gia nhỏ, rời rạc, nên ông sẽ ko tưởng tượng dc cách quản trị một quốc gia lớn, kiểu như Trung Hoa của Tần, Hán… sau này?
Mà cũng có thể vì chỉ dùng để cai trị các quốc gia quy mô nhỏ nên các rao giảng của Khổng tử vẫn mang tính trừu tượng, chung chung, để lại “dư địa” (loophole) cho việc giải thích khác nhau trong các tình huống cụ thể (ví dụ nên ưu tiên điều nào, ý nào, cách hiểu nào… vì nhiều lời giảng của Khổng tử cũng hay bị đối lập nhau)
Đây là điểm khác với cách quản trị của Pháp gia hoặc với chế độ thượng tôn pháp luật của các nước phương Tây thời hiện đại – đưa ra hệ thống quy định, chế tài luật pháp càng rõ ràng rành mach, càng giảm mơ hồ càng tốt.

Theo logic thì để quản trị hệ thống lớn, dùng pháp trị có lẽ là hiệu quả hơn, tuy nhiên, why Hán Đường Tống Nguyên Minh (và Thanh?) đều dùng Nho giáo để trị quốc? Hoặc là Nho giáo đã kết hợp với Pháp gia (hay là luật pháp) như thế nào ở các triều đại này? Nho và Pháp tương quan lực lượng ntn? Nho là chủ trương, đường lối, là kim chỉ nam soi đường; còn Pháp là cụ thể hóa ở mức độ hành pháp???
Những câu hỏi này là khơi gợi ra, để bậc trí giá thâm nho YL từ từ tiếp tục đào sâu nghiên cứu 😀

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.4

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.4

1.4. 曾子曰:“吾日三省吾身:为人谋而不忠乎?与朋友交而不信乎?传不习乎?”

Zēng  zǐ  yuē  wú sān xǐng wú shēn wèi  rén móu ér bú zhōng hū  yǔ péng yǒu  jiāo ér bú xìn  hū chuán bù xí hū 

Tăng t (1) viết: Ngô nhật tam tỉnh (2) ngô thân: vi nhân mưu nhi bất trung (3) hồ? Dữ bằng hữu giao nhi bất tín (4) hồ? Truyền bất tập(5) hồ (6)?

(1) 曾子 – Zēng  zǐ – Tăng tử: tức Tăng Sâm, tự là Tử Dư, sinh năm 505 trước Công nguyên, người nước Lỗ. Tăng Sâm là môn sinh đắc ý của Khổng tử, lấy hiếu thành danh. Người đời cho rằng “Hiếu kinh” là do Tăng Sâm biên tập.

(2) 三省 – sān xǐng- tam tỉnh: Tỉnh – kiểm tra, kiểm điểm, xem xét. Tam tỉnh có một vài cách giải thích: một là kiểm tra/kiểm điểm ba lần; hai là kiểm điểm từ ba phương diện; ba là kiểm điểm nhiều lần. Kỳ thực, ở thời cổ đại, thêm số từ vào trước động từ chỉ động tác, thường biểu thị động tác lặp lại nhiều lần, không nhất thiết cho rằng 3 lần.

(3) 忠 – zhōng – trung: Chú thích xưa viết: 尽己之谓忠 – tận kỉ chi vị trung – tận hết sức mình gọi là trung. Ở đây chỉ đối với người cần tận tâm kiệt lực.

(4) 信- xìn- tín: Chú thích xưa viết: 信者,诚也 – tín giả, thành dã. Lấy thành thực gọi là tín. Yêu cầu mọi người theo các quy định về lễ mà thủ tín với nhau, dùng đó mà điều chỉnh mối quan hệ giữa con người với nhau.

(5) 传不习 – chuán bù xí – truyền bất tập: Chú thích xưa viết: 受之于师谓之传 – thụ chi ư sư vị chi truyền – nhận được những gì thầy dạy gọi là truyền. Những thứ được thầy giáo truyền thụ cho. Tập giống như trong “học nhi thời tập chi,” chỉ ôn tập, thực tập, diễn tập.

(6) 乎- hū – hồ: đặt ở cuối câu, khi biểu thị nghi vấn, thường được dịch thành: chăng, không, ư?

 [Dịch nghĩa câu]

Tăng tử nói: Ta mỗi ngày đều tự phản tỉnh (i) bản thân, đối với người khác đã tận tâm kiệt lực chưa? Cùng bạn hữu giao thiệp đã đạt đến thành thực khả tín chưa? Học nghiệp do thầy giáo truyền thụ cho ta, đã ôn luyện, thực tập chưa?

(i) Phản tỉnh: tiếng Anh là to reflect upon oneself, to examine one’s conscience, to question oneself, to search one’s soul. Tự vấn, tự hỏi.

[Phân tích bình luận- Không rõ của ai]

Nho gia vô cùng coi trọng việc tu dưỡng đạo đức của con người, muốn hình thành nên nhân cách lý tưởng. “Tự tỉnh” do chương này giảng giải, chính là phương pháp cơ bản để tự tu dưỡng.

Trong thời Xuân Thu, xã hội biến động không ngừng, phản ảnh trong lĩnh vực ý thức, tư tưởng tín ngưỡng của nhân dân đã bắt đầu phát sinh dao động, quan niệm truyền thống trong lòng của người dân đã bất đầu xuất hiện nguy cơ. Vì vậy, Tăng Sâm đã đề xuất phương pháp tu dưỡng “phản tỉnh nội cầu,” không ngừng kiểm tra ngôn ngữ hành vi của bản thân, để bản thân tu thành nhân cách lý tưởng. Trong Luận ngữ nhiều lần đề cập đến chủ đề tự tỉnh, yêu cầu đệ tử Khổng môn tự giác phản tỉnh bản thân, tiến hành tự phê bình, tăng cường tu dưỡng tư tưởng và đạo đức, sửa chữa các khuyết điểm về ngôn hành cử chỉ. Loại phương thức tu dưỡng đạo đức tự tỉnh này cho đến nay vẫn còn có chỗ giá trị để học tập, do loại phương thức này đặc biệt nhấn mạnh sự tự giác tiến hành tu dưỡng.

Trong chương này, Tăng Tử cũng đề cập đến phạm trù 忠 “trung” và 信 “tín.” Đặc điểm của trung là một chữ 尽 “tận,” làm việc tận lực, “tử nhi hậu kỉ” – đến chết mới thôi. Giống như Nho gia đời sau nói, “tận kỉ chi vị trung” – tận hết sức mình gọi là trung. “Vi nhân mưu nhi bất trung hồ”- đối với người khác đã tận tâm kiệt lực chưa,  là chỉ đối với tất cả mọi người nói chung, chứ không phải là chỉ riêng đối với bậc quân chủ. Chính xác là chỉ đối với tất cả mọi người trong đó có quân chủ, đều phải tận lực giúp đỡ. Do đó, “trung” từ thời nhà Tần trở về trước là một phạm trù đạo đức nói chung, chứ không chỉ dùng để chỉ quan hệ quân thần. Từ thời nhà Hán trở về sau mới dần dần đem chữ “trung” biến hóa thành “trung quân.” “Trung quân” này có liên hệ với “trung” của Nho gia, nhưng cũng có khác biệt quan trọng. (cúc cung tận tụy, tử nhi hậu dĩ – 鞠躬尽瘁、死而后已 – jū gōng jìn cuì,sǐ ér hòu yǐ, câu của Gia Cát Lượng thần tượng đây.)

“Tín” có hai hàm ý, một là tín nhiệm, hai là tín dụng (tin dùng/ tin theo và sử dụng). Nội dung của tín là thành thực không dối trá, được thực hành trong mối quan hệ giữa bạn bè cũng như với người trên người dưới. Tín đặc biệt có quan hệ với lời nói, biểu thị phải nói lời thành thực, nói lời giữ lời. Đây chính là nền tảng trong việc lập thân xử thế của một con người.

 

 

 

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: