Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.10

子曰:“视其所以(1),观其所由(2),察其所安(3),人焉廋(4)哉?人焉廋哉?”

Zǐ yuē:  “shì qí suǒyǐ, guān qí suǒ yóu, chá qí suǒ ān, rén yān sōu zāi? rén yān sōu zāi?”

Tử viết: “thị kì sở dĩ (1), quan kì sở do (2), sát kì sở an (3), nhân yên sưu (4) tai? Nhân yên sưu tai?”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn ]

  1. 所以 – suǒyǐ – sở dĩ: việc làm ra.
  2. 所由 – suǒ yóu – sở do: con đường đi qua.
  3. 所安 – suǒ ān – sở an: tâm tính quen như thế nào.
  4. 廋 – sōu – sưu: ẩn tàng, ẩn giấu

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “(để hiểu một người), phải xem động cơ ngôn hành (lời nói hành động) của anh ta, quan sát con đường anh ta chọn đi, khảo sát anh ta để tâm làm cái gì, như thế, con người này làm sao có thể ẩn giấu được đây? Con người này làm sao có thể ẩn giấu được đây?”

[Bình giải – Chưa rõ là ai]

Đoạn văn này nói đến vấn đề làm sao để hiểu người khác. Khổng tử cho rằng, đối với người khác phải nghe anh ta nói gì, xem anh ta hành động như thế nào(i), vẫn còn cần xem tâm tính của anh ta lúc làm việc, từ ngôn luận, hành động của anh ta đến nội tâm của anh ta, hiểu cách toàn diện quan sát một người, như vậy người này không có gì ẩn giấu được.

(i) Nguyên văn: 听其言而观其行 – tīng qí yán ér guān qí xíng – thính kì ngôn nhi quan kì hành: không những nghe nói gì mà còn phải xem hành động thực tế như thế nào. Cũng là câu trong Luận ngữ.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

所以 – sỡ dĩ: dĩ, nghĩa là nguyên nhân. Vì nguyên nhân nào mà làm việc này, ở đây chỉ động cơ và dụng tâm của hành vi một người. Hoặc có thuyết: dĩ, nghĩa là 为 – “vi” (làm việc gì). Nhìn việc làm của một người, có thể biết người đó.

所由 – sở do: do, nghĩa là 经由- “kinh do,” thông qua, kinh qua (con đường nào). Cùng một việc, chọn các đường lối khác nhau, hoặc thích con đường nhanh chóng, hoặc đường mạo hiểm, hoặc đường lớn bằng phẳng. Ở đây nói về xu hướng và tâm thuật, tính toán trong lòng về hành vi một người.

所安 – sở an: an, nghĩa là an định an lạc. Miễn cưỡng làm gì, tất sẽ không an không lạc, dễ sinh ra thay đổi. Ngược lại, vui sẽ không mệt mỏi, an ổn sẽ không biến đổi. Ở đây nói về tâm thái hoặc hứng thú đối với hành vi.

视,观,察: thị, quan, sát: ba từ này có thứ tự nông sâu. Thị xem vào một việc, quan xem từ tổng thể, sát xem từ chỗ nhỏ nhất trở đi.

人焉廋哉 – nhân yên sưu tai: sưu, nghĩa là tàng ẩn, ẩn giấu. Do cách nhìn người mà được miêu tả ở trên, không người nào có thể ẩn giấu. Nhắc lại, do vậy khẳng định không gì có thể giấu diếm.

Chương này Khổng tử dạy phương pháp quan sát người khác, tất phải quan sát từ nhiều phía, nhân cách và tâm địa của một người, sẽ không thể ẩn giấu được. Do vậy người học cũng có thể dựa vào đây mà “tự tỉnh” – tự kiểm điểm bản thân, khiến cho việc làm người của bản thân, như được nhìn thấu qua, mà không tự lừa dối chính mình. Nếu không như vậy, lại để cho bản thân giấu diếm bản thân, thì làm sao còn có thể quan sát người khác?

Hoặc nói, quan sát người khác tất phải từ những thứ dễ thấy, giả sử mỗi việc đều phải xem ý nghĩa của nó là từ đâu mà ra, đến mức chưa chi đã hoài nghi người khác là giả trá, suy đoán người khác là không thành thật, luận việc, trách phạt dựa trên động cơ chứ không phải sự việc, là không nên vậy.  Do vậy chương này là từ dấu tích cụ thể mà quan sát tâm, từ sự việc mà xem ý, người học cần kỹ càng mà làm cho rõ.

Tiên sinh nói: “Cần quan sát anh ta tại sao lại làm việc này, lại quan sát anh ta làm theo kiểu nào, lại quan sát lúc anh ta làm việc này tâm tình như thế nào, an ổn hay không an ổn. Theo như thế này mà quan sát, người nào có thể ẩn giấu vào chỗ nào được! Người nào có thể ẩn giấu vào chỗ nào được!”

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Từ đây trở đi, văn chương liền chuyển, chính thức nói đến đạo lý Vi chính.

Tử viết: “thị kì sở dĩ, quan kì sở do, sát kì sở an, nhân yên sưu tai? Nhân yên sưu tai?”

Đây là đạo lý quan sát người khác của Khổng tử.

Nói đến đạo lý quan sát người khác, chúng ta đều biết việc xem tướng tính mệnh, đặc biệt hiện nay rất thịnh hành. Hai việc này, ở Trung Quốc đã có lịch sử vài ngàn năm, ở các quốc gia khác trên thế giới, cũng có phương pháp xem tướng Italia, Nhật Bản vân vân. Từ đây có thể thấy ở bất kỳ quốc gia dân tộc nào, đều rất thịnh hành. Nói đến lịch sử xem tướng của người Trung Quốc, có từ rất sớm. Thời Xuân thu Chiến quốc đã có rất nhiều, nói chung, người Trung Quốc xem tướng, có kỹ năng riêng, bao gồm các loại lưu hành trên thị trường hiện nay, Ma Y, Liễu Trang, Thiết Quan Đao(i), cho đến các loại xem tay, xem chỉ tay do người Italia, Nhật Bản hiện đại nghiên cứu ra, rất nhiều thứ mới đều thêm vào, nhưng cũng không ra khỏi phạm vi phương pháp xem tướng Trung Quốc. Nhưng người TQ hãy còn một kiểu xem tướng khác, gọi là “thần tướng” hoặc “tâm tướng,” rất thâm sâu khó hiểu.

“Thần tướng,” không phải là dựa trên “hình thái” (dáng vẻ thái độ bên ngoài) để xem, là là xem “thần thái” (tinh thần thể hiện ra); hãy còn một loại “tâm tướng,” là dựa trên cơ sở lập trường văn hóa TQ, tuyệt đối duy tâm (không phải là duy tâm trong triết học phương Tây), do đó có mấy câu danh ngôn: “hữu tâm vô tướng, tướng do tâm biến. Hữu tướng vô tâm, tướng tùy tâm chuyển”(ii) – một người tư tưởng chuyển biến, hình thái cũng sẽ chuyển biến, ví như chúng ta nói một người chuẩn bị nổi nóng, làm thế nào để biết? Bởi vì từ tướng của anh ta có thể nhìn ra được, tâm lý anh ta nổi nóng, thần kinh sẽ khẩn trương, dáng vẻ sẽ thay đổi. Do vậy, xem tướng là khoa học. Có người nói, người có ấn đường rất hẹp thì lòng độ lượng nhất định ít, ấn đường – cự ly giữa hai đầu lông mày – rất rộng thì lòng độ lượng lớn, đây là lý lẽ thế nào? Có người tính cách trời sinh, gặp chút chuyện không như ý, liền chau mày, dần dần da ở ấn đường sẽ nhăn lại, đây là lý lẽ đương nhiên. Còn có người nói người lộ răng cửa thường đoản mệnh, do anh ta lộ răng, khi ngủ miệng không khép được, khi hô hấp các thứ bẩn đều vào cơ thể, đương nhiên sức khỏe sẽ có vấn đề. Còn rất nhiều lý lẽ cùng dạng như thế này, nhưng người xưa xem tướng, chỉ biết đến biểu hiện bên ngoài của sự vật mà không biết đến bản chất nguyên nhân phát sinh ở bên trong(iii). Hỏi họ nguyên nhân là gì, họ nói: là trong sách nói vậy. Trên thực tế, những thứ này là từ kinh nghiệm mà ra.

Có người nói, danh thần Tăng Quốc Phiên thời Thanh trung hưng có mười ba môn học vấn, lưu truyền lại còn mỗi một môn – Tăng Quốc Phiên gia thư, còn lại đều không còn, kỳ thực truyền lại còn hai môn, một môn khác là học vấn xem tướng Tăng Quốc Phiên – bộ sách “Băng Giám.” Bộ này bao gồm cả lý luận xem tướng, không giống với các sách tướng số khác. Tăng Quốc Phiên nói: “功名看器宇” – công danh khán khí vũ, nói đến khí vũ (khí độ, dáng vẻ), rất rắc rối phiền phức. Đây lại nói đến triết học TQ, ở đây liên quan đến văn học, chữ “khí” giải thích thế nào? Chính là các loại sự vật. “Vũ” là đại biểu cho thiên thể (vũ trong vũ trụ – nd). Cái gì gọi là “khí vũ”? Chính là hình thái cấu tạo thiên thể. Miễn cưỡng có thể giải thích như vậy. Sự vật ở TQ, chính là khiến người ta chán ghét như vậy, như người TQ nói: người này phong độ không tồi. Thổi qua là “phong” (gió-nd), đo rộng bao nhiêu dài bao nhiêu là “độ.” Còn về “phong độ” của một người thì không nói cụ thể được, đây là một từ hình dung có tính trừu tượng, nhưng cũng rất khoa học, ví dụ như ở chỗ đông người, mà trong đó có một người, khiến mọi người đều chú ý, người này không nhất định xinh đẹp, biểu hiện bề ngoài cũng không có gì đặc biệt, nhưng anh ta làm cho tâm lý mọi người cảm thấy anh ta không giống với những người khác, đây gọi là “phong độ.”

“功名看器宇” – “Công danh khán khí vũ,” chính là người này có công danh hay không, cần phải xem phong độ của anh ta.

“事业看精神” – “Sự nghiệp khán tinh thần,” điều này là tất nhiên, một người tinh thần không tốt, làm chút việc liền mệt, thì có thể có sự nghiệp tiền đồ gì?

“穷通看指甲” – “Cùng thông khán chỉ giáp,” muốn biết một người có tiền đồ hay không thì xem móng tay, móng tay với tiền đồ của con người có quan hệ như thế nào? Tuyệt đối có quan hệ. Theo sinh lí học, móng tay có thành phần chủ yếu là canxi, canxi không đủ, chính là thể lực kém, thể lực kém thì không có tinh thần cạnh tranh. Có một số người móng tay không như hình viên ngói mà mỏng mỏng, thì biết loại người này thể chất vô cùng yếu, nhiều bệnh.

“寿夭看脚踵” – “Thọ yểu khán cước chủng,” mệnh dài hay ngắn, xem gót chân của anh ta lúc đi lại. Tôi từng có một học sinh, lúc đi lại gót chân không chạm đất, anh ta quả nhiên đoản mệnh. Loại người này một là đoản mệnh, hai là thông minh nóng nảy, việc giao cho anh ta, anh ta làm rất nhanh, nhưng không thiết thực.

“如要看条理,只在言语中”- “Như yếu khán điều lí, chỉ tại ngôn ngữ trung,” một người tư tưởng như thế nào, thì xem anh ta nói năng có mạch lạc không, loại phương pháp xem này rất khoa học.

Loại học vấn này ở Trung Quốc cũng gọi là “hình danh chi học,” từ thời Ngụy Tấn đã lưu hành. Có một bộ sách, “Nhân vật chí,” mọi người có thể thử đọc, sẽ có chỗ hữu ích, do Lưu Thiệu thời Ngụy soạn, Lưu Bỉnh thời Bắc Ngụy chú giải, chuyên bàn luận về con người, nói cách khác là khoa học về “người.” Gần đây lưu hành loại khoa học quản lý nhân sự, phân loại chức nghiệp, các loại này đều xuất phát từ ngoại quốc. Mà “Nhân vật chí” của chúng ta, còn hay hơn,  là “quản lý nhân sự,” “phân loại chức nghiệp” chân chính, chỉ ra những người nào thuộc loại nào. Có những người thuộc loại theo sự nghiệp, có những người tuyệt đối không phải loại theo sự nghiệp, không nên sắp xếp sai, có người có học vấn, không nhất định có tài năng, có người có tài năng không nhất định có phẩm đức, người có học vấn lại có tài năng lại có phẩm đức, là người hạng nhất, loại người này lại không có nhiều.

Trước đây có một người bạn già, đọc sách không nhiều, nhưng từ kinh nghiệm nhân sinh, có được mấy câu, rất có ý nghĩa, ông nói: “người thượng đẳng, có bản sự không có tính nóng; người trung đẳng, có bản sự lại cũng có tính nóng; người mạt đẳng, không có bản sự nhưng tính nóng nhiều.” Đây có thể gọi là danh ngôn, cũng là học vấn của ông. Do vậy mọi người lập thân xử thế, cần biết có người có học vấn, trong nhiều trường hợp sẽ có tính nóng, cần phải bao dung nhẫn nại đối với họ, dùng sở trưởng của họ – học vấn, không tính toán với sở đoản của họ – tính nóng. Anh ta nổi nóng không phải là có ác ý với bạn, mà là bản thân anh ta có tật, vốn là chỗ khiếm khuyết của anh ta, với bạn có quan hệ gì?  Bạn muốn nói về đạo hiếu,  trong đạo quân (đạo làm vua) bạn cần yêu thương anh ta, tôn trọng anh ta […].

Bộ sách thứ hai cần nghiên cứu là bộ nào? Chính là “素书”-“Tố Thư” do Hoàng Thạch Công truyền cho Trương Lương. Bộ sách này rất khó nói có phải là sách làm giả hay không, nhưng  chính xác là kết tinh văn hóa TQ. Đối với đạo lý làm người xử thế nhìn nhận người khác, có rất nhiều kiến giải triết học rất thâm thúy, cũng có thể nói là sách xem tướng, sách này không hề nói về lông mày dài sẽ như thế nào, sống mũi dài sẽ thế nào, sách này không có mấy loại như thế, mà là phương pháp xem tướng chân chính. Lông mày, mũi, mắt, đều không xem, đại khái chỉ xem một người xử thế có thái độ và phương thức thế nào. Mạnh tử cũng thích xem tướng, chẳng qua ông không treo biển hành nghề, ông chú ý vào nhãn thần (thần thái ánh mắt) của người ta, người quang minh chính đại nhãn thần nhất định rất đoan chính; thích hướng lên trên nhất định rất kiêu ngạo; thích nhìn xuống sẽ động tâm tư; thích nhìn xéo, ít nhất là tâm lý có vấn đề. Đây là nhãn thần trong xem tướng, là phương pháp xem tướng của Mạnh tử, cũng có thể gọi là “nhãn khoa” trong xem tướng.

Khổng tử quan sát người khác, giảng về nguyên tắc. “Thị kì sở dĩ” – xem mục đích của anh ta là gì? “Quan kì sở do” – biết nguyên lai, động cơ của anh ta[bỏ một đoạn kể chuyện, nêu ví dụ], xem cả quá trình hành động của anh ta. “Sát kì sở an,” lại xem xem anh ta bình thường an vui quen thuộc với cái gì? Có khả năng an ổn hài lòng với hiện thực không. Ví dụ có một số người rất khó an vui, có một người bạn hơn bảy mươi tuổi, đã đầu tóc đã bạc hết, là người đọc sách, học vấn rất nhiều. Vừa mới nghỉ hưu, vợ mất, trong đời sống hàng ngày đánh mạt chược thì không có hứng thú, thư pháp tốt nhưng không có hứng thú viết chữ, người đọc sách vốn có thế đọc sách, nhưng cầm đến quyển sách, thì muốn ngủ, nằm xuống lại ngủ không được – nói đến đây, mong các bạn trẻ chú ý, người có tuổi rất đáng thương, có mấy việc tương phản: ngồi thì muốn ngủ, nằm xuống thì ngủ không được. Khóc thì không có nước mắt, cười lên lại cười ra nước mắt. Nói chuyện hiện tại, vừa nói vừa quên, đối với chuyện quá khứ, đến chuyện lúc bé cũng nhớ ra. Nói lời hay với họ thì không nghe thấy, mắng thì lập tức nghe thấy. Đây là thảm trạng của người có tuổi – bởi vì ông ấy quá quạnh hưu tịch mịch, việc gì cũng không có hứng thú, tốt nhất là kết bạn với một người bạn nữ, tôi khuyên ông không nhất thiết phải kết hôn. Hoàn cảnh như của ông, chính là người có tuổi mà không có chỗ an, tâm không thể an, đây là người già, nhưng người trẻ cũng như vậy. Đây là vấn đề tâm lý, một người tiến hành tu dưỡng học vấn, nếu bình thường không có một chỗ an ổn, thì rất có vấn đề. Có một số người lúc có việc làm, tinh thần rất tốt; lúc không có việc làm, thì tâm không thể an, có thể thấy để an được tâm là rất khó.

Khổng tử dựa vào ba điều này để quan sát người khác, do vậy ông nói “nhân yên sưu tai! Nhân yên sưu tai!” “Sưu” này là có ý nghĩa trốn tránh. Lấy “thị kì sở dĩ, quan kì sở do, sát kì sở an” ba phương diện trọng yếu này ra quan sát người khác, thì không gì có thể trốn tránh được. Xem bất kỳ người nào làm người xử thế, mục đích của anh ta là gì? phương pháp làm của anh ta như thế nào? (ý trước là thuộc phương diện tư tưởng, ý sau là thuộc phương diện hành vi). Ngoài ra, lại xem hàm dưỡng của anh ta lúc bình thường, anh ta an vui với cái gì? Có người quen tầm lạc, có người quen với cảnh nghèo khó, có người quen với bình đạm. Khó nhất là bình đạm, người an vui với bình đạm, sự nghiệp gì cũng có thể làm. Do anh ta sẽ không bị sự nghiệp vây khốn, câu này là như thế nào? Người an vui với bình đạm, hôm nay phát tài, sẽ không cảm giác bản thân có nhiều tiền khiến cho ngủ không nổi; nếu nghèo, cũng sẽ không cảm giác nghèo, sẽ không cảm thấy tiền đối với anh ta có gì uy hiếp. Do vậy an tâm là khó nhất. Đem ba phương diện quan sát người khác này, đặt trong thiên Vi chính, liền biết trọng điểm của việc khích lệ hay phẩm bình người khác là nằm ở ở đâu.

(i) Tên các loại phương pháp/trường phái xem tướng. Có các sách Ma Y tướng pháp (người đời sau truyền tác giả là Ma Y Đạo giả thời Tống – Ma y có nghĩa là áo gai), Liễu Trang thần tướng (tác giả là Viên Liễu Trang thời Minh), thần tướng Thiết Quan Đao (tác giả khuyết danh, sách từ thời Minh/Thanh).

(ii) Kiểm tra trên mạng, thấy câu chính xác là như này: 有心无相,相随心生;有相无心,相随心灭: hữu tâm vô tướng, tướng tùy tâm sinh; hữu tướng vô tâm, tướng tùy tâm diệt. Mạng giới thiệu là thuật ngữ thường dùng trong Phật giáo, nhưng có nguồn gốc sâu xa từ Quỷ Cốc tử thời Xuân Thu.

(iii) Nguyên văn: 知其然而不知其所以然 – zhī qí rán ér bù zhī qí suǒ yǐ rán – tri kì nhiên nhi bất tri kì sở dĩ nhiên. Câu từ đời Đường.

 

Advertisements

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.4

子曰:“吾十有(1)五而志于学,三十而立(2),四十而不惑(3),五十而知天命(4),六十而耳顺(5),七十而从心所欲, 不逾矩(6)。”

Zǐ yuē: wú shí yǒu wǔ ér zhì yú xué, sānshí érlì, sìshí ér bù huò, wǔshí ér zhī tiān mìng, liùshí ér ěr shun, qīshí ér cóng xīn suǒ yù bù yú jǔ.

Tử viết: “Ngô thập hữu (1) ngũ nhi chí ư học, tam thập nhi lập (2), tứ thập nhi bất hoặc (3), ngũ thập nhi tri thiên mệnh (4), lục thập nhi nhĩ thuận (5), thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ (6).”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 有 – yǒu – hữu: giống又 – yòu – hựu, cộng thêm.
  2. 立 – lì – lập: ý là đứng vững.
  3. 不惑 – bù huò – bất hoặc: nắm chắc kiến thức, không bị sự vật ngoại cảnh gây mê hoặc.
  4. 天命 – tiān mìng – thiên mệnh: chỉ sự tình mà sức người không thể chi phối.
  5. 耳顺 – ěr shun – nhĩ thuận: có nhiều cách giải thích. Nhưng nói chung, chỉ việc đối với những ý kiến bất lợi cho bản thân cũng có thể đối đãi đúng/xác đáng.
  6. 从心所欲, 不逾矩 – cóng xīn suǒ yù bù yú jǔ – tòng tâm sở dục, bất du củ: tòng- thuận theo; du- vượt qua; củ- quy củ.

[Diễn dịch văn – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Ta mười lăm tuổi lập chí học tập; ba mươi tuổi có thể tự lập; bốn mươi tuổi có thể không bị sự vật ngoại cảnh mê hoặc; năm mươi tuổi hiểu được thiên mệnh; sáu mươi tuổi có thể đối đãi xác đáng với mọi loại ngôn luận, không cảm thấy có gì là không thuận [quy luật]; bảy mươi tuổi có thể tùy theo lòng mình mà không vượt qua quy củ.”

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Trong chương này, Khổng tử tự thuật lại quá trình học tập và tu dưỡng của bản thân. Quá trình này, là một quá trình cảnh giới tư tưởng dần dần nâng cao, theo sự tăng tiến của độ tuổi. Về cảnh giới tư tưởng, toàn bộ quá trình phân thành ba giai đoạn: mười lăm tuổi đến bốn mươi tuổi là giai đoạn học tập lĩnh hội; năm mươi, sáu mươi tuổi là giai đoạn an tâm lập mệnh, cũng là giai đoạn không chịu sự tác động của hoàn cảnh; bảy mươi tuổi là giai đoạn ý thức chủ quan và quy tắc làm người dung hợp làm một. Trong giai đoạn này, tu dưỡng đạo đức đạt đến cảnh giới cao nhất. Quá trình tu dưỡng đạo đức của Khổng tử, có nhân tố hợp lý: một là, ông đã thấy được tu dưỡng đạo đức không phải việc một sớm một chiều, không thể hoàn thành ngay, không thể có đột phá, cần phải trải qua quá trình rèn luyện học tập lâu dài, cần phải có một quá trình tuần tự tiệm tiến. Hai là, cảnh giới cao nhất của đạo đức là tư tưởng và ngôn hành dung hợp, tự giác tôn thủ quy phạm đạo đức, mà không phải là miễn cưỡng làm. Hai điểm này đối với bất kỳ người nào, đều có thể đem ra áp dụng được.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

志於学 – chí ư học: người có chí, tất cả mọi ý nguyện trong lòng, đều một lòng hướng đến mục tiêu này. Vốn có chí tất có học, chí và học tương sinh mà phát triển. Cái chí cái học của Khổng tử, thông qua đọc chương này có thể thấy được, càng thông qua đọc toàn bộ Luận ngữ mà có thể hiểu cặn kẽ. Có thể có chí như cái chí của Khổng tử, học như cái học của Khổng tử, là tôn chỉ lớn nhất của việc đọc Luận ngữ.

而立 – nhi lập: lập, nghĩa là thành lập (trưởng thành đến mức có thể tự lập). Có thể có khả năng tự lập một cách vững chãi, không suy giảm không chuyển đổi, tức là chí đã đạt được thành tựu, có được phẩm cách. Đây là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình học tập của Khổng tử.

不惑 – bất hoặc: con người và sự việc có dị đồng (điểm khác nhau/tương đồng), có  nghịch thuận, dù cho có chí, có khả năng tự lập, nếu với ngoại cảnh có sự đối nghịch, thì lòng dễ nảy sinh hoài nghi mê hoặc. Nếu có thể đối với mọi loại ngôn luận, sự việc biến hóa thuộc ngoại cảnh, hiểu đến chỗ thâm sâu, chỗ tận cùng, với mọi thứ liên quan đều thông suốt, mà không có gì phải hoài nghi, thì không những có khả năng tự lập giữ phẩm cách, còn có thể biết chỗ sáng mà ở vào chỗ an, là giai đoạn thứ hai trong tiến trình học tập của Khổng tử.

知天命 – tri thiên mệnh: tuy đối với đạo lý của mọi sự đều không còn nghi hoặc, nhưng việc thực hành chí hướng vẫn có chỗ gian khổ. Chí càng tiến, việc làm càng tiến, càng gặp phải việc gian khổ gây nghi hoặc. Cho nên đã có thể tự lập không còn gì nghi hoặc, càng ngày càng phải tri thiên mệnh (hiểu mệnh trời). Thiên mệnh chỉ các loại đạo nghĩa và chức trách đương nhiên của nhân sinh. Đạo nghĩa chức trách có vẻ không khó biết, song vẫn có việc dù “thủ đạo tận chức” (giữ đạo, tận lực với chức phận) mà vẫn gặp phải cảnh khốn cùng, không thuận lợi. Việc đương nhiên mà lại vẫn không thể thuận lợi thông suốt, có thể không được thuận lợi mà vẫn là đương nhiên, nghĩa lý này rất khó để hiểu. Để đạt đến cảnh giới này, cần phải học “tri thiên mệnh.” Khổng tử nói: “trời sinh ta có đức tính thiện, Hoàn Đồi có thể làm gì ta?” (i), lại nói “Văn Vương đã mất,  lễ nhạc văn hóa không phải đều ở tại chỗ của ta sao? Trời nếu như muốn tiêu diệt văn hóa này, người sau (ta) đã không thể có được văn hóa này. Trời nếu như không tiêu diệt văn hóa này, người Khuông có thể làm gì ta?” (ii). Khổng tử theo đuổi việc học, đạt đến cùng cực của “bất hoặc,” lòng tự tin cực chân thực cực vững chắc, dường như đã lên đến cảnh giới người không thể hiểu, duy trời có thể hiểu. Như thế đạo và thiên đã hợp làm một, do đâu đến cuối cùng không thể thực hành, đến đây buộc phải tiến đến cảnh giới tri thiên mệnh. Cho nên tri thiên mệnh, là tiến thêm một bước so với “bất hoặc,” là cảnh giới cao hơn, là giai đoạn thứ ba trong tiến trình học tập của Khổng tử.

Khổng tử không phải là người đứng đầu một tôn giáo, nhưng Khổng tử lại có một tín ngưỡng cao vô thượng, loại tín ngưỡng này, như đã cao hơn của các giáo chủ tôn giáo trên thế giới. Khổng tử do học mà sinh tín (niềm tin/lòng tin), chứ không phải là có tín trước mới học sau. Cho nên Khổng tử dạy mọi người, cũng là lấy việc học làm trọng. Tử cống nói: “Phu tử [giảng] về các loại học vấn văn hiến, chúng ta nghe có thể hiểu được; phu tử [giảng] về các loại thiên tính thiên đạo, chúng ta nghe không hiểu” (iii). Đại khái là Khổng tử dựa vào sở học mà dạy người, không dựa vào tín mà dạy người. Khổng tử có ý, dường như không học đến cảnh giới này, tất không dễ có niềm tin này, do đó không lấy tín để dạy. Đây là điểm khác biệt giữa Khổng tử với các vị đứng đầu tôn giáo khác. Cho nên học cái học của Khổng tử, không nên cẩu thả nói tri thiên mệnh, nhưng đồng thời nên biết trong lòng của Khổng tử thực chất có cảnh giới này. Khổng tử đã chỉ ra cảnh giới này, thứ gọi là “Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hàng hành chỉ, tuy bất năng chí, tâm hướng vãn chi”- [đức hạnh như] núi cao khiến [người] ngưỡng vọng, hành vi [chính đại quang minh] như con đường rộng, tuy không thể đạt đến trình độ này, nhưng lòng luôn hướng về đó (iv). Người học cũng nên đặt cảnh giới này trong tâm, mà mỗi ngày đều hướng về.

耳顺 – nhĩ thuận: đối với tất cả các loại ý kiến hoặc ngôn luận khác biệt, tất cả các loại phản ứng hoặc kích động trái nghịch bất thuận ở bên ngoài, khi đã đạt tới khả năng tự lập bất hoặc, lại tri thiên mệnh, có thể lấy đó để xử lý, không vì những thứ bên ngoài mà bị dao động mê hoặc, là càng tiến thêm một bước mà đạt đến cảnh giới “nhĩ thuận.” Người nhĩ thuận, tất cả đều nghe vào tai, không còn cảm thấy cái gì là có chỗ không thuận với bản thân, không thuận với đạo. Trong khi biết ngoại cảnh tất cả đều đối lập khác biệt nhau, trái nghịch bất thuận, tuy nhiên không cái gì là không có lý do của nó. Có thể hiểu được tất cả những lý do này, tất không chỉ hiểu bản thân, lại còn hiểu được người. Không chỉ hiểu một việc từ đâu là phải, mà còn hiểu từ đâu là không phải. Bên phản bên chính, bên nó bên ta, tất cả là theo ý trời. Lại không ở bất kỳ chỗ nào mà không thấy có thiên mệnh, do đó nói nhĩ thuận, là giai đoạn thứ tư của tiến trình học tập của Khổng tử.

Sự vật khi đi vào trong tâm của ta, chỗ trọng yếu nhất, là ở tại tai và mắt. Chương này đặc biệt nêu nhĩ thuận, thực chất là nêu cái này có thể bao gồm cả cái kia. Thêm vào đó mắt nhìn do ta hướng ra bên ngoài, tai nghe do bên ngoài rót vào ta, nói về mức độ tự chủ, hơi có sự khác biệt. Nhìn bằng mắt hướng đến hình dáng vật thể, nghe qua tai thâm nhập vào tâm ý. Mắt chỉ nhìn thấy ở gần mà tai nghe được ở xa, tức là lời nói hành động của cổ nhân, cũng có thể đi vào tai như vậy. Do đó nói về tai có thể bao quát cả mắt. Học đến mức tri thiên mệnh, tất xa gần chính phản, cổ kim thuận nghịch, những gì gặp được đều là đạo, đều ở trong thiên mệnh. (Nhờ đó) sẽ càng trung (dốc lòng) đến mức tận mọi sức lực, sẽ càng thứ (đặt mình vào vị trí của người khác mà suy nghĩ) mà đối đãi vật. Đối với những gì bản thân coi trọng xem xét để biết đâu là chỗ [ta cho là] đương nhiên; đối với việc người khác coi trọng xem xét để hiểu lý do tại sao. Hiểu rõ lý do tại sao tất nhĩ thuận, với mọi thứ đều không cảm thấy có gì trái nghịch,  từ đó mà có thể thi hành giáo hóa, có thể vi chính, có thể dựa vào “lập kỷ” mà “lập nhân,” “đạt kỷ” mà “đạt nhân” (bản thân có thể tự lập, đứng vững mà giúp người người tự lập; bản thân đã thông hiểu mà giúp người người khác thông hiểu – nd). Như thế chỗ cùng cực của thiên mệnh, chẳng phải luôn là việc hành đạo (đi theo con đường) này sao? Cội nguồn đạo của cổ nhân, cốt yếu ở chỗ có khả năng “phản cầu chư kỉ” –   trách bản thân chứ không phải trách người khác (v). Chỗ cùng cực của trung thứ (vi), tức là chỗ cùng cực của minh thành (明诚 – minh triết, chân thành), trời và người cùng một lẽ mà thông suốt, mà việc phát dương đạo xuất phát bản thân.

从心所欲不踰矩 – tòng tâm sở dục bất du củ: tòng, nghĩa là tuân theo, thuận theo. Hoặc có thuyết: chữ tòng đọc giống như túng (纵), nghĩa là “phóng nhiệm” (放任) – không có ước thúc, để mọi việc diễn ra tự nhiên, không can thiệp.  Củ- thước kẻ góc vuông. Quy-viên quy – thước để vẽ đường tròn. Quy củ vô cùng vuông, tròn, dùng để nói về luật lệ chuẩn tắc của các loại ngôn hành. Ở đây nói đến củ mà không nói đến quy, càng thấy lời nói cẩn trọng. Thánh nhân đến cảnh giới này, đều mặc theo lòng mình, có thể phóng tâm đến mức cùng cực, không kiểm điểm quản thúc (đạo đức ngôn hành của bản thân), mà bản thân lại không có gì là không theo quy củ luật lệ. Do đó nội tâm của thánh nhân vô cùng tự do, cùng với các loại luật lệ quy củ đương nhiên ở bên ngoài tự nhiên tương hợp. Học vấn đạt đến cảnh giới này, tâm cũng chính là đạo nghĩa, nội ngoại hợp nhất. Mọi việc làm của bản thân, không gì là không phải các khuôn phép cao nhất của thiên mệnh. Trời không dụng tâm đối với bất kỳ cái gì (vii) mà không có gì là không phải, trời không chịu bất kỳ ước thúc nào nhưng là chuẩn tắc cho tất cả mọi thứ. Sự học của thánh nhân, đến cảnh giới này, nhân cách  cao thượng vĩ đại sánh với trời, mà việc học cũng không thể tiến thêm nữa. Chương này của Khổng tử, chỉ là tự nói về quá trình đạt được trong học vấn của bản thân, chưa từng tự sánh với trời. Song đệ tử của Khổng tử đã ví nhân cách của Khổng tử sánh với trời mà (người khác) không thể bắc thang lên được vậy. Như ở trên đã cho thấy rõ, cũng không thấy có gì là quá cả.

Chương này là Khổng tử tự thuật về những thứ bản thân đạt được trong một đời học tập, các bậc thang tiến bộ qua các năm như thế nào. Người học kiên trì noi theo nỗ lực này, ngày qua ngày đều tiến bộ (viii), hy vọng xuất sắc mà tiến vào lãnh địa của thánh nhân.  Nhưng người học cố gắng theo khả năng của mình, cũng thường ở ba cấp bậc là “chí học,” “lập” hay “bất hoặc.” Còn từ tri thiên mệnh trở lên, nếu không nỗ lực hết sức, không nên hy vọng có thành tích hy hữu. Biết có cảnh giới này, mà vẫn canh cánh trong lòng cho rằng có thể đạt được, nếu tùy tiện đem bản thân đi bắt chước, chỉ là vọng tưởng tu dưỡng được đến cảnh giới tối cao, nhưng lại trở thành ngụy quân tử, thành tiểu nhân không biết sợ cái gì, mà không tự biết mình vậy. Người học thử nghiền ngẫm chương đầuchương cuối của thiên Học nhi, dần dần tự cố gắng, hy vọng dần có thể nhìn ra chỗ thâm thúy của chương này. Vì hai chương đầu và cuối của thiên Học nhi, từ chỗ dễ hiểu nhất chân thực nhất mà chỉ cho người ta (con đường) lĩnh hội, người học có thể từ đây mà noi theo. Chương này tuy là Khổng tử tự nói về bản thân, không có lời nào là không chân thực, ở bên trong lại có rất nhiều chỗ thâm sâu ảo diệu. Không dựa trên cái gì mà vọng cầu đột nhiên đạt được, thì biến thành nói hão không đáng tin, không phải là chủ ý lúc bình thường dạy học sinh của Khổng tử.

Khổng tử lại nói: “bất oán thiên, bất vưu nhân, hạ học nhi thượng đạt, tri ngã giả kì thiên hồ” – không oán trời, không trách người, dưới học mà trên suốt mọi sự lý/thiên mệnh, hiểu được ta chỉ có trời chăng? (ix), ý nghĩa của câu cùng với chương này tương thông. Từ chí học, nhi lập, nhi bất hoặc, đều là “hạ học.” Sau đó trở lên, là thượng đạt vậy. Tri thiên mệnh nên không oán thiên, nhĩ thuận nên không trách người. Tấm lòng này đạt đến cái đức của trời, nên có thể tòng tâm sở dục bất du củ, mà hiểu ta chỉ có trời. Tri mệnh nhĩ thuận, vốn không phải là thứ dễ dàng đạt được của người học, nhưng không oán không trách, chính là nỗ lực nên có của người học. Hành viễn tự nhĩ, đăng cao tự ti – đi đường xa bắt đầu từ bước gần nhất, leo núi cao bắt đầu từ chỗ thấp nhất (x), thiên lý chi hành, khởi ư túc hạ – đường xa ngàn dặm, bắt đầu từ từ việc đi bước đầu tiên (xi), người học theo khả năng có thể làm mà nỗ lực làm, cũng không phải lo lắng nghĩ đến chỗ khó khăn của việc học đến cấp bậc của thánh nhân.

Tiên sinh nói: Ta lúc mười lăm tuổi, bắt đầu có chí học tập. Đến ba mươi tuổi, có thể kiên định tự lập. Đến bốn mươi, ta đối với mọi loại đạo lý, có thể thông đạt không còn nghi hoặc. Đến năm mươi, ta có thể biết cái gì là thiên mệnh. Đến sáu mươi, tất cả những gì ta nghe được, đều có thể thông hiểu minh bạch hoàn toàn, không còn cảm thấy trong lòng có gì là trái ngược. Đến bảy mươi, ta chỉ mặc cho lòng tự nhiên không còn gì ước thúc, mà cũng sẽ không có chỗ nào là vượt qua quy củ pháp độ.

(i) “天生德於予,桓魋其如予何?”- thiên sinh đức ư dư, Hoàn Đồi kì như dư hà? – trời sinh ta có đức tính thiện, Hoàn Đồi có thể làm gì ta? (Hoàn Đồi là tư mã nước Tống, từng muốn giết hại Khổng tử). Đây cũng là câu trong Luận ngữ.

(ii) 文王既没,文不在兹乎?天之将丧斯文也,后死者不得与於斯文也。天之未丧斯文也,匡人其如予何?”- “Văn Vương kí một, văn bất tại tư hồ? Thiên chi tương táng tư văn dã, hậu tử giả bất đắc dữ ư tư văn dã. Thiên chi vị táng tư văn dã, Khuông nhân kì như dữ hà?” – Vua Văn Vương đã mất,  lễ nhạc văn hóa không phải đều ở tại chỗ của ta sao? Trời nếu như muốn tiêu diệt văn hóa này, người sau đã không thể có được văn hóa này. Trời nếu như không tiêu diệt văn hóa này, người Khuông có thể làm gì ta? Đây cũng là một câu trong Luận ngữ.

(iii) 子贡曰:“夫子之文章,可得而闻也。夫子之言性与天道,不可得而闻也。”- Tử cống viết: “Phu tử chi văn chương, khả đắc nhi văn dã. Phu tử chi ngôn tính dữ thiên đạo, bất khả đắc nhi văn dã.”

(iv) “高山仰止,景行行止,虽不能至,心向往之”- “Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hàng hành chỉ, tuy bất năng chí, tâm hướng vãn chi” – cao sơn: núi cao; cảnh hàng: con đường lớn (đại lộ); chữ “chỉ” là trợ từ cuối câu để nhấn mạnh; đức hạnh như núi cao khiến mọi người ngưỡng vọng, hành vi quang minh chính đại như con đường lớn, tuy không thể đạt đến trình độ này, nhưng tâm luôn hướng về điều đó. Haiz, thật lằng nhằng. Đầu tiên, 2 câu đầu là từ một bài trong Kinh Thi, Tiểu Nhã. Sau đại ca Tư Mã Thiên khi viết Sử ký, Khổng tử thế gia đã mượn hai câu này mà viết ra 4 câu trên.

(v) Phản cầu chư kỉ – 反求诸己 fǎn qiú zhūjǐ: Câu trong Lễ ký, nhìn nhận lỗi của bản thân, từ đó sửa cho đúng, chứ không trách người khác. Tiếng Anh: to seek the cause in oneself rather than sb else.

(vi) Nguyên văn là chữ này: 忠恕 – trung có nghĩa là tận tâm kiệt lực, dốc lòng, hết lòng; thứ là dùng tâm ý của mình mà suy ra tâm ý của người khác, đặt mình vào vị trí của người khác mà suy nghĩ.

(vii) Nguyên văn: 无所用心 – wú suǒ yòng xīn – vô sở dụng tâm.

(viii) Nguyên văn: 日就月将 – rì jiù yuè jiāng – nhật tựu nguyệt tương: câu xuất xứ từ Kinh Thi, mỗi ngày đều tiến đến gần hơn một tý, hình dung tinh tiến không ngừng.

(ix) Nguyên văn: 不怨天,不尤人,下学而上达,知我者其天乎 – bất oán thiên, bất vưu nhân, hạ học nhi thượng đạt, tri ngã giả kì thiên hồ – không oán trời, không trách người, dưới học mà trên suốt mọi sự lý/thiên mệnh, hiểu được ta chỉ có trời chăng?. Đây cũng là một câu trong Luận ngữ.

(x) Nguyên văn: 行远自迩,登高自卑 – xíng yuǎn zì ěr, dēng gāo zì bēi – Hành viễn tự nhĩ, đăng cao tự ti. Đi đường xa bắt đầu từ bước gần nhất, leo núi cao bắt đầu từ chỗ thấp nhất. Ví dụ với việc để đạt được mục tiêu cao xa, cần phải bắt đầu từ bước gần nhất. Câu trong Trung dung.

(xi) Nguyên văn: 千里之行,起于足下 – Qiān lĭ zhī xíng, shĭ yú zú xià – thiên lý chi hành, khởi ư túc hạ. Đi xa ngàn dặm, bắt đầu bằng việc hạ chân xuống. Câu của Lão tử.

[Luận ngữ biệt tài – Nam hoài Cẩn]

Đây là Khổng tử tự bạch, tại sao Khổng tử đang nói đến vi chính, lại phải tự bạch như vậy? Khổng tử 72 tuổi mất. Ông dùng mấy câu đơn giản, nói về trải nghiệm một đời của bản thân, tinh thần gian khó phấn đấu. Thân thế của ông rất đáng thương, lúc phụ thân qua đời, ông hãy còn một người anh bán tàn phế và một người chị, đối với gia đình, ông phải gánh trách nhiệm này, tránh nhiệm của ông rất nặng. Ông nói lúc 15 tuổi, lập chí học tập, qua 15 năm, dựa theo kinh nghiệm phong phú của ông, cũng như tôi luyện của cuộc đời, đến 30 tuổi mới “lập.” “Lập” chính là “bất động,” đạo lý làm người, hành xử, xử thế đã bất biến không thay đổi, đã xác định rồi, trong cuộc đời này không đi theo con đường này không được. Nhưng đến lúc này hãy còn hoài nghi, hãy còn hiện tượng dao động, “tứ thập nhi bất hoặc,” đến 40 tuổi, mới không hoài nghi, nhưng đây là lời nói đối với học vấn nhân sinh thuộc phạm trù hình nhi hạ. Vẫn cần thêm 10 năm nữa, đến 50 tuổi, mới “ngũ thập nhi tri thiên mệnh.” Thiên mệnh là lai nguyên của vũ trụ, đây là phạm vi bản thể tư tưởng hình nhi thượng.

Đến “lục thập nhi nhĩ thuận,” ở đây lại có vấn đề, Khổng tử trước 60 tai có vấn đề gì không thuận, khoang tai phát nóng? Câu này rất khó giải thích, có khả năng là thời đó khắc thiếu chữ. Có khả năng là sau “lục thập nhi” có một nửa câu nữa. Nếu theo giảng giải của ngày xưa, đạo lý của “nhĩ thuận” là nói, từ 15 tuổi bắt đầu tu dưỡng học vấn, làm người xử thế, đến 60 tuổi, lời tốt lời xấu bất kể người khác nói gì, bản thân đều nghe được mà tuyệt không động tâm, không tức giận, người khác mắng chửi, cũng nghe được, trong tâm bình tĩnh. Chú ý! Tâm lý bình tĩnh  không phải là tử khí tối sầm, mà là rất hoạt bát có sinh khí, rất hiểu thị phi thiện ác, đối với người tốt cảm thấy đáng yêu đáng quý, đối với người xấu, cảm thấy cần giúp đỡ sửa thành người tốt, để có loại bình tĩnh này, loại học vấn này rất khó vậy. Sau đó lại thêm 10 năm nữa, mới “tòng tâm sở dục.” Văn hóa của Tây phương là tự do, nhưng phía sau còn một lời rất quan trọng nữa, “bất du củ.” Chúng ta ra đường mà xem, bánh bao nhà kia làm rất ngon, liền cầm ăn, “tòng tâm sở dục.” Như thế có được không? Cần “bất du củ.” Giữa người với người cần có 1 giới hạn. “Tòng tâm sở dục” – tự do nhưng không thể vượt qua giới hạn này, do đó “bất du củ,” đồng thời câu này cũng đạt tới đạo lý hình nhi thượng.

Nói đến đây, chúng ta cần nghiên cứu Khổng tử tại sao lại đem kinh nghiệm làm người, hành xử, học tập mấy chục năm đặt vào trong thiên “Vi chính.” Kinh nghiệm này vô cùng quan trọng, nguyên lai Vi chính chính là kinh nghiệm cuộc đời cần có.

Trên thế giới có hai thứ không có cách nào thực nghiệm được, chính là chính trị và quân sự. hai thứ này, bao la vạn tượng, biến động không ngừng. Nhìn từ lịch sử, chính trị của cổ kim đông tây, chuyên chế, quân chủ, dân chủ, tập thể, rốt cuộc như thế nào là tốt? Ai dám đưa ra kết luận? Đặc biệt là Trung Quốc hiện đại, vài chục năm gần đây, các loại văn hóa tư tưởng Tây phương, đều đến qua vũ đài Trung Quốc, nhưng tư tưởng Tây phương là từ văn hóa Tây phương, kết quả như thế nào? Do đó người vi chính cần hiểu nhân sinh, cần có kinh nghiệm, cần biết cách thấu hiểu. Do đó Khổng tử nói về kinh nghiệm của bản thân, tập hợp thành thiên Vi chính này, chính là nhắn nhủ những người liên quan đến chính trị, từ tu dưỡng của bản thân cho đến các gian nan của việc làm người, làm việc, đều không hề đơn giản, cần theo gương tinh thần này của ông, trong công việc cần hiểu rõ việc, mới đem đoạn này đưa vào thiên Vi chính.

Từ các đoạn ở trên, chúng ta đi đến một kết luận: bất kể là vi chính hay làm việc gì, cần dựa vào tích lũy kinh nghiệm cuộc sống. Nhưng tích lũy kinh nghiệm cuộc sống thành cái gì? Đơn giản 4 chữ: “nhân tình thế cố” (i).

Nói đến nhân tình thế cố, người Trung Quốc hiện tại đem danh từ này dùng ngược lại, đây là việc rất không hay. Ví dụ nói “tên này quá thế cố,” là đang mắng người. Đặc biệt khi người ngoại quốc phê bình người Trung Quốc, mấy năm trước trong Trung ương Nhật báo tôi đã thấy bài viết kiểu này, nói người Trung Quốc cái gì cũng tốt, nhưng quá trọng nhân tình. Phản ứng của thanh niên nói chung đều như nhau, cho rằng người ngoại quốc này viết văn phi thường thấu triệt, tôi nói các bạn không cần cho rằng người ngoại quốc ở Trung Quốc học hai ba năm, có thể hiểu văn hóa Trung Quốc, vậy thì các bạn đang làm cái gì? Vài chục năm ăn cơm đều là ăn không. Văn hóa Trung Quốc luôn nói về nhân tình, thứ gọi là “nhân tình,” không phải là đến dịp lễ tết, đem một cây thịt muối, đầu đường biếu đến cuối ngõ, nhà trái biếu đến nhà phải, ở ngoài biếu đi biếu lại truyền tay đến cả tháng, không chừng lại vật quy nguyên chủ. Đây chỉ là tượng trưng của tình lễ, “nhân tình” mà văn hóa Trung Quốc nói đến là chỉ “tính tình” (tư tưởng, cảm tình) giữa người với người. Nhân tình hai chữ này, bây giờ giải thích ra, bao gồm cả xã hội học, chính trị học, tâm lý học, khoa học hành vi các loại, cũng là cảm tình dung hợp của con người với nhau.

“Thế cố” chính là thấu triệt hiểu rõ sự vật, hiểu được quá khứ, hiện tại, tương lai. “Cố” là sự tình, “thế cố” là các loại sự tình trên thế giới, cần phải hiểu về người, hiểu về sự tình, mới gọi là đạt được “nhân tình thế cố.” Nhưng hiện tại sau khi dùng theo nghĩa ngược lại, những thứ gì mà tên này quá “thế cố,” trở thành tên khác của giảo hoạt, không thành thật; “Nhân tình” biến thành từ dùng để chỉ vỗ mông ngựa (nịnh nọt). Như thế này đã làm hoàn toàn làm sai đi văn hóa Trung Quốc, đặc biệt người ngoại quốc viết càng không đúng.

Vi chính lấy “đức” làm gốc, lại dùng học để bồi dưỡng giáo dục tinh thần đôn hậu ôn nhã của “thi,” đây không phải là đã chuẩn bị đầy đủ điều kiện cho vi chính sao? Không phải. Mà là giống như một người quân nhân, các loại lý luận tư tưởng quân sự cổ kim đông tây đều học kỹ càng, nhưng đến súng bắn thế nào cũng không biết, binh nhất binh nhì là thế nào cũng không hiểu, loại người này cùng lắm chỉ có thể làm tham mưu, tuyệt đối không thể dẫn binh ra chiến trường được. Do đó phong thái hành văn của “Luận ngữ,” nhẹ nhàng chuyển, đem lời tự bạch giản lược của Khổng tử cho vào đây. Cũng là nói với chúng ta, đạo lý của vi chính chính là cần thấu hiểu một cách chân chính về nhân tình thế cố.

Tôi từng nói qua, các loại tư tưởng chính trị trên thế giới tổng kết lại, bất kể là của Trung Quốc hay thế giới, điểm trọng yếu nhất, ở bốn chữ “an cư lạc nghiệp.” Bất kỳ tư tưởng, lý luận chính trị nào, đều chưa vượt qua phạm vi của bốn chữ này; đều không có ngoại lệ mà hướng đến làm sao để khiến con người có thể an cư, có thể lạc nghiệp. Đồng thời chúng ta ở nông thôn đến đâu cũng có thể thấy câu “phong điều vũ thuận, quốc thái dân an.” Tám chữ này, theo cách nhìn của người ngày nay, thấy vô cùng cổ. Nhưng trong lịch sử cổ kim đông tây, nếu thật sự có thể đạt đến cảnh giới 8 chữ này, đối với bất kỳ quốc gia nào, dân tộc nào, thời đại nào mà nói, vô luận là lý tưởng chính trị gì thì cũng là cũng đạt được rồi. Mà mấy câu cổ này, chính là đã thấu triệt tư tưởng triết học chính trị do nhân tình thế cố sinh ra.

(i) Nhân tình thế cố -人情世故 – rén qíng shì gù (lại là 1 câu của Văn thiên Tường; cố có nghĩa là việc; đây là chỉ kinh nghiệm, đạo lý, phương pháp xử thế làm người).

[Lời bàn của YL]

Hihi, đúng là “thiên mệnh” là danh từ con người đặt cho những thứ mình không đạt được, nhưng giới hạn của thiên mệnh là gì, không ai nói được. Vì thế để tri thiên mệnh, chắc là việc không tưởng.

Đùa vậy thôi, theo cách hiểu cụ Tiền Mưu, có vẻ cái gì cũng là thiên mệnh. Thiên mệnh ở khắp mọi nơi (hơi giống với khái niệm Đạo trong Đạo học). Thiên mệnh là giới hạn, là đạo, là đạo nghĩa. Như thế càng trừu tượng nữa, khác gì bảo cái gì cũng biện chứng :-P.

Các nhà Nho, có vẻ cũng tránh bàn sâu về thiên mệnh (hoặc là vì bàn không ra được, mà ai cũng không muốn tỏ ra nói nhiều, cái văn hóa đề cao chữ “ngộ” nó khổ thế :-P).

Cụ Tiền Mưu đúng là đặt Luận ngữ lên bàn thờ mà thờ, chết chết, lại cho là Khổng tử/Nho giáo cao hơn các loại tôn giáo khác.

Nho học thiên về dạy đạo đức, luân lý, nhưng lại bỏ qua các vấn đề triết học cơ bản, ví dụ như bàn cãi cho ra nhẽ thiên mệnh là gì và vị trí của thiên mệnh trong mối quan hệ với các khái niệm khác. Mà tác động của việc thiếu đào sâu phân tích, thiếu tranh luận “cho ra nhẽ,” dẫn đến cái gì cũng mơ mơ hồ hồ (hay còn gọi là trừu tượng??? cao siêu???), thiếu lập luận chặt chẽ. Ngay như cụ Tiền Mưu mỗi chỗ cũng quan niệm thiên mệnh một khác, tổng hợp lại cứ thấy tù mù, ý tứ đá nhau chan chát….

 

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.2

2.2. 子曰:“诗三百,一言以蔽之,曰:“思无邪。”

Zǐ yuē: shī sān bǎi, yī yán yǐ bì zhī, yuē: “sī wú xié.”

Tử viết: “Thi tam bách (1), nhất ngôn dĩ tế (3) chi, viết: “Tư vô tà” (3).”

[Chú thích – Dương bá Tuấn]

  1. Thi tam bách: Thi, chỉ Kinh Thi, quyển này thực chất có 305 thiên, tam bách (ba trăm) chỉ là lấy tròn số.
  2. 蔽 – bì – tế: khái quát.
  3. 思无邪 – sī wú xié – tư vô tà: đây là một câu trong “Kinh Thi; Lỗ tụng,” “tư” ở chỗ này là tư tưởng. Vô tà, có giải thích là “thuần chính” (thuần khiết, không pha tạp), có giải thích là “trực” (ngay thẳng), ý sau tương đối thỏa đáng.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Kinh thi” ba trăm thiên, có thể dùng một câu để khái quát, chính là “tư tưởng thuần chính.”

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Thời đại của Khổng tử, sách cho học sinh đọc không quá nhiều, “Kinh Thi” sau khi được Khổng tử chỉnh lý biên tập, được dùng để làm tài liệu dạy học. Khổng tử đối với “Kinh Thi” nghiên cứu thâm sâu, do đó Khổng tử dùng “tư vô tà” để khái quát sách này. Trong “Luận ngữ” giải thích về “Kinh thi,” đều theo nguyên tắc “tư vô tà” này mà nói.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

思无邪- Tư vô tà: lời trong thiên “Lỗ tụng.” Có thể nói sách “Thi” có mỹ (đẹp/tốt), thích (thích trong thích sát, giết), chính (đúng, chính đáng, ngay thẳng), biến (trong biến đổi), do đó khuyến thiện trừng ác. Tư tưởng của người viết ba trăm thiên, đều quy về “vô tà,” có thể khiến cho những người có tư tưởng của hậu thế thiên hạ đều quy về vô tà. Có một thuyết khác, vô tà ý nghĩa là “trực” (thẳng thắn, trong cương trực, chính trực). Tác giả của ba trăm thiên, vô luận là hiếu tử trung thần (con hiếu tôi trung), oán nam sầu nữ, ngôn ngữ đều xuất phát từ chỗ chí tình tràn đầy, trực tiếp viết ra từ nội tâm, không hề hư tình giả ý, đây gọi là “Thi ngôn chí”-“những lời ghi chép của Thi,” cả ba trăm thiên đều như vậy. Do đó Khổng tử chọn lời này để bao quát ý nghĩa tổng quát của Thi. Tính cách tình cảm của người làm thơ, thiên cổ như soi chiếu, vì thế học Thi mà có thể hứng (tình cảm phát sinh trước cảnh vật, rung cảm, như thi hứng), quan/quán (thưởng thức, hoặc như trong quan niệm, quan điểm, hoặc là xét thấu, nghĩ thấu như trong quán triệt), quần (tụ tập một chỗ với nhau), oán (sầu hận). Thuyết này so với thuyết trước có vẻ được hơn.

Thơ vốn để vịnh mã (vịnh về con ngựa), ngựa thì có chính tà như thế nào? Trong Thi có câu: “Dĩ xa khư khư, tư vô tà, tư mã tư tồ” – “khư khư”: dáng vẻ có sức mạnh, “tồ”: nghĩa là đi, di động.  Đây là nói về con ngựa chạy ở phía trước xe. “Tư” trong tư mã chỉ là ngữ từ (trợ từ đặt ở đầu câu, không có nghĩa), không phải là “tư duy” (i). Mặc dù nói việc trích dẫn Thi hay “đoạn chương thủ nghĩa” (ii), nhưng (ở đây) không vi phạm ý nghĩa nguyên gốc. Vì vậy biết thuyết sau là thích hợp.

Nay thấy,  người học tất phải chuyên tâm nắm vững được thứ trọng yếu, biết được điều gì là trọng yếu rồi mới dễ thực hành. Chương này Khổng tử bàn về thi, như bàn về học, về chính trị, chủ yếu quy về đức ở trong tâm bản thân. Học Luận ngữ của Khổng môn, chủ yếu ở tại nhân tâm, quy về gốc là tính tình của con người. Người học nghiên cứu kỹ.

Câu này có thể hiểu: “Kinh Thi” ba trăm bài, có thể lấy một câu trong đó để tổng kết toàn bộ, chính là “tư vô tà.”

(i) Người bình giảng giải thích lằng nhằng, nhưng đại loại cụm từ “tư vô tà” là lấy từ câu “Dĩ xa khư khư, tư vô tà, tư mã tư tồ,” là câu cuối trong bài “Quynh” (có nghĩa là kiện mã, con ngựa tráng kiện) – bài đầu tiên trong thiên “Lỗ Tụng” (các bài ca tụng Lỗ Hi Công) của Kinh Thi. Ý của câu trích dẫn là con ngựa mà đóng vào xe thật là tráng kiện, (Lỗ quân) “tư vô tà”, (nguyện) con ngựa chạy nhanh.

(ii) Đoạn chương thủ nghĩa – 断章取义 – duàn zhāng qǔ yì (câu trong Tả truyện; chỉ việctrích một câu từ một đoạn văn mà không quan tâm đến nội dung ý nghĩa của toàn đoạn văn, câu trích dẫn có ý nghĩa không giống với trong nguyên gốc, mình hay gọi là nhấc câu ra khỏi bối cảnh???

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Tử viết: thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết: tư vô tà.

Do đó có người nói cần biên tập lại Luận ngữ, họ đọc Luận ngữ đọc đến đây liền nói: “Giảng về Vi chính nên giảng cho thỏa đáng , tại sao đột nhiên lại nói đến văn học, mà nhắc đến thơ? Không phải là biên tập sai, biên tập loạn ư? Nên bỏ phần này ra, theo phương pháp hiện đại của phương Tây, chỉnh lý lại cho có logic.” […] Ít ai biết là Luận ngữ thực ra đã được biên tập cực kỳ hoàn chỉnh.

Tại sao trong Vi chính lại nói đến thơ?

“Thi tam bách,” là chỉ “Kinh Thi” trong văn học Trung Quốc, là Khổng tử lúc đương thời đã tập trung tác phẩm của “lao nhân tư phụ” – người lao lực và người phụ nữ có tâm tình của các quốc gia (các đơn vị địa phương) trong mấy trăm năm từ triều Chu trở về sau. “Lao nhân” chính là những người thành niên không ở nhà, ở ngoài bôn ba vì xã hội, quốc gia, một đời vất vả bận rộn. Người phụ nữ mà trong tình yêu nam nữ, tâm tư tình cảm không có cách biểu đạt, giữ ở trong lòng, chính là tư phụ. Lao nhân tư phụ tất có niềm cảm khái. Mỗi địa phương, mỗi quốc gia, mỗi thời đại, tư tưởng cảm tình trong nội tâm mỗi người, có lúc không thể nói với người khác, mà dùng văn tự viết xuống, về sau dần dần lưu truyền ra. Khổng tử đã thu thập tập hợp rất nhiều tư liệu, bởi vì các tư liệu này đại biểu cho tư tưởng con người, có thể từ đây mà biết xu thế xã hội đạt đến trình độ nào, tại sao con người cần bày tỏ buồn phiền? “其所由来者渐矣!” – “Kì sở do lai giả tiệm hĩ” – điều đó dần dần mà đến, tất cả đều có nguyên nhân. Muốn tìm ra nguyên nhân này không đơn giản, do đó Khổng tử tập hợp thơ văn lại, trong số đó có bài có thể lưu truyền, có bài không thể lưu truyền, cần phải cắt bỏ, do đó gọi là cắt thi thư, định lễ nhạc. Khổng tử đã đem văn hóa Trung Quốc, tập trung hoàn chỉnh, bỏ công phu biên tập. Đối với phần thơ, tinh tuyển biên tập ra ba trăm bài đại diện, chính là “Kinh Thi” mà lưu truyền đến ngày nay.

Đọc bài đầu của Kinh Thi, ai cũng biết “quan quan thư cưu, tại hà chi châu, yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu.” Theo ngôn ngữ của thanh niên hiện đại mà nói, đây là truy đuổi, thơ truy đuổi tình cảm của nữ giới. […] Từ đây chúng ta có thể thấy tư tưởng của Khổng tử, không phải là một vị phu tử viển vông như trong tưởng tượng của chúng ta. Lần trước đã đề cập đến “饮食男女,人之大欲存焉” – ẩm thực nam nữ, nhân chi đại dục tồn yên –  ăn uống, tình ái nam nữ, là bản tính và mong cầu lớn của con người. Con người nhất định cần ăn cơm, nhất định cần truy cầu nam nữ, bất quá không thể loạn, cần có giới hạn, cần có lễ chế. Do đó Khổng tử cho rằng tình cảm nam nữ theo đúng chuẩn mực, sẽ không gây hại đến phong hóa, đây cũng gọi là “vi chính,” chính quy. Vậy Khổng tử đăng thơ về tình cảm nam nữ của Văn Vương – một trong những vị đế vương lãnh đạo của triều Chu – thành bài đầu tiên, tại sao? Nhân sinh: ẩm thực nam nữ. Khởi nguồn hình nhi hạ, chính là như thế này. Trừ những việc này ra, gần như chẳng có việc lớn nào khác. Vì vậy một số quan niệm tâm lý học giới tính của văn hóa phương Tây, cường điệu rằng sự tiến bộ của thế giới, thậm chí toàn bộ lịch sử nhân loại, đều là do tâm lý giới tính thúc đẩy.

Tổng kết lại Thi Kinh, có hai loại phân loại – “风、雅、颂”- phong, nhã, tụng, “赋、比、兴” – phú, bỉ (tỉ), hứng. Cái gì gọi là “phong”? Chính là tính địa phương, ví dụ nói văn học nước Pháp là văn phong của nước Pháp, văn phong nước Pháp đại diện cho tư tưởng, tình cảm của người Pháp, vì vậy Kinh Thi có “Trịnh phong,” “Lỗ phong,” “Tề phong” các loại. “Nhã”  dùng từ hiện đại mà nói, là hợp với tiêu chuẩn của âm nhạc, văn học, là văn học hóa, nghệ thuật hóa, nhưng cũng có những lúc không nhất định là văn học hóa, nghệ thuật hóa. “Tụng” chính là văn học được dùng trong các việc xã hội, chính phủ gọi là “tụng.”

Các tác phẩm phân thành ba loại hình thái, một loại là phú, chính là lời thuật lại trực tiếp. Tiếp đến là “bỉ/tỉ,” ví dụ như thấy tuyết rơi, nhớ đến quê hương ở phương Bắc, như thơ của Lý Thái Bạch: “Cử đầu vọng minh nguyệt, đê đầu tư cố hương.” Do cảm xúc này liên tưởng đến cảm xúc khác, nên gọi là “bỉ/tỉ” (so sánh). “Hứng” là tình tự (mối tình cảm), việc khiến bản thân cao hứng mà tự do thể hiện; việc bi ai cũng tự do thể hiện; nổi tiếng nhất, mọi người đều quen thuộc là bài thơ thất ngôn “Quá Linh Đinh dương” của Văn Thiên Tường:

辛苦遭逢起一经,

干戈寥落四周星

山河破碎风飘絮,

身世飘零雨打萍

皇恐滩头说皇恐,

零丁洋里叹零丁

人生自古谁无死?

留取丹心照汗青。

Tân khổ tao phùng khởi nhất kinh

Can qua liêu lạc tứ chu linh

Sơn hà phá toái phong phiêu nhứ

Thân thế phiêu linh vũ đả bình

Hoàng Khủng than đầu thuyết hoàng khủng

Linh Đinh dương lý thán linh đinh

Nhân sinh tự cổ thùy vô tử?

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

Đây cũng chính là “hứng.” Văn Thiên Tường trong lúc cứu vãn quốc gia, cứu vãn thời đại đó, chịu thống khổ vì quân địch tấn công, tình cảm vô hạn, cảm khái vô hạn. Đây cũng chính là sự uất ức chân thực, tâm lý buồn rầu mà phát tiết ra, chính là “hứng.”

Sự vĩ đại của thơ

Khổng tử nói tông chỉ của việc biên soạn ba trăm bài thơ là ở chỗ nào? “Nhất ngôn dĩ tế chi”-một câu có thể khái quát toàn bộ – một câu, “tư vô tà.”Con người không thể không có suy nghĩ, chỉ cần suy nghĩ không theo con đường lệch lạc bất chính, dẫn đến việc đi theo con đường chính đáng là tốt, ví dụ như chuyện tình ái nam nữ. Nếu một người theo đuổi học vấn, mà chuyện tình ái nam nữ đều không cần, trên thế giới không có loại người này. Ta từng tiếp cận không ít các loại người phổ biến trong xã hội, ví dụ như các hòa thượng, ni cô, cha cố, nữ tu xuất gia, mọi kiểu đều có, thường thường nghe họi nói về nội tâm thống khổ. Ta nói với họ, ngài là người, không phải thần, không phải phật, con người có vấn đề của con người, cứng rắn dùng tư tưởng để cắt đứt, là không thể. Con người sống liền có suy nghĩ, phàm là suy nghĩ nhất định có vấn đề, nếu không có vấn đề sẽ không phải suy nghĩ gì, “tư vô tà” của Khổng tử là nói về điều này. Suy nghĩ của con người nhất định có vấn đề, không trải qua giáo dục về văn hóa, không trải qua giáo dục nghiêm túc, sẽ không biết đi theo con đường chính đạo, do đó Khổng tử nói tông chỉ của việc biên soạn ba trăm bài thơ, đều là vì “tư vô tà.”

Như vậy tại sao đem lời giảng về cảnh giới văn học đặt trong thiên “Vi chính”?  Đây không phải là thứ tự loạn hay sao? Một chút cũng không loạn, đây chính là tổng kết các ý chính, là nắm vấn đề trung tâm của các đề mục, trước hết nêu ra.

Ý chính thứ nhất: dùng lời hiện đại mà nói, tất cả các vấn đề chính trị, vấn đề xã hội chỉ là vấn đề suy nghĩ, tư tưởng. Chỉ cần làm cho tư tưởng thuần chính, vấn đề nào cũng có thể giải quyết. Chúng ta biết, hiện nay cả thế giới động loạn, là vấn đề tư tưởng. Do đó khi ta giải về triết học, nói hiện nay trên thế giới không có nhà triết học. Cái gọi là triết học ở trong trường học, cùng lắm chỉ là nghiên cứu tư tưởng triết học của người khác mà thôi. Đặc biệt khi làm luận văn, Socrates nói gì, chép lại một ít; Khổng tử nói như thế nào, chép lại một ít. Kết quả là chép lại toàn bộ triết học của họ, bản thân mình cái gì cũng không có, loại triết học này chỉ là văn bằng.

Trên thế giới hiện nay cần tư tưởng chân chính, cần dung hợp cổ kim đông tây, chân chính phát triển nên một tư tưởng. Nhưng, hiện tại không chỉ Trung Quốc, đây là một thời đại thiếu vắng tư tưởng, do đó chúng ta tất cần phát huy văn hóa của bản thân.

Ý chính thứ hai: liên hệ đến vấn đề con người. Trong lịch sử Trung Quốc, nếu là một nhà đại chính trị gia, đều là đại thi nhân, nhà đại văn học, ta thường cùng các bạn học nói, trước đây người ta nói Trung Quốc không có triết học, hiện tại biết Trung Quốc không những có triết học, nhưng gần như không có người có tư cách đi nghiên cứu. Do chúng ta là văn triết bất phân (không phân biệt văn và triết), nhà văn học chính là nhà triết học, nhà triết học chính là nhà văn học, muốn hiểu tư tưởng triết học Trung Quốc, tất cần đọc hết sách của năm nghìn năm. Học vấn của phương Tây mang tính chuyên môn, tâm lý học chính là tâm lý học, sinh lý học chính là sinh lý học, trong quá khứ người Trung Quốc theo đuổi học vấn cần loại kiến thức nào cũng biết một ít, sách vở Trung Quốc bao quát nhiều nội dung như vậy, quyển nào chẳng có triết học? Loại nào chẳng có triết học? Đặc biệt càng cần phải hiểu văn học, thậm chí loại nào cũng cần hiểu, mới có thể bàn luận về triết học, triết học Trung Quốc khó học là như thế. Ví dụ thời sơ Đường có một bài thơ, tên là “Xuân giang hoa nguyệt hạ,” trong đó có một câu: 江上何人初见月?江月何年初照人?”- “Giang thượng hà nhân sơ kiến nguyệt? Giang nguyệt hà niên sơ chiếu nhân?”- ở trên sông, người nào thấy trăng đầu tiên? Trăng trên sông, năm nào là lần đầu tiên chiếu xuống người, tương tự như như tư tưởng gà có trước hay trứng có trước của người phương Tây, nhưng vào tay người Trung Quốc liền trở thành cao minh, ở trong văn học đẹp biết bao nhiêu! Vì vậy nếu không tìm từ trong văn học, giống như Trung Quốc không có triết học, nếu xem các tác phẩm văn học Trung Quốc, triết học rất nhiều, ví dụ như bài từ của Tô Đông Pha: “明月几时有?把酒问青天,不知天上宫阙,今夕是何年?”-  “Minh nguyệt kỉ thời hữu? Bả tửu vấn thanh thiên, Bất tri thiên thượng cung khuyết, Kim tịch thị hà niên?” – trăng sáng có từ bao giờ? Cầm chén rượu hỏi trời xanh, Không biết là cung điện trên trời, đêm nay là năm nào? Đây không phải là một vấn đề triết học sao? Vũ trụ đến từ đâu? Thượng đế tối nay ăn đồ Tây hay ăn cơm Trung Quốc? “Bất tri thiên thượng cung khuyết, kim tịch thị hà niên?” Vấn đề mà Tô Đông Pha hỏi, không phải là vấn đề triết học sao? Do đó ở Trung Quốc là văn triết bất phân. Đây là điểm thứ nhất.

Văn sử bất phân: nhà lịch sử học Trung Quốc, cũng đều là nhà đại văn học, nhà triết học, do đó bát thư (i) các loại trong “Sử ký” của Tư Mã Thiên, chỗ nào cũng là triết học, là thành tựu lớn tập trung triết lý của Trung Quốc. Đây là điểm thứ hai.

Văn chính bất phân: nhà đại chính trị đều là đại văn hào, thơ đời Đường tại sao lại hay như vậy, vì thơ của Đường Thái Tông rất hay,ông đã đề xướng ra. Đối liễn của thời Minh tại sao lại phát triển, đối liễn của Chu Nguyên Chương rất hay, mặc dù ông không đọc sách, nhưng thích làm đối liễn. […] Đường Thái Tông thơ hay, đại thần cũng đều là nhà đại văn học, như Phòng Huyền Linh, Ngu Thế Nam, Ngụy Trưng vị nào thơ cũng đều hay. Tại sao họ không nổi tiếng về văn chương? Do trong lịch sử, sự nghiệp công trạng của họ che lấp thành tựu trong văn học. […] Kỳ thực, thơ của Vương An Thạch thời Tống rất hay, nhưng danh tiếng về văn chương cũng bị sự nghiệp công trạng che lấp. Do đó ở Trung Quốc  văn sử bất phân, văn triết bất phân, văn chính bất phân, nhà chính trị đều là nhà đại văn học. Chúng ta nhắc đến một vị hoàng đế thiếu học là Hán Cao Tổ, ông cũng làm ra được 1 câu “Đại phong khởi hề vân phi dương, Uy gia hải nội hề quy cố hương.” […] Vì vậy nhà đại chính trị nhất định cần có tình cảm chân thực của thi nhân. Nói theo cách khác, như người phương Tây nói, một người theo đuổi sự nghiệp chân chính, cần có tinh thần xuất thế – tinh thần của nhà tôn giáo. Đây là điểm thứ ba.

Ý chính thứ ba: người Trung Quốc tại sao đề xướng thi và lễ? Nhà Nho từ đâu lại xem trọng việc giáo dục thơ đến như vậy? Do nhân sinh tất có khổ đau, đặc biệt người làm chính trị, làm công tác xã hội, thường giữa người với người có tiếp xúc, có khổ đau, có phiền não. Đặc biệt người Trung Quốc, liều mạng tìm cách tu dưỡng đạo đức, tu dưỡng không bằng người ta, đau khổ càng nhiều. Ta thường nói với các bạn học, sự khác biệt giữa anh hùng và thánh nhân: anh hùng đạt tới trình độ chinh phục thiên hạ, không thể chinh phục bản thân, thánh hiền không nghĩ đến việc chinh phục thiên hạ, mà chinh phục bản thân mình; anh hùng là đem phiền não của bản thân cho người khác gánh vác, thánh nhân tự gánh vác mọi phiền não của người thiên hạ. Đây là tinh thần truyền thống của văn hóa Trung Quốc chúng ta, hy vọng mỗi người cần hoàn thành trách nhiệm của thánh nhân, mới có thể trở thành nhà chính trị vĩ đại. Làm công việc chính trị đụng phải phiền não của nhân sinh, người phương Tây dựa vào tôn giáo; Trung Quốc trong quá khứ không chuyên mỗi tôn giáo, người người có thơ mà tu dưỡng, tình cảm trong thơ chính là tình cảm tôn giáo, bất kể phiền não khiến bế tắc đến mức nào, tự mình làm hai câu thơ, liền có thể phát tiết ra, đem tình cảm phát ra. Đồng thời dùng thơ để tu dưỡng chính là tu dưỡng nghệ thuật, một người “vi chính,” tất cần có tình cảm của thi nhân, tu dưỡng của thi nhân. Chúng ta xem lịch sử liền biết, đại thần trong quá khứ, bất kể là văn quan hay võ tướng, sau khi hạ triều về nhà, cầm lấy bút, viết chữ, đọc sách, ngâm thơ, giải quyết mọi phiền não trong lòng. Không giống như người hiện đại ra bàn chơi mạt chược hoặc đi nhảy nhót. Loại tu dưỡng này so với tu dưỡng trước đây không giống nhau, cũng kém xa.

Từ đây chúng ta đã có thể hiểu, Khổng tử nói “thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết tư vô tà” trong “Vi chính,” chính là nói với chúng ta người “vi chính,” trừ tư tưởng lãnh đạo không theo đường tà, đối với tu dưỡng của bản thân, càng cần có tình cảm phẩm cách của thi nhân, mới có thể ôn nhu đôn hậu, mới có thể nhẹ nhàng khoáng đạt hào sảng mà vi chính.

(i) Bát thư: tám sách bao gồm Lễ, Nhạc, Luật, Lịch, Thiên Quan, Phong Thiện, Hà Cừ, Bình Chuẩn.

Hàn sinh

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.16

1.16 子曰:“不患人之不已知,患不知人也。”

Zǐ yuē: “bù huàn rén zhī bù jǐ zhī, huàn bù zhī rén yě.’

Tử viết: “Bất hoạn (1) nhân (2) chi bất kỉ tri, hoạn bất tri nhân dã.”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

(1) 患 – huàn – hoạn: ưu tư, lo lắng, sợ.

(2) 人 – rén – nhân: chỉ người có giáo dưỡng, có tri thức, chứ không phải nhân dân nói chung.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Không sợ người khác không hiểu ta, chỉ sợ ta không hiểu người khác.”

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Câu này là đạo lý đối nhân xử thế mà Khổng tử truyền thụ cho học sinh của mình. Có người giải thích rằng, đây là tư tưởng an bần lạc đạo, không cầu danh lợi của Khổng tử. Giải thích này có lẽ không thỏa đáng lắm, do không phù hợp với chủ trương trước sau như một của Khổng tử. Trong quan niệm của Khổng tử, học nhi ưu tắc sĩ – học tập tốt xong, nếu vẫn còn dư lực, thì đi làm quan (i), đây là một loại thái độ tích cực nhập thế, bước ra xã hội. Ẩn ý trong này là: trong quá trình tìm hiểu, hiểu biết về người khác, cũng để người khác hiểu về mình.

(i) Trong một câu đầy đủ là ‘Sĩ nhi ưu tắc học, học nhi ưu tắc sĩ’ – 仕而优则学,学而优则仕 – shì ér yōu zé xué, xué ér yōu zé shì (Câu trong Luận ngữ, thiên Tử trương; làm quan mà còn dư lực thì học tập; học tập tốt xong, nếu vẫn còn dư lực, thì đi làm quan; nói chung là một câu yêu cầu phải liên tục học tập, học đi đôi với hành).

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Quân tử cầu ở bản thân, không sợ người không biết mình. Nếu không có Khổng Tử, sẽ không biết nên noi theo Nghiêu Thuấn. Không có Mạnh tử, sẽ không biết Khổng tử là thánh hiền, vì đời vì người mà trước giờ chưa có. Do đó mới biết “tri nhân” đáng quý như thế nào, mà nếu không “tri nhân” đáng sợ như thế nào.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Đây là kết lại tinh thần của Thiên Học nhi. Khổng tử nói một người không sợ người khác không hiểu mình, sợ nhất là mình không hiểu người khác. Đây là kết luận của câu “Nhân bất tri nhi bất uấn, bất diệc quân tử hồ.” Đại khái con người luôn có một căn bệnh phổ thông, chính là luôn cảm giác mình rất hay, rất giỏi, mỗi khi nói sai một câu, mặt lại đỏ lên; nhưng sau ba giây, mặt hết đỏ, ngay lập tức trong đầu tìm đủ lý do để giải thích cho lỗi lầm của mình, cho rằng bản thân hoàn toàn đúng, lại qua một tiếng đồng hồ, càng nghĩ càng thấy mình đúng. Chính vì như thế này, nên con người luôn trách người khác không hiểu mình, mà đối với vấn đề mình có hiểu người khác hay không, lại không để tâm đến. Do đó mục đích của thiên Học nhi này, chương cuối cùng, lấy câu của chương đầu tiên “nhân bất tri nhi bất uấn, bất diệc quân tử hồ” làm trọng điểm. Điểm trọng yếu của kết luận này là tại sao phải giữ oán hận trong lòng? Không cần sợ người khác không hiểu mình, quan trọng nhất là mình có hiểu người khác hay không. Vì vậy thiên này nói về mục đích của học vấn, đến đây là đạt đến kết luận.

[Lời bàn của Yên Liên]

Đáng tiếc, các học giả không đi sâu phân tích bình luận về chương này. Nói chỉ sợ không hiểu người khác, nhưng nội dung của “hiểu” này là gì? Chúng ta cụ thể cần hiểu những gì về người khác? Và chúng ta cần làm những gì, học những gì, có thái độ như thế nào để hiểu về người khác? Và hiểu về người khác, đem lại những lợi ích gì? Có lợi gì cho việc tu thân? Đây đều là những câu hỏi đáng để suy nghĩ, và nếu đi sâu vào phân tích, có thể sẽ dẫn đến nhiều tranh luận rất hay.

😘😘 La la la la 😘😘…. Kết thúc thiên 1!!! 🎉🎊✨🎈🎊🎉🎈🎈🎈🍰🍩🎂🍨🍧🍸🍷🍷🍷

Tuy nhiên, từ giờ đến hết năm bận kinh khủng khiếp (trả nợ cũ và kiếm tiền mới hihi) nên chắc phải 1 tháng nữa mới tiếp tục với công trình này.

Con chim kia nợ ta một đống thơ từ, nhớ lấy.

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.15

1.15 子贡曰:“贫而无谄,富而无骄,何如?”子曰:“可也。未若贫而乐,富而好礼者也。”子贡曰:《诗》云,‘如切如磋!如琢如磨’,其斯之谓与?”子曰:“赐也!始可与言《诗》已矣,告诸往而知来者。”

Zǐ Gòng yuē :“pín ér wú chǎn ,fù ér wú jiāo ,hé rú ?”

Zǐ yuē :“kě yě 。wèi ruò pín ér lè ,fù ér hǎo lǐ zhě yě 。” 

Zǐ Gòng yuē :“《shī 》yún :‘ rú qiē rú cuō ,rú zhuó rú mó ’,qí sī zhī wèi yǔ ?”

Zǐ yuē :“cì yě ,shǐ kě yǔ yán 《shī 》yǐ yǐ ,gào zhū wǎng ér zhī lái zhě 。”

 

Tử Cống viết: “Bần nhi vô siểm (1), phú nhi vô kiêu, hà như (2)?”

Tử viết: “Khả dã. Vị nhược bần nhi lạc (3), phú nhi hảo lễ giả dã.”

Tử Cống viết: ““Thi” vân, ‘như thiết như tha! như trác như ma (4),’ kì tư chi vị dư?”

Tử viết: “Tứ (5) dã! Thủy khả dữ ngôn “Thi” dĩ hĩ, cáo chư vãng nhi tri lai giả (6).”

 

[Chú thích – Dương bá Tuấn]

(1) 谄- chǎn- siểm: ý là xu phụ, phụng thừa.

(2) 何如 – hé rú – hà như: “Hà như” trong sách Luận ngữ, đều có thể diễn giải thành怎么样 – như thế nào.

(3) 贫而乐 – pín ér lè – bần nhi lạc: có bản viết “bần nhi lạc đạo.”

(4) 如切如磋,如琢如磨 – rú qiē rú cuō ,rú zhuó rú mó – như thiết như tha, như trác như ma: hai câu này trong “Thi Kinh. Vệ Phong. Kỳ áo.” Có 2 cách giải thích: một thuyết nói “thiết, tha, trác, ma” phân biệt chỉ bốn loại gia công đối với bốn nguyên vật liệu khác nhau là xương, ngà voi, ngọc và thạch, nếu không thì không làm thành vật dụng được; một thuyết nói gia công ngà voi và xương, thiết (cắt, khắc, E: cut) rồi vẫn cần tha (mài, E: polish), gia công ngọc, và đá, trác (mài giũa, E: cut [gems]) rồi vẫn cần ma (mài, E: rub, polish), có ý là đã tốt, hoàn mĩ, tinh xảo rồi còn cầu tốt hơn nữa. (Tinh ích cầu tinh – 精益求精 – jīng yì qiú jīng).

(5) 赐 – Tứ: tên của Tử Cống

(6) 告诸往而知来者- gào zhū wǎng ér zhī lái zhě – cáo chư vãng nhi tri lai giả: 诸, giống như chữ 之 – chi; 往 – vãng: sự tình trong quá khứ, sự tình đã qua; 来 – lai: sự tình trong tương lai, chưa đến.

 

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Tử Cống nói: Bần cùng nhưng không siểm nịnh ton hót, giàu có nhưng không kiêu ngạo tự đại, như thế thì thế nào? Khổng tử nói: Như thế cũng được. Nhưng vẫn không bằng người tuy bần cùng nhưng vui với đạo, tuy giàu có nhưng hiếu lễ (i).

Tử Cống nói: trong sách Thi nói, ‘cần giống như đối với các loại xương, sừng, ngà voi, ngọc thạch, cắt gọt nó, mài giũa nó,’ chính là nói ý này chăng?

Khổng tử nói: Tứ à, đệ tử có thể từ những lời giảng của thầy mà lĩnh hội được những ý tứ thầy chưa nói ra, cử nhất phản tam (ii), thầy có thể cùng đệ tử đàm luận “Thi” rồi.

(i) Chữ “hiếu” là chữ 好, động từ có nghĩa là yêu thích, giống như trong từ hiếu học, chứ không phải hiếu trong trung hiếu.

(ii) Cử nhất phản tam -举一反三 – jǔ yī fǎn sān: phản: dùng một thứ tương tự để giải thích hoặc suy luận ra thứ khác. Ở đây chỉ từ một việc mà suy rộng ra được các việc khác.

 

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Khổng tử hi vọng các đệ tử của mình cho đến bất kỳ ai, đều có thể đạt đến ‘bần nhi lạc đạo, phú nhi hiếu lễ’ cảnh giới lý tưởng này, do đó hàng ngày trong lúc giáo dục đệ tử, luôn đem tư tưởng này ra giảng cho họ. Bần nhi lạc đạo, phú nhi hiếu lễ, trong xã hội vô luận là nghèo hay giàu đều có thể yên ổn ở vị trí hoàn cảnh của mình, thì có thể bảo đảm ổn định xã hội. Khổng tử đối với Tử Cống khá hài lòng, trong đoạn hội thoại này có thể thấy điều đó, Tử Cống có khả năng tư duy độc lập, cử nhất phản tam – học một biết mười, do đó đạt được sự tán dương của Khổng tử. Đây là một đặc điểm rõ nét trong tư tưởng giáo dục của Khổng tử.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

无谄 – Vô siểm: người siểm thì nịnh nọt, bợ đỡ, khom lưng uốn gối đối với người khác.

无骄 – Vô kiêu: người kiêu thì khoe khoang, tùy tiện, ngạo mạn đối với người khác. Nghèo cầu nhiều thứ, nên dễ siểm nịnh. Giàu được người khác cậy nhờ vào, nên dễ kiêu ngạo.

可也: so ra là tốt, tốt nhưng vẫn có điểm chưa tốt hết.

未若贫而乐,富而好礼 – vịnhược bần nhi lạc, phú nhi hiếu lễ: có bản sau chữ “lạc” có chữ “đạo.” Nghèo mà có thể không siểm nịnh, giàu mà có thể không kiêu ngạo, đây đều là biết tự giữ bản tính của mình, [nhưng như vậy] vẫn chưa quên [sự phân biệt] giàu nghèo. Lạc đạo- vui với đạo thì sẽ quên sự nghèo túng của bản thân. Hiếu lễ – yêu thích lễ thì sẽ an với việc ăn ở thiện lương, vui với việc noi theo khuôn khép, trong lòng cũng quên đi sự giàu có của mình. Như thế mới càng đáng quý.

如切如磋,如琢如磨 – Như thiết như tha, như trác như ma: câu thơ này có hai giải thích. (Giống như chú thích (4) nên không chép lại ở đây). Theo giải thích của người xưa, thuyết thứ nhất thích hợp hơn.

其斯之谓与 – Kì tư chi vị dư: câu này theo các câu nêu ra phía trước, Tử Cống nghe Khổng tử giảng, biết vô siểm vô kiêu (không siểm nịnh không kiêu ngạo), có thể là do bản chất tốt đẹp tự nhiên từ lúc sinh ra; nhưng việc lạc đạo hiếu lễ (vui với đạo, ngôn hành tuân theo lễ), tất phải trải qua công phu học tập. Theo phần giảng giải ở sau, Tử Cống nghe Khổng tử giảng, vô siểm vô kiêu không bằng lạc đạo hiếu lễ, mà biết ý nghĩa của đạo là vô cùng, càng về sau càng thâm sâu, như sách Thi từng nói. Cái ngộ ra của Tử Cống, có lẽ là ngộ ra sự vô cùng của nghĩa lý (đạo lý). Xét đến nghĩa lý vô cùng, nên không thể bỏ đi học vấn.

告诸往而知来者 – Cáo chư vãng nhi tri lai giả: vãng: thứ đã xảy ra; lai: thứ chưa xảy ra. Theo câu trước mà giải thích, vô siểm vô kiêu không bằng lạc đạo hiếu lễ, là lời Khổng tử đã nói. Còn những lời trong kinh Thi về công phu học vấn, là lời Khổng tử chưa nói, Tử Cống đã ngộ ra đến đây, do đó Khổng tử khen ngợi là có thể cùng Tử Cống bàn về Thi. Theo câu sau mà giải thích, Khổng tử vừa nói vô siểm vô kiêu không bằng lạc đạo hiếu lễ, Tử Cống đã ngộ đến câu Thi này, để thấy tất cả mọi sự việc đều như vậy, không thể yên ổn, hài lòng với thành tựu nhỏ nhoi, mà không cố gắng để truy cầu sự tinh tiến. Cách giải thích đầu thỏa đáng dễ hiểu, cách giải thích sau quanh co phức tạp, nay chọn cách giải thích đầu.

Chương này có thể hiểu như sau: Tử Cống nói: “người nghèo có thể không siểm nịnh, người giàu có thể không kiêu ngạo, như thế có được không?” Khổng tử nói: “thế cũng tính là tốt, nhưng vẫn không bằng nghèo nhưng vẫn có thể vui với đạo, giàu nhưng vẫn biết hiếu lễ, như vậy sẽ càng tốt hơn.” Tử Cống nói: “Thi Kinh từng nói: giống như cắt, gọt, mài, giũa, không phải chính là ý tứ này chăng?” Khổng tử nói: Tứ à! Như thế này, có thể cũng con bàn luận Thi rồi. Nói với con điều này, con đã có thể hiểu đến điều khác.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Phần này nói đến Tử Cống. Chúng ta đặc biệt lưu tâm đến người này. Trước đây đã từng nhắc đến, Tử Cống trong số các đệ tử của Khổng tử, không những là nhà học vấn, mà còn là nhà ngoại giao, nhà chính trị, theo quan niệm hiện đại, còn là một cự tử (ông trùm) trong giới công thương.

Đọc Sử ký của Tư Mã Thiên, có thể thấy một thiên -货殖列传 – Hóa thực liệt truyện, bộ sách Sử ký này, trong lịch sử văn hóa Trung Quốc, có giá trị vô cùng. ‘Hóa thực liệt truyện’ nói về các nhà thương nghiệp, nói về tình hình phát triển kinh tế công thương xã hội. Văn hóa Trung Quốc trong quá khứ trước sau đều là khinh thường thương nghiệp, cái gọi là sĩ, nông, công, thương, đẳng cấp xã hội của thương nhân, ở hàng thấp kém nhất trong tứ dân, bị xã hội coi thường, mà Tư Mã Thiên đã đặc biệt đề cập đến thương nhân, viết ra chương sách này. Lịch sử Trung Quốc về sau đó, mới có tinh thần ‘Hóa thực liệt truyện,’ cũng ghi chép các việc của giới kinh thương. Tư Mã Thiên khi viết ‘Hóa thực liệt truyện,’ là đã nhận thấy sự phát triển của xã hội công thương liên quan đến huyết mạch chính trị quốc gia, không thể không chú ý, nhưng lúc đó không thể thúc đẩy một cách lộ liễu như vậy, cho nên ông đã viết ra ‘Hóa thực liệt truyện,’ ở trong bao gồm rất nhiều các ẩn ý ca ngợi.

[…]

Chúng ta nói đến Tử Cống, lại dẫn dắt đến Sử ký, Tư Mã thiên trong ‘Hóa thực liệt truyện,’ đặc biệt nhắc đến Tử Cống, phi thường giỏi giang, nếu nói cường điệu một chút, tư tưởng học thuyết của Khổng Tử, về sau có thể lưu truyền cho hậu thế, hoàn toàn dựa vào sức của Tử Cống.

Chương này rất đáng chú ý. Các chương trước chủ yếu giảng về học vấn, chương này miêu tả câu chuyện Tử Cống hỏi Khổng tử, như một đoạn phim vậy. Tử Cống nói, thầy ạ, một người rơi vào cảnh nghèo, thiếu may mắn, mà vẫn không nịnh nọt ton hót, không cúi đầu; một người giàu có đắc ý, mà vẫn có thể đối với người khác không kiêu ngạo, như thế nào? […]

Chúng ta thường nghe nói ‘đắc ý vong hình’ (i), nhưng theo kinh nghiệm cuộc sống vài chục năm của ta, cần có thêm một câu, “thất ý vong hình.” Có người vốn là khá tốt, khi anh ta phát tài, đắc ý, xử lý mọi việc đều rất hợp lý, đích đáng, gặp người khác cũng hòa nhã giữ lễ; nhưng một khi anh ta thất ý, đến người khác cũng ko muốn gặp, thể hiện ra một bộ dạng đáng ghét, cảm giác tự ti, các loại phiền não đều đến, con người hoàn toàn thay đổi – thất ý vong hình. Do đó ta mới lĩnh hội được một câu mà Mạnh tử nói: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất (ii). Một người có học vấn, chỉ cần làm được “bần tiện bất năng di” – có thể đạt tới sự thanh nhàn, bình thản, cái gọi là “duy đại anh hùng năng bản sắc”- chỉ có đại anh hùng mới có thể giữ được bản sắc (iii), vô luận đắc ý thế nào cũng vẫn giữ được như vậy, thất ý cũng vẫn như vậy, kể cả không có cơm ăn áo mặc cũng vẫn như vậy, đây gọi là tu dưỡng đến cảnh giới cao, đạt được tu dưỡng như thế này là rất khó.

Do đó câu Tử Cống nói “bần nhi vô siểm, phú nhi vô kiêu,” đích xác không dễ dàng, rất khó đạt được. Nhưng Khổng tử chỉ nói “cũng được” mà thôi. Ở đằng sau hãy còn “nhưng,” nhưng gì? “Vị nhược bần nhi lạc, phú nhi hiếu lễ giả dã.” Anh có thể đạt được đến mức là nghèo, thất ý nhưng không cúi đầu trước người khác, không nịnh nọt, tự cho bản thân như thế là to, không để người khác vào mắt, kì thực lại đầy sự yếu kém trong lòng, hoặc là anh cảm giác người khác tốt hơn, bản thân kém hơn, thế cũng là giữ một loại tâm lý so sánh, tâm lý thù nghịch, do đó tu dưỡng vẫn chưa đủ. Cùng một đạo lý như vậy, anh đạt được giàu có nhưng không kiêu, dùng lễ đối đãi với người khác, do anh cảm thấy bản thân có tiền có địa vị, không dùng thái độ này đối xử với người khác là không được, như thế cũng không đúng, vẫn là giữ cảm giác ưu việt hơn người khác. Do đó nếu đạt đến sự bình dị, thật sự không kiêu ngạo, tức là ở bất cứ vị trí nào, trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng đều có thể bình thường thành thực như vậy, như thế mới là đúng. Vì vậy Khổng tử nói với Tử Cống, như những gì con nói, mới gọi là đạt mà thôi, hãy nên tiến thêm một bước nữa, làm được “bần nhi lạc, phú nhi hiếu lễ.” An bần lạc đạo – An ổn trong cảnh nghèo mà vui với đạo. “An bần” là vô cùng khó, Khổng tử sau đó còn có câu “Quân tử, tố phú quý, hành hồ phú quý, tố bần tiện, hành hồ bần tiện” – quân tử, ở vào cảnh phú quý, nên làm việc người phú quý nên làm; ở vào cảnh nghèo khổ, làm việc người ở cảnh nghèo khổ nên làm (iv). Do đó, có một số người bạn rất xuất sắc, rất thanh cao, lúc nói chuyện phiếm thường hỏi: Anh xem tôi, con người như thế nào? Ta nói: Con người tôi không hoàn toàn đồng ý với anh, anh rất thanh cao, chẳng qua có một chút tùy tiện trong việc truy cầu sự thanh cao. Một người nên thanh cao, nhưng có người theo đuổi sự thanh cao một cách tùy tiện cẩu thả, hoặc vì thể hiện sự thanh cao của bản thân, mà nhẫn nhịn hy sinh. Như thế thật sự là không cần thiết, chính là không bình thường, không bình thường không phải tinh thần chân chính của việc hàm dưỡng, tu dưỡng bản thân. Do đó Khổng tử nói với Tử Cống, cần phải an bần lạc đạo, cần bình thường thành thực, Khổng tử nói nếu như đã đạt đến việc là không kiêu ngạo rồi, vẫn chưa tính là tốt, cần tiến thêm một bước nữa, hiếu lễ, tôn trọng người khác và yêu người khác.

Phú nhi hiếu lễ, chúng ta tiếp xúc với nhân sĩ giới công thương là có thể nhìn ra, những người có tiền trong xã hội, có người vô cùng đáng ghét, không có học vấn (v), mở miệng ra là dung tục không chịu nổi, do đó giàu có không nhất định là hiếu lễ. Hiếu lễ không nhất định là chỉ nói lễ mạo, mà là trong các phương diện học vấn, làm người, luôn luôn cầu tiến. Giả dụ một người thật sự giàu có, có thể không ngừng truy cầu học vấn, không ngừng chú ý đến đạo lý làm người, hành xử, như thế mới là tốt. Có người sau khi công thành danh toại, thường thoát ly dần quan hệ với người thân, bạn bè, đây là việc thật đáng tiếc.

Nói đến đây, lại thấy, biết Tử Cống đã phục thầy, Khổng tử vô cùng xuất sắc, do đó Tử Cống mới nói một câu: ‘Thi vân, ‘như thiết như tha! như trác như ma,’ kì tư chi vị dư!’ Thi này là thơ cổ, ai viết vậy? Là tiền bối cổ nhân viết, thời đó lưu truyền rất rộng. “Như thiết như tha, như trác như ma.” Tám chữ này là dẫn nguyên tác thơ cổ. Bài thơ này nói về phương pháp làm ngọc thạch, lúc mới đầu chỉ có một tảng đá có ngọc to bằng cái mặt bàn. Mua về, trước tiên cần cắt ra, ở trong có thể có hàng trăm mặt nhẫn, cũng có thể chỉ có chục cái. Bước đầu tiên làm vật dụng bằng ngọc, là dùng cưa để cưa tảng đá ra, gọi là thiết (bổ, cắt); tìm thấy ngọc, thì dùng giũa để giũa phần đá ra, là bước thứ hai gọi là tha (giũa); sau khi giũa ra được miếng ngọc, thì từ từ khắc, mài, mài thành hình nhẫn, hình kê tâm (tim gà), hình vòng tay, một hình hay vật dụng nào đó, đây là trác (mài); cuối cùng cần đánh cho bóng lên, khiến cho ngọc phát ra ánh sáng mĩ lệ thu hút, là ma (mài, cọ, xát). Thiết, tha, trác, ma, đây chính là ví dụ cho giáo dục. Một người sau khi sinh ra, cần tiếp thu giáo dục, cần từ kinh nghiệm cuộc sống, mà học hỏi dần, học vấn tăng một bước, công phu càng tinh thế, vượt qua được, học vấn càng khó, vì thế mới “như thiết như tha, như trác như ma, kì tư chi vị dư!.” Câu này đặc biệt đề cao tư tưởng của Khổng tử, như Tử Cống nói: Theo đuổi học vấn như việc chế tạo ngọc, thiết tha trác ma, con hiểu rồi. Sau đó Khổng tử mới trả lời Tử Cống: ‘Tứ dã! Thủy khả dữ ngôn “Thi” dĩ hĩ, cáo chư vãng nhi tri lai giả.’ Khổng tử nói Tử Cống hiểu được đạo lý này, giờ có thể bắt đầu đọc Thư, cũng có thể bắt đầu đọc Thi, vì ta vừa mới chỉ ra đạo lý này, con đã tự suy ra được đạo lý khác. […]

Nhưng câu này nghiên cứu sâu vào lại nảy sinh ra một vấn đề, là vấn đề về “thi” (thơ). Chúng ta biết văn hóa Trung Quốc, trong lĩnh vực văn học, có một quá trình phát triển, đại thể tình hình, từ cái gọi là Hán văn, Đường thi, Tống từ, Nguyên khúc, Minh tiểu thuyết, đến triều Tranh, ta cho là đối liễn, đặc biệt như danh tướng thời kỳ Trung Hưng là Tằng Quốc Phiên, Tả Tông Đường đã phát triển đối liễn đến trình độ cao. Diễn biến hình thái văn học vài nghìn năm của Trung Quốc, đại loại là như vậy.

Trưa hôm nay có một vị học giả, nói đến tác phẩm của rất nhiều người, ông ý nói đã xem qua một số tác phẩm, tùy tiện mà xem, không chú ý lắm. Hiện tại một số tác phẩm xem thật là khó. Ông ý nói là thật vậy. Có một số người có thiên tài văn học, thuận tiện viết vài câu, từ cách viết mà nhìn, liền biết ngay anh ta sẽ có thành tựu trong lĩnh vực văn học; cũng có những người có tài học một đời, nhưng cũng không thể biến thành nhà văn. Mặc dù viết văn có thể viết khá tốt, nhưng đến một trình độ nhất định nào đó, bỏ ra công phu như thế nào cũng không thể đột phá giới hạn của mình, văn chương của anh ta trước sau chỉ như văn chương của một nhà khoa học. […]

Cho đến thơ, trước đây chúng ta đọc sách, có không ít người từ tiểu học (không phải tiểu học ngày nay) đã bắt đầu học thơ. Người nào cũng biết làm thơ, mặc dù có phải nhà thơ hay không, lại là một vấn đề khác. Có người hỏi chúng ta coi trọng việc dạy thơ từ khi nào, đây là một vấn đề rất lớn. Thiên “Vi Chính” tiếp theo sẽ có một phần quan trọng, giải thích cho vấn đề này. Mọi người hay cho rằng, làm thơ chính là không có bệnh mà kêu rên (vi), biến thành thợ làm thơ. Hồi trước cũng có người giễu cợt loại thơ này, cái gọi là “quan môn bế hộ yểm sài phi” (vii) – đóng cổng, đóng cửa, đóng cửa phên, đóng cổng chính là đóng cửa, đóng cửa cũng là đóng cổng, đóng cửa phên cũng là đóng cổng. Bằng trắc rất đúng luật, vần cũng rất đúng, nhưng nếu tập hợp lại với nhau, chẳng có ý nghĩa gì. Đây chính là không có bệnh mà kêu rên, loại văn chương như thế này, thực tại có vấn đề, đã biến thành “quan môn bế hộ yểm sài phi.” […]

Ở đây lời Khổng tử nói với Tử Cống, đề cập đến đạo lý của “Thi” là gì, người làm thơ học thơ, không chỉ là để làm một nhà thơ […]. Mục đích của thơ, không phải là chuyên làm văn học, đạo lý ở trong vô cùng quan trọng. Liên quan đến văn hóa thơ, Khổng tử tiếp theo đã nói với Tử Cống, đọc thơ, không phải là để dạy con trở thành một con mọt sách chua chát, nhất định cần “cáo chư vãng nhi tri lai giả.” Nào phải chỉ làm thơ, chúng ta học lịch sử cũng như vậy, chúng ta tại sao phải học lịch sử? Hiện tại việc học và nghiên cứu lịch sử tại các viện nghiên cứu và khoa lịch sử của các trường đại học, mặc dù đạt được rất nhiều thành tựu, nhưng đối với việc làm người, hành xử, lại không có chút tác dụng nào. Trong quá khứ chúng ta học lịch sử, chủ trương “học dĩ trí dụng” – học là có thể dùng (viii), tinh thần chính là “cáo chư vãng nhi tri lai giả,” hiểu được quá khứ liền biết được tương lai, đây chính là tinh thần của thơ.

Đến cuối cùng, đây chính là kết luận của một thiên Luận ngữ. Mọi người có thể dễ dàng nhận thấy, mở đầu của Thiên thứ nhất “Học nhi” của Luận ngữ: “Học nhi thời tập chi bất diệc duyệt hồ? hữu bằng tự viễn phương lai bất diệc lạc hồ? Nhân bất tri nhi bất uấn bất diệc quân tử hồ?” Chúng ta xem Thiên này kết luận như thế nào?  Có thể thấy mở đầu kết luận liên kết đến nhau.

(i) Đắc ý vong hình -得意忘形 – dé yì wàng xíng (hình ở đây là hình thái; hình dung người đắc ý, cao hứng đến độ mất đi cả tư thế thường ngày. Câu trong Tấn thư, Nguyễn Tịch truyện).

(ii) Nguyên văn câu của Mạnh tử: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, thử chi vị đại trượng phu – 富贵不能淫,贫贱不能移,威武不能屈,此之谓大丈夫. Đây là ba tiêu chuẩn nam tử hán đại trượng phu do Mạnh tử đề xuất: vinh hoa phú quý không thể nhiễu loạn tâm trí được, nghèo khó bần cùng không thể khiến cho thay đổi ý chí được, cường quyền uy vũ không thể làm cho khuất phục được, chỉ khi đạt được 3 tiêu chuẩn này, mới có thể gọi là nam tử hán đại trượng phu chân chính.

(iii) Có một câu ghép từ thời Minh: Duy đại anh hùng năng bản sắc, Thị chân danh sĩ tự phong lưu -唯大英雄能本色,是真名士自风流.

(iv) Quân tử, tố phú quý, hành hồ phú quý; tố bần tiện, hành hồ bần tiện -君子,素富贵,行乎富贵;素贫贱,行乎贫贱 – quân tử, ở vào cảnh phú quý, nên làm việc người phú quý nên làm; ở vào cảnh nghèo khổ, làm việc người ở cảnh nghèo khổ nên làm. Câu này là ở trong Lễ Ký.

(v) Bất học vô thuật -不学无术 – bù xué wú shù (Câu trong Hán thư; nguyên chỉ không có học vấn do đó mà không có biện pháp, hiện chỉ không có học vấn, không có bản lĩnh, tài năng).

(vi) Vô bệnh thân ngâm – 无病呻吟 – wú bìng shēn yín (xuất từ một bài Lâm Giang tiên của Tân khí Tật thời Tống; không có bệnh mà kêu rên; dùng để hình dung không có việc gì ưu thương nhưng lại than thở cảm thương, cũng để hình dung tác phẩm nghệ thuật không có tình cảm thật sự, chỉ giả vờ mà làm thành).

(vii) Quan môn bế hộ yểm sài phi -关门闭户掩柴扉 – đóng cổng, đóng cửa, đóng cửa phên: nói chung để ám chỉ làm thơ lải nhải, trong thơ mỗi câu đều nhắc lại cùng một ý, một sự việc, chỉ là lắp ghép các từ khác nhau lại với nhau.

(viii) Học dĩ trí dụng – 学以致用 – xué yǐ zhì yòng (học được kiến thức là có thể sử dụng trong thực tế).

Hàn sinh

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.10

*Chương này có phần phân tích bình luận của Nam Hoài Cẩn rất hay, mở rộng ra nhiều kiến thức bổ ích. Ta mất hơn 2 tuần để cố gắng dịch cho hết. Mọi người cố đọc 🙂

Thiên 1: học nhi. Chương 1.10

子禽问于子贡曰:“夫子至于是邦也,必闻其政,求之与,抑与之与?”子贡曰:“夫子温、良、恭、俭、让以得之。夫子之求之也,其诸异乎人之求之与?”

Zǐ Qín wèn yú Zǐ Gòng yuē :“fū zǐ zhì yú shì bāng yě ,bì wén qí zhèng ,qiú zhī yǔ, yì yǔ zhī yǔ ?” Zǐ Gòng yuē :“fū zǐ wēn 、liáng 、gōng 、jiǎn 、ràng yǐ de zhī 。Fū zǐ zhī qiú zhī yě ,qí zhū yì hū rén zhī qiú zhī yǔ ?”

Tử Cầm (1) vấn ư Tử Cống (2) viết: “Phu tử (3) chí ư thị bang (4) dã, tất văn kì chính, cầu chi dư, ức (5) dữ chi dư?”

Tử Cống viết: “Phu tử ôn, lương, cung, kiệm, nhượng (6) dĩ đắc chi. Phu tử chi cầu chi dã, kì chư (7) dị hồ nhân chi cầu chi dư?”

(1) Tử Cầm: Có sách nói là học sinh của Khổng Tử, có sách lại nói không phải là học sinh của Khổng tử.

(2) Tử Cống – 子贡 – Zǐ Gòng: Học Đoan Mộc tên Tứ, tự Tử Cống, người nước Vệ, nhỏ hơn Khổng tử 31 tuổi, là học sinh của Khổng tử, sinh năm 520 trước công nguyên. Tử Cống giỏi biện luận, Khổng tử cho rằng Tử Cống có thể làm tể tướng một quốc gia lớn. Theo Sử ký, Tử Cống ở Vệ quốc làm thương nhân, nhà có tài sản nghìn vàng, là một nhà thương nghiệp nổi danh.

(3) Phu tử – 夫子 – fū zǐ: đây là một loại xưng hô tôn kính thời cổ đại, những người từng làm qua chức đại phu đều có thể được gọi như thế này. Trong sách Luận ngữ, phu tử đều là đệ tử gọi Khổng tử.

(4) Bang- 邦 – bāng: chỉ các quốc gia chư hầu cát cứ đương thời.

(5) Ức – 抑 – yì: liên từ biểu thị sự lựa chọn, có nghĩa là “hay là”, “hoặc là,” or.

(6) Ôn, lương, cung, kiệm, nhượng – 温、良、恭、俭、让 –  wēn 、liáng 、gōng 、jiǎn 、ràng: ôn thuận, thiện lương, cung kính, kiệm phác, khiêm nhượng. Đây là những tán dương của đệ tử giành cho Khổng tử.(Kiệm phác: chữ phác trong chất phác, phác có nghĩa là giản dị, thật thà).

(7) Kì chư – 其诸: từ ngữ khí, có nghĩa “đại khái” (đại thể, khái quát, general idea, probably, ),  “hoặc giả” (hoặc là, maybe, or, possibly).

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Tử Cầm hỏi Tử Cống: “thầy đến mỗi nước, đều tham dự nghe về chính sự của nước này. (Loại tư cách này) là thầy tự cầu, hay là quân chủ của các nước chủ động cấp cho thầy? ”

Tử Cống nói: Thầy ôn, lương, cung, kiệm, nhượng, do đó mới đạt được tư cách như thế này, (loại tư cách này cũng có thể nói là cầu được), nhưng phương pháp cầu của thầy, có lẽ so với phương pháp cầu của người khác không giống nhau chăng?

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Chương này thông qua đối thoại giữa Tử Cầm và Tử Cống, vẽ nên phẩm cách làm người, xử thế của Khổng Tử. Bậc thống trị của các nước lấy lễ và lòng kính trọng đối đãi Khổng tử, là do Khổng tử có đầy đủ các phẩm chất đạo đức ôn hòa, thiện lương, cung kính, kiệm phác, khiêm nhượng. Ví dụ, “nhượng” trong năm phẩm chất đạo đức này, trong quá trình xây dựng nên nhân cách con người, có thể đem lại tác dụng thập phần quan trọng. “Nhượng” là trong công, danh, lợi, quyền thực hành “tiên nhân hậu kỷ” – người trước ta sau, trong chức trách nghĩa vụ thực hành “tiên kỷ hậu nhân” – ta trước người sau. Nhượng dùng trong ngoại giao ví dụ như trong việc thăm viếng ngoại giao các nước, cũng là một điều kiện quan trọng theo nhu cầu khách quan. Khổng tử chính là vì có đầy đủ các loại phẩm cách này, do đó mỗi lần đến một nước, đều được quân chủ các nước dùng lễ mà đãi. Khổng tử cho rằng, háo thắng, tranh đoạt danh tiếng, khoa trương công trạng, tranh đoạt danh lợi; tranh không được liền oán hận người khác, cũng như trong danh lợi lòng tham không biết đủ, đều không phù hợp nguyên tắc của nhượng. Căn cứ theo đây có thể biết, chỗ đáng ca ngợi của nguyên tắc cơ bản “nhượng” này trong việc hình thành nên phong tục tập quán của xã hội là: theo nhân tình mà nói, giữ phong tục luôn khiêm nhượng danh lợi địa vị, ai cũng có thể học nhiều hơn từ sở trường của người khác mà từ sở đoản của người khác lấy làm gương răn bảo. Người trước có thể khiến cho mọi người đoàn kết, thân mục (thân thiết hòa mục), hướng thiện; người sau lại dụ người “tật hiền đố năng” – ghen người hiền ghét người giỏi (i). Hiệu quả xã hội của họ thật hoàn toàn tương phản.

(i) Tật hiền đố năng – 嫉贤 妒能  –  jí xián dù néng: ghen ghét đố kị người hiền tài, câu xuất phát từ Sử ký.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Ôn, lương, cung, kiệm, nhượng: năm loại thái độ biểu lộ ở bên ngoài, có thể từ đó mà suy ra tu dưỡng đạo đức chứa đựng trong con người. Khổng tử vì có tu dưỡng đạo đức này, ánh sáng lan ra người khác, có thể không lời nào mà khiến người khác cảm thấy hòa lạc, do đó mà đạt được sự kính trọng tin tưởng của người khác, họ tự đem việc chính sự của họ ra hỏi […].

Tử Cống giỏi trong việc nói về thánh nhân, chương này đưa ra  ôn, lương, cung, kiệm, nhượng, tổng cộng năm từ, mà tấm lòng, khí chất, thái độ của Khổng tử, sống động như tận mắt chứng kiến. Người học cẩn thận nghiền ngẫm, có thể bất giác mà giảm đi tính hung ác kiêu căng ngạo mạn.  Lại biết trong nhân gian tự có đạo không cầu mà được. Điều này so với hành vi xảo ngôn lệnh sắc (i), thật cách xa nhau […].

Câu này diễn giải là,

Tử Cầm hỏi Tử Cống: Thầy của chúng ta mỗi lần đến nước nào, đều dự nghe chính sự nước đó, đây là do có lòng cầu được việc này, hay do người ta tự nguyện cho thầy? Tử Cống nói: Thầy của chúng ta là dùng trái tim ôn hòa, lương thiện, cung trang (cung kính nghiêm trang), tiết chế, khiêm nhượng mà đạt được. Cái cầu của thầy chúng ta, chắc phải luôn khác biệt so với phương pháp cầu của người khác.

(i) xem lại Thiên 1. Chương 1.3

[Luận ngữ biệt tài Nam Hoài Cẩn]

“Ôn” là tuyệt đối ôn hòa, dùng từ ngữ hiện đại nói thì là bình hòa. “Lương” là thiện lương, đạo đức. “Cung” là cung kính, cũng là nghiêm túc. “Kiệm” là không lãng phí. “Nhượng” là luôn khiêm nhượng hữu hảo, lý trí (rational – YL), đặt mình ở cuối cùng. Năm chữ này, cũng có thể gọi là năm điều kiện. Miêu tả phong độ, tính cách và tu dưỡng của Khổng tử, năm chữ này bao hàm rất nhiều ý nghĩa, cũng là những thứ mà Nho gia Trung Quốc dạy con người ta làm người, do đó cần bỏ công nghiên cứu kỹ về năm chữ này.

Nói đến ôn, lương, cung, kiệm, nhượng năm chữ này, thì dính dáng đến toàn thể căn nguyên của văn hóa Trung Quốc. Vì lý do này, chúng ta trước hết cần nghiên cứu một quyển sách – Lễ Ký. Lễ Ký là một kho tàng bảo vật của văn hóa Trung Quốc. Tư tưởng “đại đồng” của chúng ta, chính là một phần của thiên 礼运 – “Lễ Vận” trong Lễ Ký. Muốn hiểu cơ sở triết học của tư tưởng “đại đồng,” cần phải nghiên cứu rõ toàn bộ thiên “Lễ Vận” này. Do đó Lễ Ký là bảo khố của văn hóa chúng ta, cũng là nơi chứa tinh thần hiến pháp của hàng nghìn năm từ quá khứ đến nay, ở trong bao gồm cả học vấn hiện đại: chính trị, kinh tế, triết học, giáo dục, xã hội, khoa học, cái gì cũng có, thậm trí cả thuốc chữa bệnh, vệ sinh, bất kỳ quan niệm khoa học nào của người Trung Quốc xưa, đều có cả. Do đó nếu muốn hiểu căn nguyên của văn hóa Trung Quốc, không thể không nghiên cứu Lễ Ký. Không chỉ riêng Lễ Ký, nói một câu khác, muốn hiểu văn hóa Trung Quốc, hiểu tư tưởng Khổng Mạnh, hiểu căn nguyên  của Nghiêu, Thuấn, Vũ Thang, Văn, Võ, Chu công, Khổng tử đến nay, tất phải hiểu Ngũ Kinh của họ.

Nói đến Ngũ Kinh, trong Lễ Ký có một thiên 经解 –  “Kinh Giải,” là tổng kết của  Ngũ Kinh. Tại sao lại nói như vậy? Từ quan niệm hiện đại mà nói, thiên này chính là giới thiệu một cách đơn giản các điểm quan trọng của Ngũ Kinh: đối với mỗi quyển Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân Thu đều tổng kết lại trong một hai câu. Thiên “Kinh Giải” nói: “孔子曰:入其国,其教可知也。”- “Khổng tử viết: nhập kì quốc, kì giáo khả tri dã” – ý nghĩa là, đến một nơi nào, quan sát phong tục lề thói xã hội, thì có thể biết văn hóa giáo dục tư tưởng của nơi đó.

Thiên “Kinh Giải” viết tiếp: “其为人也,温柔敦厚,诗教也” – “Kì vi nhân dã, ôn nhu  đôn hậu, Thi giáo dã ” – Nếu làm người, [mà] ôn nhu đôn hậu,  [là do] Thi dạy vậy. Cái gọi là giáo dục “thi” – thơ, chính là để bồi dưỡng thành người ôn nhu đôn hậu. Nói đến chữ “ôn” trong ôn, lương, cung, kiệm, nhượng, cần chú ý đến tinh thần “thi giáo”- dạy thơ mà Khổng tử nói đến (hiện tại chưa phải lúc chúng ta đi sâu vào phương diện này, tạm thời chỉ nêu ra đây để tham khảo).  

“疏通知远,书教也” – “Sơ thông tri viễn, Thư giáo dã” – Thông đạt (sự lý), hiểu biết xa rộng, [do] Thư dạy vậy.    书经 – “Thư Kinh” còn gọi là 尚书 – “Thượng Thư,” là bộ lịch sử đầu tiên của Trung Quốc, cũng không chỉ nói về lịch sử, mà còn là bộ tư liệu đầu tiên về lịch sử văn hiến Trung Quốc. Hiện tại người phương Tây học lịch sử, (hiện tại phương pháp nghiên cứu lịch sử của chúng ta, đa phần là theo quan niệm của phương Tây), như đi vào ngõ hẹp của môn sử học vậy (i), chỉ chuyên môn nghiên cứu kiến thức lịch sử, có phương pháp lịch sử, chú thích lịch sử, ảnh hưởng của lịch sử đến mỗi một thời đại. Ở Trung Quốc trong quá khứ, không phân rõ nhà học thuật và nhà văn học, cũng không phân rõ nhà học thuật và và nhà triết học. Người Trung Quốc trong quá khứ đọc lịch sử với mục đích là để hiểu nhân sinh, hiểu chính trị, hiểu quá khứ mà biết đường dẫn dắt tương lai, do đó cần chúng ta “sơ thông tri viễn.” Người học lịch sử, cần thông đạt, thông hiểu thấu triệt nhân tình thế thái, hiểu biết xa rộng. Đạo lý “xa rộng” này, ta có thể một câu chuyện để thuyết minh: ta có một người bạn làm ngoại giao phải ra nước ngoài nhận nhiệm vụ, ta tặng bạn một đối liễn, chép lại một câu của cổ nhân:  “世事正须高著眼,宦情不厌少低头” – Thế sự chính tu cao trước nhãn,Hoạn tình bất yếm thiểu đê đầu. Ai cũng nên như thế này, người làm ngoại giao càng nên vận dụng tốt câu này. Đối với thế cục biến hóa, bước phát triển của tương lai, cần có nhãn quang (tầm nhìn),  cần nhìn xa trông rộng. “Hoạn tình” là tình thái (tình trạng, thái độ, thần thái) của người làm quan, cần có nhân cách, đặc biệt là người làm ngoại giao, đại diện cho  “quốc cách” (nhân cách của quốc gia), đại diện cho nhân cách của toàn dân, cần có cốt khí,  có thể đứng thẳng, ít cúi đầu, không hề sợ “thiểu đê đầu.” Không có khả năng miễn cưỡng thích ứng với người khác, thì làm thế nào mới làm được? Chính là hiểu được lịch sử, sơ thông tri viễn,  đây là tinh thần giáo dục của “Thư Kinh.”

“广博易良,乐教也。” – “Quảng bác dị lương, Nhạc giáo dã” – Quảng bác bình dị thiện lương, [do] Nhạc dạy vậy. Nhạc/lạc bao gồm âm nhạc, nghệ thuật, văn nghệ, thể thao các loại. Trong văn hóa truyền thống của chúng ta, tất cả các hạng mục này đều nằm trong “nhạc/lạc,” ý nghĩa quan trọng của cái gọi là bồi dưỡng giáo dục về nhạc/lạc, là dưỡng thành một người có tấm lòng, học thức “quảng bác” – học nhiều biết rộng;  “dị lương” là biến từ xấu thành tốt, bình dị thiện lương.

“絜静精微,易教也。”-  “Khiết tĩnh tinh vi, Dịch giáo dã” – Đạt đến độ thanh khiết, an tĩnh, tinh vi, [do] Dịch dạy vậy. Ý nghĩa của “Dịch Kinh” – Kinh Dịch, là kết tinh văn hóa của tổ tiên truyền lại. Tổ tiên của chúng ta trước khi sáng tạo ra văn học, dùng bát quái họa đồ ghi lại sự việc để biểu đạt ý tứ. Cái gì gọi là khiết tĩnh? Là tính thanh khiết của triết học tông giáo; “tinh vi” là liên quan đến khoa học. Tư tưởng của Kinh Dịch là từ khoa học đến triết học, dung hợp triết học, khoa học, tông giáo ba loại tinh thần. Do đó nói “khiết tĩnh tinh vi, Dịch giáo dã.”

Cho đến “恭俭庄敬,礼教也。” – “Cung kiệm trang kính, Lễ giáo dã” – [Hành xử] cung kính, tiết chế, khiêm tốn, nghiêm trang, [do] Lễ dạy vậy. Đây là về tu dưỡng nhân cách, rèn luyện nhân phẩm.

“属辞比事,《春秋》教也。” – “Chúc từ tỉ sự, Xuân Thu giáo dã”- [Biết] kết nối văn từ, phân loại sự việc, [do được] dạy Xuân Thu vậy.  “Xuân Thu” vừa do Khổng Tử làm ra, vừa là lịch sử. “Chúc từ tỉ sự” là gì? Xem hiểu “Xuân Thu” sách lịch sử này, có thể cung cấp cho chúng ta các loại thông tin về ngoại giao, chính trị, cho đến nhân sinh để tham khảo. Do trong nhân thế, ngọn nguồn, nhân quả của rất nhiều sự việc đều không có gì khác biệt, mới thường có người nói lịch sự là tái diễn. Đây là một vấn đề triết học, lịch sử có tái diễn không? Không có khả năng. Thật sự là không có khả năng sao? Có lẽ có khả năng, vì người xưa là người, chúng ta cũng là người, người Trung Quốc là người, người ngoại quốc vẫn là người, giữa con người với con người, hình thức trạng thái bất đồng, nhưng nguyên tắc lại chẳng thay đổi đến đâu cả, do đó nói lịch sử là lặp lại. Nhưng bất kể lịch sử tái diễn hay không tái diễn, đặc biệt khi văn hóa Trung Quốc có năm ngàn năm lịch sử, đối với việc làm người, xử thế, chỗ nào cũng có kinh nghiệm của người trước. Mặc dù hình thái xã hội thời cổ đại với xã hội của chúng ta không giống nhau, nguyên tắc lại như nhau, do đó đọc Xuân Thu, “chúc từ tỉ sự” (ii), liền có tri thức uyên bác, hiểu biết về từng sự việc đã xảy ra, người xưa cũng đã có sự việc như thế, sự việc này là thiện hay ác, phương pháp xử lý như thế nào đều biết, cái này gọi là “tỉ sự,” là do “Xuân Thu giáo dã.”

[…]

Ở dưới còn có: “故《诗》之失,愚” – “Cố Thi chi thất, ngu” – Thiếu sót của Thi là ngu. Người mãi mãi làm văn, trở thành con mọt sách đọc sách đến hủ lậu cả người, rất đáng ghét, đây chính là ngu ngốc. Loại học vấn nào cũng thế, có hai mặt phải trái, Ngũ Kinh cũng như vậy.

Tiếp theo ghi “《书》之失,诬” – “Thư chi thất, vu” – Thiếu sót của Thư, là ngoa, không thật [vu trong vu cáo, vu khống – YL]. Do đó người đọc lịch sử cần chú ý, đặc biệt là đọc lịch sử Trung Quốc càng cần chú ý, do lịch sử triều Tống là người triều Nguyên biên soạn, lịch sử triều Nguyên là người triều Minh biên soạn, lịch sử triều Minh là người triều Thanh biên soạn, sự tình cách lâu như vậy, mà ý kiến chủ quan, thành kiến của mỗi người lại không giống nhau, do đó những tên người, địa danh, thời gian được ghi trong lịch sử đều là thật, nhưng có lúc sự thật lại không giống thế, hoặc không thấy được hoàn chỉnh. Để bổ sung vào chỗ khiếm khuyết này, vẫn cần đọc sách vở khác của lịch sử. Sách vở khác là đọc cái gì? Xem tấu chương của các triều đại, chúng giống như xã luận báo chí của thời nay, là báo cáo kiến nghị của các đại thần đương thời. Tại sao cần xem báo cáo kiến nghị ? Có thể thấy vấn đề nêu ra trong đó, nếu không có vấn đề thì đã không cần kiến nghị. Vương Kinh Công Vương An Thạch triều Tống từng nói lười đọc “Xuân Thu,” cho rằng đây là một quyển sách cũ nát, đây cũng là quan niệm “thư chi thất, vu.” Điều này những người nghiên cứu và đọc lịch sử cần chú ý.

“《乐》之失,奢” – “Nhạc chi thất, xa” – Thiếu sót của Nhạc, là xa xỉ. Chỉ chú ý đến nghệ thuật các loại, sẽ dễ dàng làm cho phong tục lề thói của xã hội biến thành quá xa xỉ, phung phí.

“《易》之失,贼” – “Dịch chi thất, tặc” – Thiếu sót của Dịch, là hại [tặc trong đạo tặc, nghịch tặc, phản tặc – YL]. Một người nếu trên thông thiên văn, dưới thông địa lý, tay tính bát quái, chưa cần bói đã biết trước việc, người khác hãy còn chưa làm gì, anh ta biết hết, như thế có tốt không? Rất xấu! “察见渊鱼者不祥” – Sát kiến uyên ngư giả bất tường – tra rõ đến tận chỗ có thể nhìn thấy cá ở vùng nước sâu là chẳng tốt lành gì  (iii). Nếu không có cơ bản tu dưỡng đạo đức, người này sẽ “quỷ đầu quỷ não” – hành vi cử chỉ không quang minh chính đại (iv), lắm chiêu lắm trò. Do đó học Dịch có thể “trên thông thiên văn, dưới thông địa lý.” Tất nhiên rất quan trọng, nhưng “làm người” càng quan trọng, nếu làm người mà làm không tốt,  người xấu mà có tri thức càng nhiều, bản lĩnh làm việc xấu càng lớn, vì thế mà “dịch chi thất, tặc” vậy.

“《礼》之失,烦” – “Lễ chi thất, phiền”   – Thiếu sót của Lễ, là phiền [phiền trong phiền hà, có nghĩa là rắc rối, lôi thôi, rườm rà, hoặc gây phiền – YL]. Lễ rất quan trọng, chú trọng lễ quá mức lại gây phiền hà đến chết, giống như nói chúng ta toàn theo lý luận y học, hay tay không dám sờ vào bánh mì. Toàn theo lời của luật sư, đến đường cũng không dám đi, cử động liền phạm pháp. Nếu phải thực hiện lễ nghi, thì quá phiền. Do đó “lễ” cần vừa phải, thích đáng mới có lợi.

“《春秋》之失,乱” – “Xuân Thu chi thất, loạn” – Thiếu sót của Xuân Thu, là loạn. Hiểu được ý nghĩa của lịch sử Xuân Thu, tất nhiên là tốt, nhưng có lúc học lịch sử lại có vấn đề, giống như một người không nghiên cứu quân sự triết học, tất người này sẽ thành một người dân hoàn hảo không có vấn đề gì, đợi đến lúc nghiên cứu xong quân sự triết học, anh ta lại dễ gây loạn. Người không biết võ thuật, đến cuối cùng có thể chết già trên giường (v); người biết võ thuật, ngược lại chẳng có cái chết tốt đẹp, là cùng một đạo lý như vậy.

“Kinh Giải” đối với Ngũ Kinh,  mặt tốt mặt xấu đều nói. Còn một đoạn ở phía dưới, là nói cho chúng ta, tu dưỡng của Ngũ Kinh, cần đạt đến ôn nhu đôn hậu mà không ngu xuẩn. Người được như thế, mới có khả năng yêu thương bất kỳ người nào, yêu thương bất kỳ bạn bè nào. Thứ gọi là đôn hậu, đối với khuyết điểm của người khác, dễ dàng tha thứ bao dung, đối với sai trái của người khác, có thể từ từ cảm hóa, nhưng không phải là một con mọt sách viển vông, thiếu thực tế,  như thế mới là “深于诗者也” – “thâm ư thi giả dã” – đạt đến trình độ thâm sâu của người học thơ,  mới tính là giáo dục của Thi vậy. Tiếp theo Thư, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân Thu, đều như vậy (vi). Bây giờ chúng ta quay lại với Luận ngữ.

Tử Cống nói đến sự ôn, lương, cung, kiệm, nhương của Khổng Tử, là nói đến tu dưỡng của Khổng Tử, là tập hợp các thành tựu lớn của văn hóa truyền thống Trung Quốc cổ đại. Khổng tử có tu dưỡng cao thâm như thế này, có lẽ mục đích của Khổng tử, chính là “thục thế chủ nghĩa” – chủ nghĩa cải thiện xã hội của nước ta thời cổ đại (vii), Khổng tử luôn có tư tưởng cứu thế cứu dân, cũng là đại nghiệp thiên thu  của Khổng Tử mà chúng ta từng đề cập. Đại nghiệp  thiên thu chính là học vấn tư tưởng, […] sự nghiệp thiên thu của Khổng tử là tập hợp thành tựu văn hóa, tư tưởng, tinh thần của Trung Quốc, nhận thức rõ về nhiệm vụ của mình, hy sinh vinh hoa phú quý, mới có thể làm được. Do đó Tử Cống nói với Tử Cầm, hỏi thầy rốt cuộc tại sao lại như vậy? Hãy xem xem thầy là con người như thế này, nếu như nhất định phải nói rằng thầy có dã tâm, có mưu cầu đối với chính trị, chỉ e thứ thầy mưu cầu, cũng không phải là thứ mà người bình thường có thể hiểu được vậy.

(i) Nguyên văn: Toàn ngưu giác tiêm – 钻牛角尖 – zuān niú jiǎo jiān (khoan, dùi, đục đến mũi sừng trâu, đại loại là có một câu chuyện, một con chuột lọt vào sừng trâu, muốn đào về phía mũi sừng trâu, được khuyên là càng đào về phía đó càng hẹp, đi sai đường rồi, nhưng chuột không nghe, vẫn tiếp tục và chết trong đó. Câu này để chỉ phí lực nghiên cứu một vấn đề không đáng để nghiên cứu, hoặc không có cách để giải quyết, hoặc cũng để chỉ tư tưởng hoặc phương pháp còn hẹp).

(ii) Chúc từ tỉ sự – 属辞比事 – zhǔ cí bǐ shì: Câu trong Lễ Ký, nguyên là để chỉ việc liên kết, kết nối văn từ, sắp xếp sự việc, ghi chép lịch sử. Sau để chỉ việc làm văn ghi chép nói chung.

(iii) Sát kiến uyên ngư giả bất tường – “察见渊鱼者不祥” – chá jiàn yuān yú zhe bù xiáng: sát kiến uyên ngư có nghĩa là có thể tra rõ đến tận chỗ nhìn thấy (có bao nhiêu con) cá ở vùng nước sâu. Dùng để ví với việc có thể truy xét biết được việc riêng mà người khác muốn che dấu, hay không muốn công khai, ở đây mang ý nghĩa chê trách. Cả câu có nghĩa: sát kiến uyên ngư là không tốt, bất thiện, hoặc có thể là không tốt lành/ cát lợi gì. Câu của Liệt Tử.

(iv) Quỷ đầu quỷ não – 鬼头鬼脑 – guǐ tóu guǐ nǎo (đầu quỷ, não quỷ; hình dung hành vi cử chỉ dối trá bí hiểm, không quang minh chính đại. Câu trong sách Nho lâm Ngoại sử của Ngô Kính tử thời Thanh).

(v) Nguyên văn: Thọ chung chính tẩm – 寿终正寝 – shòu zhōng zhèng qǐn (thọ chung: sống rất thọ mới mất; chính tẩm: phòng ở chính. Nguyên chỉ già mất ở trong nhà, hiện nay dùng để chỉ việc sự vật đã diệt vong. Xuất xứ từ sách Phong Thần diễn nghĩa của Hứa Trọng Lâm thời Minh).

(vi) Nguyên văn thiên Kinh Giải trong Lễ Ký như sau (ở trên đều có giải nghĩa hết rồi, nếu đọc kỹ ở trên, tự khắc hiểu hết đoạn dưới này, vì thế cho nên không chép lại giải nghĩa ở đây):

孔子曰:“入其国,其教可知也。其为人也温柔敦厚,诗教也;疏通知远,书教也;广博易良,乐教也;絜静精微,易教也;恭俭庄敬,礼教也;属辞比事,春秋教也。故诗之失愚,书之失诬,乐之失奢,易之失贼,礼之失烦,春秋之失乱。其为人也温柔敦厚而不愚,则深于诗者也;疏通知远而不诬,则深于书者也;广博易良而不奢,则深于乐者也;絜静精微而不贼,则深于易者也;恭俭庄敬而不烦,则深于礼者也;属辞比事而不乱,则深于春秋者也。”

Khổng tử viết: nhập kì quốc, kì giáo khả tri dã. Kì vi nhân dã, ôn nhu đôn hậu, Thi giáo dã; sơ thông tri viễn, Thư giáo dã; quảng bác dị lương, Nhạc giáo dã; Khiết tĩnh tinh vi, Dịch giáo dã; Cung kiệm trang kính, Lễ giáo dã; Chúc từ tỉ sự, Xuân Thu giáo dã. Cố Thi chi thất, ngu; Thư chi thất, vu; Nhạc chi thất, xa; Dịch chi thất, tặc; Lễ chi thất, phiền; Xuân thu chi thất, loạn. Kì vi nhân dã ôn nhu đôn hậu nhi bất ngu, tắc thâm ư thi giả dã; sơ thông tri viễn nhi bất vu, tắc thâm ư thư giả dã; quảng bác dị lương nhi bất xa, tắc thâm ư nhạc giả dã; khiết tĩnh tinh vi nhi bất tặc, tắc thâm ư dịch giả xã; cung kiệm trang kính nhi bất phiền, tắc thâm ư lễ giả dã; chúc từ tỉ sự nhi bất loạn, tắc thâm ư xuân thu giả dã.

(vii) Thục thế chủ nghĩa  – 淑世主义 : chữ thục có nghĩa là trong trẻo, thanh khiết; khi dùng cho phụ nữ thì có nghĩa thiện, đẹp (như trong thục đức, thục nữ); tiếng Anh là good, pure, virtuous, charming.

Hàn Sinh, hôm nay ta là Hàn Sinh.

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.9

Thiên 1. Học nhi. Chương 1.9

1.9. 曾子曰:“慎终追远,民德归厚矣。”

Zēng zǐ yuē :“Shèn zhōng zhuī yuǎn ,mín dé guī hòu yǐ 。” 

Tăng tử viết: “Thận chung (1) truy viễn (2), dân đức quy hậu hĩ.”

(1) Thận chung –慎终 – Shèn zhōng: người chết là chung. Ở đây chỉ bố mẹ mất. Chú thích xưa viết: 慎终者丧尽其哀 – thận chung giả táng tận kì ai – cẩn thận để tang cha mẹ để tận lòng bi thương.

(2) Truy viễn – 追远 – zhuī yuǎn: viễn chỉ tổ tiên. Chú thích xưa viết: 追远者祭尽其敬 – truy viễn giả tế tận kì kính – nhớ tế bái tổ tiên để tận lòng kính trọng.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Tăng tử nói: cẩn thận đối với việc tang của cha mẹ, truy niệm tổ tiên, lâu dần tự nhiên có thể khiến cho lão bách tính trung hậu thật thà.

[Giải thích- Chưa rõ là ai]

Khổng tử vốn không tin sự tồn tại của quỷ thần, từng nói “kính quỷ thần nhi viễn chi” -敬鬼神而远之 – kính trọng quỷ thần nhưng tránh xa (i), chứng tỏ điều này. Mặc dù Khổng tử không đề cập đến việc con người chết đi có thứ gọi là linh hồn tồn tại hay không, nhưng Khổng tử cực kỳ coi trọng lễ tiết để tang, tế bái. Trong quan niệm của Khổng tử, việc tế tự đã mang ý nghĩa khác, không đơn giản chỉ là tế tự vong linh, mà là đem lễ tiết tế tự xem thành một loại biểu hiện đạo hiếu của con người, thông qua lễ tế, có thể ký thác và bồi dưỡng lòng tận hiếu của một người đối với cha mẹ và tổ tiên. Do đó, chương này tiếp tục tăng thêm nội dung cho quan niệm đạo đức và hành vi đạo đức của “hiếu.”

Nho gia coi trọng giá trị đạo đức “hiếu,” do hiếu là cơ sở của “trung,” một người không thể tận hiếu với cha mẹ, anh ta sẽ không thể tận trung với nước. Do đó trung là sự tiếp nối, mở rộng ra bên ngoài (xã hội) của hiếu. Quan niệm về “trung,” “hiếu” thường được nhắc đến trong Luận ngữ, chứng minh Nho gia cực kỳ coi trọng quan niệm đạo đức luân lý trung hiếu các loại, hy vọng lấy các giá trị này để tạo thành quân tử có giáo dưỡng “trung hiếu lưỡng toàn.” Điều này phù hợp với chế độ tông pháp thời Xuân Thu. Chỉ cần đạt được trung và hiếu, xã hội và gia đình đều có thể đạt được yên ổn.

(i) Câu này cũng trong Luận ngữ

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mục]

Thận chung: chung, từ ngữ chỉ tang lễ. Người mất sẽ không quay lại, hơn nữa càng đi càng xa. Nếu như lễ tiễn người đi  mà không làm hết sức, sau có hối cũng không kịp, do đó cần làm cẩn thận.

Truy viễn: viễn, từ ngữ chỉ tế lễ. Người đã mất cách ta lâu rồi, vẫn có thể luôn nhớ đến không quên, mà sau đó làm lễ tế. Con người ở cùng với nhau, dễ sinh lòng tính toán so đo công danh lợi lộc, mà tình thâm ý trọng đáng ra phải có giữa người với người, cũng thường bị che khuất đi không dễ thấy. Nay đối với người đã mất, trước chỉ có  tình nghĩa, sau càng không nhận được báo đáp gì [mà vẫn nhớ đến và tế bái – YL], thì càng thấy độ sâu đậm của tình ý trong đó. Do đó làm lễ tang và lễ tế mà dùng tận bi ai và thành tâm, có thể khai mở, phát dương nhân tâm (人心 – lòng người/ trái tim của con người), khiến cho đạo đức của con người hàng ngày đều hướng về sự đôn hậu (thật thà trung hậu).

Nho gia không đề xướng tín ngưỡng tông giáo, cũng không chủ trương tồn tại linh hồn sau khi chết, nhưng vẫn cực kỳ coi trọng lễ tang tế bái, vì đây là một biểu hiện của thứ tình cảm  chân thực thuần khiết nhất trong việc sinh tử, chính là thứ mà Khổng tử gọi là 仁心 -“nhân tâm” và 仁道- “nhân đạo” (lòng nhân/đạo nhân)(i). Khổng môn thường lấy việc giáo dục con người ta đức “hiếu” để đạt được đến “nhân tâm” của nhân loại. Lễ tang tế bái, là biểu hiện cuối cùng của đạo hiếu. Đối với người mất có thể tận chân tình, từ chỗ người mất không đạt được lợi ích thực tế nào, từ chỗ người sống cũng không hy vọng báo đáp nào, việc này vượt ra ngoài phạm vi của tính toán công danh lợi lộc, do đó càng thấy tình ý chân thực. Biết rõ người đã mất rồi, mà không nhẫn tâm đối đãi chung chung, điều này tức là thứ mà Mạnh tử gọi là “bất nhẫn chi tâm.” Đối với người đã mất rồi mà còn không thể nhẫn tâm, thì đối với người vẫn sống có thể biết thế nào rồi. Cho nên một Nho giả có thể theo lý và trí mà nói rằng, mặc dù không khẳng định người sau khi mất đi có ma quỷ hay không, nhưng vẫn từ chỗ tình cảm sâu sắc nhất của  con người mà thiết lập việc giáo dục,  mà tuân theo việc thận chung truy viễn,  xác thực cũng là điều bắt buộc. Chương này của Tăng tử, là một phần của việc đề cao đạo nhân của Khổng môn vậy.

Câu này có thể diễn giải là,

Tăng tử nói: đối với lễ tang người mất có thể cẩn thận, đối với người mất đã lâu có thể không ngừng nhớ đến, như thế có thế làm cho phong tục đạo đức của xã hội hàng ngày đều hướng theo sự trung hậu thành thật. 

(i) Chú ý hai chữ “nhân” khác nhau. Chữ nhân trong 人心 -“nhân tâm” là chỉ con người. Chữ nhân trong 仁心 -“nhân tâm” – lòng nhân và 仁道 ” – nhân đạo” – đạo nhân, cũng là chữ nhân trong “nhân nghĩa lễ trí tín” mà chúng ta hay nói, là giá trị  đạo đức, khoan dung, thương yêu người khác, thiện lương, vân vân và vân vân. 

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Cách giải thích của người xưa với câu này, ta cũng có chút ý kiến. Giảng đến đạo hiếu, thời xưa giảng về đạo hiếu trong văn hóa của Trung Quốc,  nguyên là rất quan trọng, chúng ta thấy trong lịch sử tấu sớ gửi lên hoàng đế, thường có câu “thánh triều dĩ hiếu trị thiên hạ” – triều ta lấy hiếu trị thiên hạ (i). Giống như là cơ sở tinh thần của hiến pháp, thời xưa chúng ta không có danh từ “hiến pháp”, nhưng có tinh thần này  – tinh thần triết học của hiến pháp, lấy đạo hiếu làm cơ sở, làm trung tâm. Do đó các hoàng đế thời xưa, quyền khuynh thiên hạ (ii), một khi về nội cung, gặp mẫu hậu, hoàng đế cũng phải quỳ xuống, hoàng thái hậu đối với một vấn đề nào đó nói một câu không nên, hoàng đế liền không thể không thay đổi (nhưng ở nội cung, mẫu hậu tất không can dự triều chính). Dĩ nhiên, chúng ta trước giờ luôn lấy hiếu trị thiên hạ, nhưng gượng ép lôi vào để giải thích, cũng không đúng, người xưa đã giải thích “thận chung truy viễn” là đạo hiếu. Do đó ngày xưa ở đại lục, trên bài vị tổ tông đặt trong phòng thờ của người ta, luôn là 4 từ “thận chung truy viễn,” đây chính là do người xưa giải thích “thận chung truy viễn” là lời riêng dành cho đạo hiếu. Họ giải thích như sau: cẩn thận đối với người đã mất, là nói đối với người đã mất, tiền nhân đã mất, chúng ta phải hoài niệm họ (nhớ đến/ nghĩ đến). “Dân đức quy hậu hĩ,” được giải thích là, nếu như ai cũng có thể hiếu thuận với cha mẹ, hiếu với tổ tông, phong tục xã hội có thể trở nên nhân hậu.

Ở đây có vấn đề là,  ý tứ thì đúng, nhưng giải thích khiên cưỡng. Tại sao lại trích dẫn câu này của Tăng tử mà thực chất nói về học vấn? “Thận chung truy viễn” có ý nghĩa gì? “终-Chung” là kết quả, “远-viễn” là nguyên nhân rất xa, dùng một câu theo quan niệm hiện đại để nói là có thể giải thích ngay, “một người nếu hy vọng có một kết quả tốt, không bằng có một mở đầu tốt.” Muốn cẩn thận đối với kết quả, trước hết cần truy về nguyên nhân sâu xa, kết quả của mỗi việc, đều là do nguyên nhân sâu xa mà nên, ở đây chúng ta có thể trích dẫn một câu Phật học: Bồ tát úy nhân, phàm phu úy quả – Bồ tát sợ nhân, phàm phu sợ quả (iii). Bồ tát của Phật gia, đại loại như thánh nhân của Nho gia Trung Quốc, bậc thánh nhân cực kỳ coi trọng động cơ của một sự việc. Ví dụ có một người bạn đến rủ ta làm ăn, động cơ của anh ta, cũng tức là nguyên nhân ban đầu, chúng ta cần phải chú ý, có thể là nguyên nhân tốt, cũng có thể là nguyên nhân xấu, nếu như là nguyên nhân xấu, liền bảo ta làm giám đốc, tương lai nếu phải ngồi tù cũng là ta, nếu như vậy thì nguyên nhân này ta cần chú ý, do đó bồ tát chính là sợ “nhân” này. Còn “phàm phu” – người bình thường/phổ thông sợ “quả,” giống như người phạm tội tử hình đến khi chấp hình mới hối hận, hậu quả này đến rồi anh ta mới biết sợ. Cần chú ý người có học vấn, đối với mỗi sự việc, lúc có động cơ cần chuẩn bị tốt, cũng như vừa mới nói, muốn có kết quả tốt, không bằng có khởi đầu tốt, cũng có ý là lúc bắt đầu cần thận trọng.

Do đó ý nghĩa của “thận chung truy viễn,” là nói bất kỳ vấn đề gì nếu muốn kết quả tốt, cần có khởi đầu tốt, văn hóa phương Tây có một câu tục ngữ: khởi đầu tốt đã là thành công một nửa (iv), cũng chính là đạo lý này. Tất cả mọi người đều đều hiểu đạo lý này, liền “dân đức quy hậu hĩ.” Phong tục đạo đức xã hội, tự nhiên đều hướng về nhân hậu nghiêm cẩn (nghiêm túc, cẩn thận). Đây là đạo lý của học vấn.

(i) thánh – 圣 – shèng: là từ thánh trong thánh nhân, thần thánh, cũng là từ tôn xưng vua chúa hoàng đế.

(ii) Quyền khuynh thiên hạ – 权倾天下: quyền lực khuynh đảo thiên hạ – có thể làm nghiêng ngửa thiên hạ.

(iii) Bồ tát úy nhân, phàm phu úy quả -菩萨畏因,凡夫畏果 – Bồ tát sợ nhân, phàm phu sợ quả.

(iv) Ta thấy câu này: A good beginning makes a good ending; the beginning is the half of every action.

[Nhận xét của YL]

Dương Bá Tuấn/Tiền Mục giải nghĩa “đức” dày thành “trung hậu, thật thà.” Có vẻ như trong Nho giáo, rất coi trọng các giá trị này, lấy đây làm nền tảng cho việc tu tâm dưỡng tính, làm người tốt, nền tảng của đạo đức, của đức nhân. Các mối quan hệ bắc cầu, mạng lưới: hiếu- trung – trung hậu – thật thà- nhân đức- đạo đức, thật là phức tạp, làm người học loạn hết cả lên 🙂

Đoạn phân tích của Tiền Mục tiền bối, viết như lối văn cổ, thật khó hiểu, làm ta vò đầu bứt tai cả tuần, rất có tính gây trầm cảm.

Riêng cách giải thích của Nam Hoài Cẩn là khác với mọi người khác, cũng tức là khác so với số đông. Nếu đặt câu “thận chung truy viễn, dân đức quy hậu hĩ” riêng biệt, ta thấy cách giải nghĩa của Nam tiền bối có lý. Khi đọc cách giải thích của người khác, từ cẩn thận việc tang lễ mà suy ra tận đức hạnh của nhân dân sẽ đôn hậu hơn, quả có thấy con đường suy diễn hơi lắt léo (hoặc do đạo hiếu của ta không đủ, nên không thấy được sự tinh vi vi diệu trong đó). Tuy nhiên do vốn kiến thức ít ỏi, ta không dám khẳng định là cách giải nghĩa này có đúng với tinh thần của Tăng tử hay không, bởi vì để khẳng định, cần phải đọc rất nhiều sách vở thời xa xưa, để xem thời đó, người ta hay dùng từ “chung” với “viễn” theo nghĩa gì, cha mẹ mất – tổ tiên, hay là kết quả – nguyên nhân, hay có những câu nào tương tự hay không…

Tốt nhất vẫn là, “to each according to his needs” hả, hôm nay ta Marxist dễ sợ, 🙂

Si

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: