“Đình viện thâm thâm thâm kỷ hử?”

Nhân kỷ niệm 8 năm ngày thành lập quan hệ ngoại giao (28/5/2008-28/5/2016), blog Hoasinganhca sẽ long trọng post lên đây một số bài từ  nhuốm đầy màu bi kịch/bi thương. Các bài từ này sẽ góp phần góp phần vun đắp hơn nữa tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt giữa hai đối tác chiến lược HS-AC, làm sâu sắc hơn bản sắc bi lụy của blog, hướng tới một tương lai đầy than vãn và kêu ca T_T  (heheheh, viết bậy viết bạ coi chừng nó thành lời sấm như “An Nam lý số hữu Trình tuyền” thì khỗ.)

Đặt cục gạch, tí nữa vào viết tiếp………………………..

Ta nói, cái trò một lời thành sấm là hơi thông dụng đấy…
Cách đây tầm hơn 20 năm, trên truyền hình (lúc đó khá nghèo nàn về cả lượng và chất) xuất hiện một series các loại phim sến aka tâm lý xã hội Đài Loan và Hongkong. Khá nổi bật trong số đó là bộ phim tên “Xóm Vắng” (Quỳnh Dao) – quá quen thuộc với thế hệ 7-8x. Nghe tên tiếng Việt rất gây ám ảnh kiểu kinh dị, nhưng tên tiếng Trung của nó thì lại rất là thơ “Đình viện thâm thâm” (nhà cửa sâu hun hút). Bà Quỳnh Dao lấy câu này làm chủ đề xuyên suốt cho câu chuyện, cô gái nghèo bước vào làm dâu cho một gia đình giàu có, kín cổng cao tường, cách ly với bên ngoài, nhiều khuôn phép, mẹ chồng ác chiến…. cuối cùng ko chịu được đành phải đi tự tử… Cô ấy thích cái bài từ Điệp Luyến Hoa, trong đó có cái câu “đình viện thâm thâm thâm kỷ hử?” đó, thế nên cái câu thơ đó nó vận luôn cha nó vào đời cô ấy :P. Về sau, cũng vì cô ấy rỗi việc, viết cái câu này lên 1 tờ giấy thư pháp mà bị nhận ra thân phận, rồi 1 loạt các biến cố xảy đến, đẩy truyện lên cao trào thắt nút-gỡ nút… (ai tò mò, kiếm truyện mà đọc, kiếm phim coi, hơi sến tí nhưng cũng hay hahah).

Câu thơ hay đó nằm trong bài từ Điệp Luyến Hoa kỳ số 1 của Âu Dương Tu, một thi nhân, từ nhân, nhà sử học và chính trị gia (nói chung là đa tài đa nghệ) thời Tống. Về sau, Lý Thanh Chiếu, cũng là một nữ sĩ tài hoa bậc nhất thời Tống đã mượn lấy câu này để làm cảm hứng cho một bài từ khác của mình (Lâm Giang Tiên). Cùng một câu, nhưng hai bài từ với hai ý nghĩa hầu như là khác nhau hoàn toàn…

蝶戀花其一
庭院深深深幾許?
楊柳堆煙,
簾幕無重數,
玉勒雕鞍遊冶處,
樓高不見章台路。

雨橫風狂三月暮,
門掩黃昏,
無計留春住。
淚眼問花花不語,
亂紅飛過鞦韆去。

Phiên âm

Điệp Luyến Hoa kỳ I

Đình viện thâm thâm thâm kỷ hử?
Dương liễu đôi yên,
Liêm mạc vô trùng số.
Ngọc lặc điêu an du dã xứ,(1)
Lâu cao bất kiến Chương Đài lộ.(2)
Vũ hoạnh phong cuồng tam nguyệt mộ,
Môn yểm hoàng hôn,
Vô kế lưu xuân trú.
Lệ nhãn vấn hoa hoa bất ngữ,
Loạn hồng phi quá thu thiên khứ.(3)
Dịch nghĩa
Đình viện sâu sâu sâu biết mấy?
Dương liễu mông lung như khói
Trướng rèm lớp lớp không đếm nổi.
Hàm ngọc, yên chạm ngao du chốn chơi bời,
Lầu cao không thấy đường Chương Đài.
Cuối tháng ba mưa dữ, gió mạnh
Cửa che kín hoàng hôn,
Không có cách gì giữ nổi mùa xuân.
Mắt lệ hỏi hoa, hoa không nói,
Màu hồng rụng tơi bời bay lất phất qua xích đu.
Chú giải:
(1) Ngọc lạc, điêu an: hàm ngựa bằng ngọc, yên ngựa khắc hoa: dùng để ẩn dụ công tử nhà giàu.
(2) Chương Đài lộ: Thời Hán ở Trường An có đường tên là Chương Đài, trên đó có lầu Chương Đài, (là lầu xanh?), người đời sau dùng “Chương Đài lộ” để ẩn dụ cho những chốn ăn chơi, kỹ viện. Từ thời Đường có tích “Liễu Chương Đài” để nói về sự chia tay, chờ đợi. Chương Đài hay Bá Ngạn (bờ sông Bá bên cái đường đó) được dùng để chỉ cây liễu. Ngày xưa ở Trường An, người ta thường đến đây ngắt cành liễu để tặng nhau lúc chia tay, gọi là chiết liễu 折柳.
(3) 鞦韆 (韆鞦, cũng viết 秋千): là cái xích đu. Câu này dịch là “hoa rụng bay tơi bời trong trời thu” hoặc “hơn cả trời thu”là không chính xác, còn mà dịch “hoa rụng tơi bời ngàn mùa thu” cũng ko được, vì như thế thì phải là 千 秋 chứ ko phải秋千.
Ý nghĩa: Bài từ này thường dc hiểu là để chỉ tâm tình của các cô kỹ nữ mòn mỏi trong lầu xanh. Về sau, hình như còn để dùng miêu tả các cô gái phải vào làm thê thiếp cho nhà giàu có, kín cổng cao tường (như trong truyện Đình viện thâm thâm của Quỳnh Giao ý).

臨江仙
庭院深深深幾許,
雲窗霧閣常扃,
柳梢梅萼漸分明,
春歸秣陵樹,
人老建康城。

感月吟風多少事,
如今老去無成,
誰憐憔悴更雕零,
試燈無意思,
踏雪沒心情。

Phiên âm

Lâm Giang Tiên
Đình viện thâm thâm thâm kỷ hử,
Vân song vụ các thường quynh,
Liễu tiêu mai ngạc tiệm phân minh,
Xuân quy Mạt Lăng thụ,
Nhân lão Kiến Khang thành.

Cảm nguyệt ngâm phong đa thiểu sự,
Như kim lão khứ vô thành,
Thuỳ liên tiều tuỵ cánh điêu linh,
Thí đăng vô ý tứ,
Đạp tuyết một tâm tình.

Dịch nghĩa

Đình viện sâu sâu sâu biết mấy,
Cửa sổ mây gác nhà sương thường đóng then,
Ngọn liễu đài mai dần dần rạch ròi (?!!!),
Xuân về trên cây cối ở Mạt Lăng,
Người lại già đi ở thành Kiến Khang. (1)

Những sự thưởng trăng ngâm gió ngày trước,
Nay già rồi không muốn bước ra khỏi cửa nữa (ko hứng thú nữa)
Ai thương, tiều tụy càng điêu linh hơn nữa,
Thi đèn/hoa đăng mà không ý nghĩa, (2)
Đạp trên tuyết chẳng chút tâm tình.
Chú giải:
(1) Mạt Lăng và Kiến Khang: Nam Kinh (Giang Tô) ngày nay
(2) “Thí đăng”: (tục cũ TQ) đại khái là thi đèn hoa đăng đêm hội Nguyên Tiêu.

 

Ý nghĩa: Sau sự kiện Tĩnh Khang 1127, nhà Tống bị Nữ Chân đánh bại, phải rút khỏi thủ đô Khai Phong (hoặc Đại Lương, Biện Lương, Biện Kinh… nay thuộc tỉnh Hà Nam, TQ), chạy về phía Nam, lập thành Nam Tống (thủ đô ở Lâm An aka Hàng Châu ngày nay). Gia đình nhà Lý Thanh Chiếu phải chạy nạn, trốn về Mạt Lăng (aka Kiến Khang). Đây là bài từ đầu tiên khi bà chạy nạn, thể hiện nỗi u buồn thương tiếc vì nước mất nhà tan, sống tuổi già thời ly loạn, nơi đất khách quê người.
Từ điệu: Gom về chỗ này để tra cho dễ.
Điệp Luyến Hoa
Gồm 2 đoạn, vần điệu giống nhau y hệt:
XTXBBTT (v)
XTBB, XTBBT (v)
XTXBBTT (v)
XBXTBBT (v)

Lâm Giang Tiên
XTXBBTT
XBXTBB (V)
XBXTTBB (V)
BBBTT
XTTBB (V).
XTXBBTT
XBXTBB (V)
XBXTTBB (V)
XBBTT
XTTBB (V)

 
Lâm Giang Tiên trên blog ta đã từng trích 1 bài rất hay của cụ Án Kỷ Đạo, trong đó có 2 câu rất đẹp là “Tương tầm mộng lý lộ, phi vũ lạc hoa trung. (lấy câu này làm mốc để nhớ cái điệu này vậy 😀 )

Thế nhé, đợi bản dịch.

Chào thân ái và quyết thắng hihihi

Anhca

Advertisements

Điệp luyến hoa – Liễu Vĩnh

蝶恋花·伫倚危楼风细细》

伫倚危楼风细细,

望极春愁,

黯黯生天际。

草色烟光残照里,

无言谁会凭栏意。

 

拟把疏狂图一醉,

对酒当歌,

强乐还无味。

衣带渐宽终不悔,

为伊消得人憔悴。

 

Điệp luyến hoa. Trữ ỷ nguy lâu phong tế tế

 

Trữ ỷ nguy lâu phong tế tế

Vọng cực xuân sầu,

Ảm ảm sinh thiên tế

Thảo sắc yên quang tàn chiếu lý

Vô ngôn thùy hội bằng lan ý.

 

Nghĩ bả sơ cuồng đồ nhất túy

Đối tửu đương ca

Cường lạc hoàn vô vị.

Y đái tiệm khoan chung bất hối

Vi y tiêu đắc nhân tiều tụy.

 

Từ luật (Vợt từ sưu tầm hồi trước của con Chim)

XTXBBTT (v)

XTBB, XTBBT (v)

XTXBBTT (v)

XBXTBBT (v)

 

Giải nghĩa

Chờ đợi, đứng dựa vào lầu cao , gió thổi nhè nhẹ

Nhìn ra xa đến cực hạn (của tầm mắt) nét xuân sầu,

(Chỉ thấy) ảm đạm u tối ở chân trời.

Sắc cỏ trong ánh khói  tàn  (bảy chữ thôi nhưng để diễn văn ra rất khó và dài dòng, trên mạng giải thích đại khái là bãi cỏ xanh mênh mang, mây khói vấn vít trong ánh tàn dương tà chiếu)

(Trầm mặc) không nói lời nào, ai là người hiểu tâm tình dựa lầu cao nhìn ra xa (của ta).

Những muốn phóng túng hết tâm tình uống đến say mới thôi

(Nhưng trong lúc) ca hát uống rượu

(Mới nhận thấy) việc cố ép (mình)  vui vẻ chẳng có ý vị gì.

Áo đai dần lỏng/rộng ra nhưng tuyệt không hối hận (ý là gầy đi)

Vì người mà tiều tụy cũng tâm cam tình nguyện.

Bản dịch của Yên Liên
Lầu vắng dựa trông bên gió hắt

Tận nét xuân sầu

Ảm đạm ngưng tầm mắt.

Cỏ nhạt khói lan chiều nắng tắt

Không lời ai thấu lòng quay quắt.

Những muốn buông tình say túy lúy  

Chén rượu lời ca

Vui ép hoàn vô vị

Đai áo rộng dần không hận ý

Vì ai nên nỗi thân tiều tụy.

—–

si

Dịch thơ bằng tiếng Anh

Lâu ko đả động tới cái blog này. Hnay đành bây chữ ra để revitalise nó 1 tẹo. Chuyện là bạn YL tự dưng nhã hứng dịch thơ ra english… làm bạn AC lác hết cả mắt. Và kết quả là đây: Đối Tửu – Nguyễn Du

Mình post 1 bài từ người ta dịch để làm tham khảo, học hỏi điều hay cái dở của họ, góp phần vào công cuộc dịch thơ/từ ra tiếng Anh của bạn YL.

Thanh Bình Nhạc 清平樂 – Án Kỷ Đạo

留人不住

醉解蘭朱去

一棹碧濤春水路

過盡曉鶯啼處

渡頭楊柳青青

枝枝葉葉離情

此後錦書休寄

畫樓雲雨無憑

Lưu nhân bất trú

Tuý giải lan chu khứ

Nhất trạo bích đào xuân thuỷ lộ

Quá tận hiểu oanh đề xứ

Độ đầu dương liễu thanh thanh

Chi chi diệp diệp ly tình

Thử hậu cẩm thư hưu ký

Hoạ lâu vân vũ vô bằng

I could not persuade you to stay,

Drunk, you untied the cabled boat and went away.

Dipping the oars into green waves of spring,

You’d pass all trees where golden orioles sing.

The ferry’s green with willows, leaf on leaf

And twig on twig reveal the parting grief.

Write no more letter if you forget the fresh shower

Brought by the cloud for thirsting flower.

 

Bài từ: 滿庭芳 Mãn Đình Phương – Tác giả:  秦觀 Tần Quan

Bài chia làm 2 đoạn, tổng cộng 23 câu

山抹微雲,

天黏衰草,

晝角聲斷譙門;

暫停征棹,

聊共引離尊。

多少蓬萊舊事,

空回首,

煙靄紛紛。

斜陽外,

寒鴉數點,

流水遶孤村。

銷魂,

當此際,

香囊暗解,

羅帶輕分,

漫贏得青樓薄倖名存。

此去何時見也?

襟袖上,空惹啼痕;

傷情處,

高城望斷,

燈火已黃昏。

 

Sơn mạt vi vân,

Thiên niêm suy thảo,

Hoạ giốc thanh đoạn tiền môn.

Tạm đình chinh trạo,

Liễu cộng ly tôn.

Đa thiểu Bồng Lai cựu sự,

Không hồi thủ,

Yên ái phân phân.

Tà dương ngoại,

Hàn nha sở điểm,

Lưu thuỷ nhiễu cô thôn.

Tiêu hồn,

Đương thử tế,

Hương nang ám giải,

La đới khinh phân,

Mạn doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh tồn.

Thử khứ hà thì kiến dã ?

Khâm tụ thượng, không nhiễm đề ngân.

Thương tình xứ,

Cao thành vọng đoạn,

Đăng hoả dĩ hoàng hôn.

Mùi thơm đầy lầu (thivien.net)

 

Những sợi mây nhỏ, lờ mờ phiết vào với núi,

Làn cỏ vàng gián liền với trời,

Tiếng còi trên lầu thành đứt đoạn.

Tạm dừng mái chèo đi xa,

Cùng rót chén rượu chia ly.

Biết bao chuyện cũ trên gác Bồng Lai,

Uổng ngoảnh lại nhìn,

Khói mù tơi bời.

Ngoài ánh trời ta,

Quạ đen mấy chấm,

Dòng nước chảy quanh xóm lẻ.

Hồn tan,

Giữa lúc đó,

Túi thơm thầm cởi,

Giải là nhẹ chia,

Chỉ mang tiếng bạc tình hão trong chốn lầu xanh.

Lần này đi biết bao giờ lại được gặp nhau ?

Trên ống tay áo, giọt lệ ướt đầm.

Nơi thương tình,

Nhìn về thành cao đã khuất,

Đèn đóm nổi lên trong buổi hoàng hôn.

The Courtyard full of fragrance

 

A belt of clouds girds mountains high,

And withered grass spreads to the sky.

The painted horn at the watchtower blows.

Before my boat sail up,

Let’s drink a farewell cup

How many things which I recall of bygone days,

One and all, all and one,

Are lost in mist and haze!

Above the setting sun

I see but dots of crows;

Around a lonely village water flows.

I’d call to mind the soul-consuming hours

When I took off her perfume purse unseen,

And loosened her silk girdle in her bower.

All this has merely won me in the Mansion Green

The name of a fickle lover.

Now I’m a rover

Oh when can I see her again?

My tears are shed in vain

In vain they wet my sleeve.

It grieves

My heart to find her bower out of sight,

Lost at dusk in the city light./.

Vi Trang (836-910)

Nhà thơ-từ, sống thời Mạt Đường và Ngũ Đại Thập Quốc (thế là biết thơ từ nó tương đối đau thương sầu thảm rồi :D). Đây là lí lịch trích chéo, trên wiki.

http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi_Trang

Thân thế và sự nghiệp cách mạng

Nói chung ông sống vào thời loạn ly và cuộc đời ông khá là lang bạt. Gia đình quan lại tầm trung, đường công danh lên xuống đứt gãy, nhưng nói chung cũng làm quan kha khá. Nói chung ông này từ đầu làm tay chân cho 1 ông tên là Vương Kiến, người sau này lập nên nước Tiền Thục (trong cái mớ Thập quốc). Nghe đồn chính Vi Trang này xúi bẩy ông Vương Kiến này xưng đế khi nhà Đường sập (máu thế chứ :D). Ông Vương lên ngôi, ông Vi cũng lên cao theo, làm 1 chức gần như là thừa tướng :P. Tuy nhiên, lúc đó ông Vi Trang cũng sắp chết rồi… Làm dc có mấy năm thôi. Mà nhà Tiền Thục cũng sớm diệt vong…

Thơ từ

Có 1 tác phẩm rất nổi tiếng là Tần Phụ Ngâm, dài gần 1700 câu. Là lời oán thán về thời cuộc từ cái nhìn của 1 phụ nữ ở xứ Tần (vùng Trường An – Tây An ngày nay) (=> bác này tiến bộ, chăm lo cho tâm tư nguyện vọng của chị em, feminist phết :D). Dưới đây là toàn văn của bài thơ (hì, dĩ nhiên là 1 chữ cắn đôi ta cũng ko hiểu hihi): http://zh.wikisource.org/wiki/%E7%A7%A6%E5%A9%A6%E5%90%9F

Dĩ nhiên, ông mà ko có đặc sản Đường thi thì cũng hơi nhục với cái thời mà ông sống 😀

Tuy nhiên, vì là cuối Đường, cho nên ông đã bắt đầu viết từ, và ông là 1 trong nx nhà tiên phong của từ,  cùng với Ôn Đình Quân, là đại diện nổi bật của Hoa Gian Phái (mà thường bị người đời chê bai là lòe loẹt, sến sẩm và giả tạo :P)

Từ của ông đc bình luận là “thanh bạch như họa, uẩn tình thâm chí”, nhiều nhà phê bình đánh giá trong Hoa gian phái, từ của ông đứng trên Ôn Đình quân (chà! ko biết mình hiểu có sai hay ko nữa, đọc loáng thoáng trên này http://zh.wikipedia.org/wiki/%E9%9F%A6%E5%BA%84)

Tác phẩm tiêu biểu: Đọc trên thivien thôi 😛 http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=149

Bản thân bạn AC thì thik 1 số bài Bồ Tát Man và nhất là 2 bài Nữ quan tử kỳ 1 và 2. Nói chung từ của ông thường về tương tư tình ái, thường đứng từ góc độ phụ nữ viết (hic hic, sến sẩm)

Dưới đây là trích lại bài Nữ quan tử kỳ số 1:

女冠子其一

四月十七
正是去年今日
別君時
忍淚佯低面
含羞半歛眉
不知魂已斷
空有夢相隨
除卻天邊月
沒人知

Phiên âm

Tứ nguyệt thập thất
Chính thị khứ niên kim nhật
Biệt quân thì
Nhẫn lệ dương đê diện
Hàm tu bán liễm my
Bất tri hồn dĩ đoạn
Không hữu mộng tương tuỳ
Trừ khước thiên biên nguyệt
Một nhân tri.

Bản dịch của Nguyễn Chí Viễn

Tháng bốn, mười bảy
Nhằm đúng ngày này năm ngoái
Lúc chia tay
Nín khóc vờ che mặt
Thẹn thùng hơi nhíu mày
Ngẩn ngơ hồn tán loạn
Lẽo đẽo mộng đêm ngày
Riêng có vừng trăng bạc
Chẳng ai hay.

Đây là 1 bài từ mà mình khá thích, hì, chắc do cái ý cuối. Ko check dịch nghĩa vì bản dịch ở trên khá sát, nếu bạn YL muốn dịch thì mình sẽ bỏ thêm chút công dịch nghĩa lại 😀 (đây là câu hàng lộ liễu :P)

應天長

別來半世音書絕
一寸離長千萬結
難相見
易相別
又是玉樓花似雪
暗相思
無處說
惆悵夜來明月
想得此時情切
淚沾紅袖黦

Biệt lai bán thế âm thư tuyệt
Nhất thốn ly trường thiên vạn kết
Nan tương kiến
Dị tương biệt
Hựu thị ngọc lâu hoa tự tuyết
Ám tương tư
Vô xứ thuyết
Trù trướng dạ lai minh nguyệt
Tưởng đắc thử thời tình thiết
Lệ triêm hồng tụ uất.

Bản dịch Nguyễn Chí Viễn

Nửa đời cách biệt âm thư tuyệt
Một thốn ly trường ngàn vạn kết
Khó tương kiến
Dễ tương biệt
Lại nữa ngọc lâu hoa tựa tuyết
Nỗi tương tư
Nào nói xiết
Thảm đạm đêm thanh dưới nguyệt
Tưởng lúc tình nồng thắm thiết
Lệ hoen tay áo quệt.

Đây cũng là 1 bài từ hay.

Tuy nhiên, mục đích chính của post này là thơ, chứ ko phải từ, của Vi Trang. Tuy từ của ông dc đánh giá cao, nhưng thơ của ông, mình thấy cũng ko hề kém cạnh, thậm chí bản thân mình thích hơn. Mà dạo này chúng ta hơi sa đà về từ. Cho nên post thơ 😛

Trong đống thơ hỗn độn của ông, chủ yếu là miêu tả cảnh đẹp, nuối tiếc thời xa xưa êm đẹp, đôi khi tả tình cảm đôi lứa nhưng có lẽ ngụ ý xa hơn (hì, đây là bạn AC xuyên tạc).

Một số bài thơ hay như Xuân Sầu, Xuân Nhật, Ức Tích, Kim Lăng Đồ… có nx đoạn rất hay ho, vd:

落星樓上吹殘角,
偃月營中掛夕暉。
旅夢亂隨蝴蝶散,
離魂漸逐杜鵑飛。

Lạc tinh lâu thượng xuy tàn giác,
Yển nguyệt doanh trung quải tịch huy.
Lữ mộng loạn tùy hồ điệp tán,
Ly hồn tiệm trục đỗ quyên phi. (Xuân nhật)

金陵圖 Kim Lăng Đồ

江雨霏霏江草齊,
六朝如夢鳥空啼。
無情最是臺城柳,
依舊煙籠十里堤。

Giang vũ phi phi giang thảo tề
Lục triều như mộng điểu không đề
Vô tình tối thị Đài thanh liễu
Y cựu yên lung thập lý đê.

Thích nhất là 2 bài Đông Dương Tửu Gia Tặng Biệt

東陽酒家贈別其二

天涯方歎異鄉身,
又向天涯別故人。
明日五更孤店月,
醉醒何處淚沾巾。

Kỳ 2

Thiên nhai phương thán dị hương thân,
Hựu hướng thiên nhai biệt cố nhân.
Minh nhật ngũ canh cô điếm nguyệt,
Tuý tỉnh hà xứ lệ triêm cân.

Dịch nghĩa (trích của thivien)

Ở góc trời vừa mới than cho tấm thân xa quê,
Nay lại hướng tới góc trời để từ biệt bạn cũ.
Hôm sau, qua vừng trăng năm canh ở trạm cô đơn,
Say tỉnh nơi nào chăng thì ai cũng khăn ướt lệ.

Bài số 2 có vẻ nổi tiếng hơn bài số 1, tuy nhiên, bài số 1 cũng rất hay, lại không có bản dịch nghĩa, cho nên đôi chỗ chi tiết hơi khó hiểu.

東陽酒家贈別其一

送君同上酒家樓,
酩酊翻成一笑休。
正是落花饒悵望,
醉鄉前路莫回頭。

Tống quân đồng thượng tửu gia lâu,
Mính đính phiên thành nhất tiếu hưu.
Chính thị lạc hoa nhiêu trướng vọng,
Tuý hương tiền lộ mạc hồi đầu.

Dịch nghĩa

Tiễn anh, cùng nhau lên lầu quán rượu
Say sưa nhưng lại một tiếng cười mà hết (*)
Cho dù hoa rơi nhiều tha thiết (ngóng nhìn),
Say sưa theo đường về quê, đừng/không quay đầu.

(*) Câu này e ko hiểu, say sưa 1 hồi rồi do 1 tiếng cười mà hết say, hay là say sưa đến mức 1 tiếng cười cũng ko cười ra dc nữa 😀 Lạ là hình như bài này ai cũng hiểu, ko thấy có ai rảnh rỗi giải nghĩa ở trên mạng cả 😛

Nếu có 1 lúc nào đó có tinh thần, sẽ dịch bài số 1 này 😀 (nhưng mà cũng hơi quan ngại về khả năng này :()

…….

Anhca.

Bạn YL nếu phiền lòng và quan ngại về viễn cảnh chúng ta bị đô hộ văn hóa, sính Tàu, có thể làm 1 bài về văn thơ VN để balance of power 😛 (hehe, đây là khiêu khích trắng trợn)

Tô mạc già. Bích vân thiên – Phạm Trọng Yêm

苏幕遮·碧云天

碧云天,
黄叶地,
秋色连波,
波上寒烟翠。
山映斜阳天接水,
芳草无情,
更在斜阳外。

黯乡魂,
追旅思,
夜夜除非,
好梦留人睡。
明月楼高休独倚,
酒入愁肠,
化作相思泪。

Hán Việt

Bích vân thiên,

Hoàng diệp địa.

Thu sắc liên ba,

Ba thượng hàn yên thuý.

Sơn ám tà dương thiên tiếp thuỷ.

Phương thảo vô tình,

Cánh tại tà dương ngoại.

Ảm hương hồn,

Truy lữ tứ,

Dạ dạ trừ phi

Hảo mộng lưu nhân thuỵ.

Minh nguyệt lâu cao hưu độc ỷ.

Tửu nhập sầu trường,

Hoá tác tương tư lệ.

Dịch nghĩa

Trời mâylục,

Đất  là vàng.

Sắc thu liền với sóng,

Trên sóng  khói lạnh biếc.

Núi ánh tà dương, trời liền nước.

Cỏ thơm vô tình,

Lại ở ngoài bóng nắng (ý là bãi cỏ kéo dài đến tận chân trời, so với ánh tà dương còn xa hơn. Hình ảnh cỏ thơm thường được dùng để chỉ cố hương).

Nỗi nhớ nhà rầu rĩ,

Cứ truy theo nỗi lòng xa xứ, (tóm lại là nỗi nhớ nhà cứ đeo đẳng, dứt không được).

Đêm đêm trừ phi,

Mộng đẹp khiến người an giấc. (hàng đêm chỉ có mộng đẹp về cố hương mới khiến được an giấc).

Trăng sáng, lầu cao, đừng một mình tựa gác nữa.

Rượu vào trong dạ sầu,

Hoá thành lệ nhớ nhung.

Từ luật

T B B

B T T

x T B B

x T B B T

x T B B B T T

x T B B

x T B B T.

Bài này của Phạm Trọng Yêm có vẻ là điển hình của điệu Tô mạc già. Xuất xứ của điệu từ, các tên gọi khác, trên mạng có cả, nhưng đang lười, nên chưa chép về đây.
Hai câu cuối rất nổi tiếng.
Trên thivien chép bản dịch này của Nguyễn Xuân Tảo, ta thấy hay hơn cả.
Biếc mây trời,
Vàng lá đất.
Sóng lẫn sắc thu,
Khói sóng xanh lặng ngắt.
Nước liền trời núi chiều nắng hắt,
Đám cỏ trêu ngươi,
Mơn mởn trong nắng nhạt.
Não hồn quê,
Buồn đất khách.
Ví được hằng đêm,
Mộng đẹp ru ngon giấc.
Trăng sáng chớ một mình tựa gác,
Rượu ngấm ruột sầu,
Nỗi nhớ đầm nước mắt.
YL

Thủy Điệu Ca Đầu – Tô Thức

Bài này nổi tiếng. Mà bạn Trì cũng đã từng đưa 1 câu vào trong list thành ngữ rồi.

Chẳng qua hôm nay xem film thấy có 1 ông nhìn trăng đứng đọc, sau đó tự hỏi, có thực sự là “Cao xứ bất thắng hàn?” Rồi lại tự đề tỉnh bản thân – hàn thì mặc hàn, cao xứ vẫn là thích hơn thấp xứ 😀 sau đó tự tin vì kế hoạch của mình hoàn hảo, đại sự sắp thành công, rồi ngửa đầu cười ha hả 1 tràng dài (mà để ý là, trong film, cứ người nào cười ha hả ha hả từng tràng thể nào cuối cùng cũng thất bại :P)

Thấy hay hay, nghĩ là hay là lúc nào rỗi mình dịch thử. Cơ mà đọc thấy dài dài, mà có vẻ khó khó nên chắc là thôi 😛

Cứ post lên, có khi bạn Trì lại có nhã hứng, tự dưng muốn dịch 😀

水調歌頭-中秋

明月幾時有,
把酒問青天。
不知天上宮闕,
今夕是何年。
我欲乘風歸去,
又恐瓊樓玉宇,
高處不勝寒。
起舞弄清影,
何似在人間。

轉朱閣,
低綺戶,
照無眠。
不應有恨,
何事長向別時圓。
人有悲歡離合,
月有陰晴圓缺,
此事古難全。
但願人長久,
千里共嬋娟。

Phiên âm

Minh nguyệt kỷ thời hữu ?
Bả tửu vấn thanh thiên.
Bất tri thiên thượng cung khuyết,
Kim tịch thị hà niên.
Ngã dục thừa phong quy khứ,
Hựu khủng quỳnh lâu ngọc vũ,
Cao xứ bất thắng hàn.
Khởi vũ lộng thanh ảnh,
Hà tự tại nhân gian.

Chuyển chu các,
Đê ỷ hộ,
Chiếu vô miên.
Bất ưng hữu hận,
Hà sự trường hướng biệt thời viên.
Nhân hữu bi, hoan, ly, hợp,
Nguyệt hữu âm, tình, viên, khuyết,
Thử sự cổ nan toàn.
Đán nguyện nhân trường cửu,
Thiên lý cộng thiền quyên.

Dịch nghĩa (thivien.net)

Trăng sáng có từ bao giờ,
Cầm chén rượu hỏi trời xanh.
Không biết là cung điện trên trời,
Đêm nay là năm nào ?
Ta muốn cưỡi gió đi,
Lại sợ trên lầu quỳnh điện ngọc,
Nơi cao rét không chịu nổi.
Đứng lên múa, bóng trăng theo người,
Gì vui hơn ở dưới cõi đời. (1)

Soi khắp gác tía,
Ta tà xuống cửa che màn gấm,
Soi cả đến người có bầu tâm sự không ngủ.(2)
Trăng giận gì người,
Tại sao cứ tròn trong những giờ ly biệt.
Người có lúc buồn, vui, tan, hợp,
Trăng có đêm tối, sáng, tròn, khuyết,
Việc này xưa nay khó bề trọn vẹn.
Những mong người lâu dài,
Ngàn dặm cùng chung vẻ đẹp của trăng. (3)

Giải thích thêm của bạn AC

1. Ở trên nơi cao, liệu có vui như ở dưới nhân gian/mặt đất?

2. Trăng chiếu khắp lầu đài, tràn qua rèm cửa sổ, rọi vào người ko ngủ…

3.  Hy vọng loài người (hay là 1 người nào đó?) dc trường thọ, sống lâu, để cho dù xa cách nhau, nhưng vẫn có thể cùng chung chia sẻ vẻ đẹp của trăng. Cái ý người cách xa ngàn dặm, nhưng cùng ngắm 1 vầng trăng này rất là quen thuộc trong thơ từ cổ điển,

Anhca

Trú dạ lạc – Liễu Vĩnh

昼夜乐

洞房记得初相遇,便只合、长相聚。
何期小会幽欢,变作离情别 绪。
况值阑珊春色暮,对满目、乱花狂絮。
直恐好风光,尽随伊归去。
一场寂寞凭谁诉,算前言,总轻负。
早知恁地难拚,悔不当时留住。
其奈风流端正外,更别有、系人心处。
一日不思量,也攒眉千度。

Trú dạ lạc

Động phòng ký đắc sơ tương ngộ, tiện chỉ hợp, trường tương tụ.

Hà kỳ tiểu hội u hoan, biến tác ly tình biệt tự.

Huống trị lan san xuân sắc mộ, đối mãn mục, loạn hoa cuồng nhứ.

Trực khủng hảo phong quang, tận tùy y quy khứ.

Nhất trường tịch mịch bằng thùy tố, toán tiền ngôn, tổng khinh phụ.

Tảo tri nhẫm địa nan biện, hối bất đương thời lưu trú.

Kỳ nại phong lưu đoan chính ngoại, cánh biệt hữu, hệ nhân tâm xứ.

Nhất nhật bất tư lương, dã toàn my thiên độ.

Luật (có vẻ như chính Liễu Vĩnh là người đặt ra từ điệu này, thấy mỗi trang ghi luật 1 khác, ko biết đường nào mà lần, chưa có thời gian so sánh để chọn bản chính xác cho vào đây).

Đây, luật đây:

T B T T B B T, T T T, B B T

B B T T B B, T T T B B T

T T B B B T T, T T T, T B B T

T T T B B, T B B B T

T B T T B B T, T B B, T B T

T B T T B B, T T B B B T

B T B B B T T, T T T, T B B T

T T T B B, T B B B T.

(Xem ra thì những chỗ in nhạt ko nhất thiết phải là trắc or bằng).

Ta ấn tượng với bài này, bởi vì câu cuối: Nhất nhật bất tư lương, dã toàn my thiên độ (một ngày không tưởng niệm, cũng  chau mày ngàn lần) [Chú thích thêm là trong Cải lương Hồ Quảng rất hay sử dụng chữ “tư lương”  hihi].

Vì thế google Liễu Vĩnh, ra wiki, giới thiệu một lý lịch rất “cách mạng”: Ví dụ như đoạn giới thiệu sau:

Nội dung chủ yếu của từ Liễu Vĩnh là phản ánh tâm trạng buồn bực, bất mãn của đại bộ phận trí thức (trong đó có ông), có tài nhưng không gặp cơ hội trong xã hội phong kiến, hoạn lộ trắc trở, nên đi đến chỗ lạnh nhạt với công danh lợi lộc. Có thể thấy những điều đó trong các bài từ làm theo điệu “Phụng quy vân”, “Quy triều quan”, “Khán hoa”, “Bát thanh Cam Châu”, “Vũ lâm linh”,…[5].

Ở khía cạnh khác, mặc dù xuất thân trong một gia đình quan lại theo Nho học mấy đời, nhưng Liễu Vĩnh từng “nhiều phen du ngoạn cùng hiệp khách”, “thích làm các khúc ca trong hoa dưới nguyệt” ở chốn lầu hồng, như những bài từ làm theo điệu “Hạc xung thiên”, “Trường thọ lạc”, “Mê tiên dẫn”,…[6]. Ở đấy, trên quan điểm của một văn nhân bất đắc chí, ông mô tả cuộc sống của các kỹ nữ, và bày tỏ sự cảm thông với họ. Thành thử, ông làm cho từ có nội dung xã hội nhiều hơn [7].

Phát huy truyền thống nghiên cứu suýt đến nơi đến chốn của nhà này, kéo trang wiki xuống tận cùng xem cái danh sách tài liệu tham khảo, thấy trích dẫn toàn hàng “khủng” cả, nào là Từ điển văn học, Lịch sử văn học TQ này kia…

Chợt tự hỏi không biết mấy sách này soạn khi nào, chắc cũng tham khảo sách của TQ, mà sách bên TQ kia ko biết soạn khi nào, mà nhà thơ từ nào cũng lôi tuồn tuột vào hàng ngũ cách mạng, thơ từ là phải “phản ánh tâm trạng buồn bực, bất mãn của đại bộ phận trí thức (trong đó có ông), có tài nhưng không gặp cơ hội trong xã hội phong kiến”, hoặc là tuy xuất thân nhà Nho nòi nhưng thơ từ lại mang nội dung xã hội (aka gần gũi với quần chúng nhân dân lao động (kỹ nữ included) chứ không phản ảnh đời sống của tầng lớp thống trị) 😛 By the way, thì ko thấy “trên quan điểm của một văn nhân bất đắc chí” liên quan gì đến bày tỏ thông cảm với các kỹ nữ cả, chẳng nhẽ văn nhân không bất đắc chí thì không thông cảm??? (Cụ Nguyễn Du nhà mình cũng con nhà nòi, con đường hoạn lộ cũng coi là hanh thông, thế mà vẫn viết ra Kiều đấy thôi).

Không đọc hết từ của Liễu Vĩnh, để biết lời giới thiệu trên đúng đến bao nhiêu %, nhưng bài chép ở nhà này, cứ cảm nhận như một bài tương tư tình cảm bình thường thôi (hoặc có lẽ nó không nằm trong phần “nội dung chủ yếu”, còn ai kia nhìn ra nội dung cách mạng thì chỉ bảo với).\

Thấy trên mạng giải thích đây là một bài hồi ức lúc còn hoan ái bên nhau và nỗi tương tư, thương tâm, hối hận sau khi ly biệt, trang này còn ghi là bài từ khuê oán, tóm lại nhân vật chính trong bài từ là phụ nữ (chết thật, đầu năm mới mà lôi cái bài này lên, coi ko có lợi cho đường tình duyên nha :-)).

Giải nghĩa

Vẫn nhớ lần đầu gặp gỡ trong khuê phòng, dù chỉ biết là phải ở bên nhau đến trọn đời

Ngờ đâu cuộc gặp riêng tư vui vẻ ngắn ngủi đó, đã trở thành mối ly tình biệt tự (chữ u này trong u ám, u cư (ở ẩn), từ điển giải nghĩa là sâu kín, tối tăm…chắc hiểu là hai người gặp nhau riêng tư, ngấm ngầm, gặp trong khuê phòng mà).

Huống vào buổi chiều muộn  sắc xuân tàn  phai, đầy trước mắt, hoa loạn tơ cuồng bay.

Chỉ sợ cảnh xuân đẹp, tất cả đều theo chàng đi mãi.

Một trường tịch mịch biết nương vào ai để tỏ bày, những lời nói trước đây, đều đã coi  nhẹ, cô phụ hết.

Nếu sớm biết (tình này) khó dứt bỏ thế này, thật hối hận lúc trước không giữ (chàng) lại.

Sao ngoài vẻ phong lưu đoan chính (của chàng), càng đặc biệt có điểm trói buộc con tim của người ta vậy.

Một ngày không tưởng niệm, cũng ngàn lần chau mày.

Thật ra cái chữ “y” trong “tận tùy y quy khứ” để chỉ nam cũng được, mà nữ cũng được.  Nên nếu bài này để nói người đàn ông thương hận, tương tư người con gái, cũng ko có gì sai???? Tất nhiên đây là cách lý giải của thời hiện đại (đã có ảnh hưởng của truyện ngôn tình :-P), còn ngày xưa, ko ai thích gắn hình ảnh của người đàn ông với nhớ thương, sầu hận vì tình cảm cả.

Bản dịch của Yên Liên

Động phòng vẫn nhớ khi tương ngộ

Những  tơ tưởng, luôn đoàn tụ

Ngày vui ngắn ngủi ngờ đâu

Hóa mối ly tình biệt tự.

Huống lúc chiều tàn xuân sắc nhạt

Loạn trước mắt, hoa cuồng tơ vũ

Chỉ sợ cảnh xuân xinh

Mãi theo người xa xứ

Một trường tịch mịch cùng ai nhủ

Lời nguyền xưa, thảy khinh phụ

Sớm hay khó dứt nhường này

Hối buổi đầu sao không giữ

Ngoài vẻ phong lưu đoan chính nọ

Càng có điểm, trói tim người chứ

Một khắc chẳng tương tư

Cũng ngàn lần mày rủ.

YL

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: