Khách chí – Đỗ Phủ

Thấy bài này hay, nên chép lại đây. Thích nhất là câu thứ 3+4. Nguồn: thivien.net

Không biết có ai rỗi, khi nào đó check lại phần dịch hộ mình không??? 🙂

客至

舍南舍北皆春水,
但見群鷗日日來。
花徑不曾緣客掃,
蓬門今始為君開。
盤飧市遠無兼味,
樽酒家貧只舊醅。
肯與鄰翁相對飲,
隔籬呼取盡餘杯。

Bản giản thể

舍南舍北皆春水,
但见群鸥日日来。
花径不曾缘客扫,
蓬门今始为君开。
盘飧市远无兼味,
樽酒家贫只旧醅。
肯与邻翁相对饮,
隔篱呼取尽杯。

Khách chí

Xá nam xá bắc giai xuân thuỷ,
Ðãn kiến quần âu nhật nhật lai.
Hoa kiến bất tằng duyên khách tảo,
Bồng môn kim thuỷ vị quân khai.
Bàn tôn thị viễn vô kiêm vị,
Tôn tửu gia bần chỉ cựu phôi.
Khẳng dữ lăng ông tương đối ẩm,
Cách ly hô thủ tận dư bôi.

Dịch nghĩa

Phía nam, phía bắc nhà toàn là nước xuân,
Chỉ thấy những con chim âu ngày ngày bay tới.
Trước đây chưa từng có vì khách nào mà quét đường hoa,
Bây giờ mới vì bạn mà mở cửa cỏ bồng.
Mâm cơm chiều, vì chợ xa nên không có hai món trở lên,
Chén rượu, vì nhà nghèo nên chỉ có rượu cũ chưa lọc.
Thôi đành đối ẩm với lão hàng xóm,
Cách rào, gọi mang ra hết chén rượu còn lại.

Bản dịch của YL

Bên nam bên bắc nước xuân vầy

Chỉ thấy bầy cò vẫn lượn bay

Vắng khách ngõ hoa nào biết quét

Đợi ai cổng cỏ mở hôm nay.

Mâm chiều xa chợ không nhiều món

Ly rượu nhà nghèo chút vị cay

Cùng lão láng giềng vui đối ẩm

Cách rào gọi lấy chén ra bày.

Hàn

Advertisements

Tự giễu chuyện tập làm thơ – YL

Nhân dịp con Chim giới thiệu bài Bán cả Túi Thơ của Hàn Mặc Tử, mình nhớ lại từ 3 năm trước mình tự làm 1 bài thơ cho mình… thật là đáng thương, cao thủ với kẻ học đòi nói chữ thật là khác nhau 1 trời một vực. Nay vui vui lục lại cho lên đây…

Thơ mình có lời phi lộ hẳn hoi, hehe:

Hờ hờ tập tọng làm thơ
Hơ hơ thôi lấy chữ ơ làm vần

và “chính văn” đây:

Tập tọng cũng đòi văn với thơ
Bút chì bút mực giấy vài tờ
Trái khay bánh kẹo hương ngon ngọt
Phải cốc trà xanh khói phất phơ
Nhăn trán chau mày tình ảo não
Vò đầu bứt tóc sắc bơ phờ
Tàn canh trà bánh lên tiên cả
Còn lại trắng tinh giấy mấy tờ.

Mời bạn Dật Ly có nhã hứng thì họa…. 😛

Liên

 

Bán Túi Thơ – Hàn Mặc Tử

Mấy bài thơ này đọc thấy Hàn Mặc Tử dễ thương thế nào ấy 😀

Bán Túi Thơ

Ai mua ta bán túi thơ đây
Đổi lấy tiền tiêu với tháng ngày
Vay mãi non sông coi hổ mặt
Mượn hoài trời đất đã quen tay
Xuân về bố thí năm ba chữ
Tết lại tiêu pha sáu bảy bài
Nhắn khách văn chương trong bốn bể
Bằng lòng mua lấy trả tiền ngay.

Bán Túi Thơ (tự họa)

Này người rao bán túi thơ đây
Văn ấy ta xem kể những ngày
Lắm đoạn tầm thường chưa xứng mặt
Đôi câu kha khá lại lên tay
Rừng Nho cao thẳm bao nhiêu chữ
Biển học sâu xa há mấy bài
Nhắn nhủ, thôi đừng mua bán nữa
Túng tiền hỏi tớ, giúp cho ngay.

Hai bài này nằm trong “Lệ Thanh Thi Tập”, viết hồi còn trẻ, vẫn vui tươi hồn nhiên phóng khoáng, ngông nghênh và hài hước 😛

Đọc bài này em hay nghĩ tới một cảnh… thời nay 😀

Trả lời người rao bán thơ

Một trăm người bán vạn người mua
Khế ngọt thì chanh ắt phải chua.
Cái lưỡi không xương nhiều lắt léo
Con người mắt thịt lắm thêu thùa.
Thôi đừng nhát khỉ rung cây nữa
Mà chớ vườn hoang múa gậy bừa
Có biết thì thưa, không dựa cột
Lên tay, xuống ngón, vội hơn thua.
Trả lời người rao bán thơ (tự họa)

Mặc người trau chuốt, mặc người mua
Ai bảo chanh chua, khế chẳng chua
Mắt cá, hạt châu nên lựa lọc
Miệng lằn, lưỡi mối khá thêu thùa
Trống qua cửa Sấm qua đâu nổi,
………………………………………….
Đàn gảy tai trâu, tay móng nhọn
Mạt cưa mướp đắng thủa nào thua.

Nói chung là trào phúng (tự trào) nhưng vẫn ngông cuồng kiêu căng, chê mình chê người 😛

Văn cảnh:

Theo tác giả Nguyễn Bá Tín (Hàn Mặc Tử trong riêng tư, NXB Hội Nhà Văn, 1994) thì: Khi bước vào địa hạt thơ mới, Hàn bắt đầu được nhiều người khen ngợi. Nhà thơ trẻ Bích Khê chê anh “Điên”, qua lời lẽ khinh bạc mất cả…. vệ sinh trong bài thơ “ Bán Thơ ”…. Nghe được, Hàn cao hứng làm luôn bốn bài, vừa tự xướng, vừa tự họa. Từ đó về sau nghe nói họ quen nhau.

Bán thơ (Bích Khê)

Mưỡu:

Hôm xưa tớ đã bán sầu
Món hàng khá đắt, khách cầu khách mua.
Còn môn Thi vẫn của chua
Khách nào có thích tớ cũng bán đùa làm quen.

Nói:

Sầu đã bán thì thơ cũng bán nốt
Mối Thi-Sầu không cột lại làm chi!
Kìa như đau, như khổ, như oán, như si
Nào giọng đàn ai oán, giọt lệ thương bi
Kết cuộc lại “mốc xì” gì đâu ráo!
Rồng vẽ lối xưa toàn những sao
Cua bò Thơ Mới chả nên câu!
Cũng rung đùi xưng Lí, Đỗ, Hàn, Tô.
Rõ “bát xáo cởi quần mò không thấy cái…”,
Tớ trót đã cùng mang bệnh dại
Từ nay xin đem bán lại cho đời.
Khách làng chơi ai cần đến vốn chơi
Tớ xin bán không lời, cả vốn.
Đời tranh cạnh xen thi vào càng lộn xộn
Chẳng ích chi thêm hao tốn lòng người
Để công phấn đấu với đời.
………….

Anhca

Tống Nhân Đông Du – Ôn Đình Quân

Giới thiệu tác giả (trích wiki cho nhanh nhé :P)

Ôn Đình Quân (chữ Hán: 溫庭筠, 813?-870?), vốn tên Kỳ (岐), tự Phi Khanh (飛卿); là nhà thơ, và là nhà làm từ Trung Quốc thời Vãn Đường.

Ôn Đình Quân là người đất Kỳ, phủ Thái Nguyên (nay là huyện Kỳ, tỉnh Sơn Tây), là cháu nội của Ôn Ngạn Bác, tể tướng triều Đường Cao Tông.
Ông thông minh, giỏi văn thơ, âm nhạc ; nhưng dung mạo xấu xí và có tính phóng đãng. Ông “thường cùng bọn con em vô lại các nhà quý tộc ra vào nơi ca lâu, rượu chè, bài bạc, say đắm nữ sắc, vì thế bị các sĩ đại phu đương thời khinh rẻ, suốt đời không đỗ được tiến sĩ” .
Có một thời, ông hay lui tới nhà quan tướng quốc Lệnh Hồ Đào (con Lệnh Hồ Sở), nhưng sau vì việc riêng, Hồ Đào đâm ra ghét ông.
Đến khi người ông quen là Từ Thương đi trấn giữ Tương Dương, ông được theo làm tuần quan, nhưng rồi vì bất đắc chí, ông xin thôi chức để sống đời phiêu lãng.
Mãi đến khi tuổi đã cao, đời vua Đường Tuyên Tông, ông mới nhận làm chức úy ở Phương Thành, rồi đổi sang huyện Tùy. Năm 866, ông được cử làm chủ thí, cuối cùng Quốc tử trợ giáo. Sau, ông lại bỏ chức, từ giã kinh thành Trường An, đi lưu lạc giang hồ cho đến khi mất.

Trước đây, người ta thường coi Lý Thương Ẩn và Ôn Đình Quân là hai nhà thơ cùng một phái, và gọi là “Ôn Lý”. Song, theo các nhà nghiên cứu văn học gần đây, thì gọi như thế có phần không chính xác, vì phong cách nghệ thuật của hai ông rất khác nhau. Về thành tựu thơ ca, Ôn Đình Quân còn kém xa Lý Thương Ẩn, vì thơ ông có phần “phù phiếm, nông cạn, thiếu những tình cảm chân thành”; nhưng nói về từ thì ông có nhiều bài rất đặc sắc. Từ của Ôn Đình Quân hiện còn hơn 70 bài trong Kim thuyên tập, nội dung hầu như đều viết về phụ nữ, về những mối sầu tương tư; và lấy màu sắc nồng đượm, lời lẽ hoa mỹ, tạo thành phong cách “thơm tho mềm mại, tràn ngập hương vị son phấn” của riêng ông. Phong cách này có ảnh hưởng đến các nhà làm từ đời sau, hình thành “Phái trong hoa” (Hoa gian phái) mà ông được tôn vinh là người đứng đầu.

Cho nên khi nói về từ đời Đường, học giả Nguyễn Hiến Lê cũng đã có lời khen ngợi từ của ông như sau:

Từ Ôn Đình Quân rất diễm lệ, lại sáng tác được nhiều điệu mới, ảnh hưởng đến đời sau rất nhiều. Ông đứng đầu trong nhóm từ gia có tác phẩm chép trong bộ “Hoa gian tập”. Ông chiếm một địa vị đặc biệt ở giữa cái thời thơ suy mà từ thịnh.

Thực ra nghe tên Ôn Đình Quân rất nhớ lâu, tại là thường dc nhắc kèm vs Lý Thương Ẩn (như ở trên), lại là người đứng đầu trong cái Hoa Gian Phái nổi tiếng, thêm nữa là tên nghe rất hay 😛 tuy nhiên là do ông viết nhiều Từ nên ta cũng ít khi đọc (lười đọc từ phết :P). Đọc tiểu sử thì thấy người ta có vẻ phê phán, haha, giới văn sỹ ăn chơi đàn đúm thì hình như thời nào cũng bị người đời dè bỉu 😛

Tuy nhiên, ko hiểu sao, theo lời mô tả ở trên, bác này dung mạo xấu xí, tính tình phóng đãng, nhưng mà thơ, nhất là từ, thì lại rất nhã nhặn, có thể xem tại đây

http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=52&Page=3

Vd 1 đoạn trong bài Vũ Y Khúc nhé:

Quản hàm lan khí kiều ngữ bi,
Hồ tào tuyết oản uyên ương ti.
Phù dung lực nhược ứng nan địch,
Dương liễu phong đao bất tự trì.

Dc dịch thơ thành:

Tiếng buồn theo ngọn sáo lan
Hồ cầm tay tuyết dây đàn uyên ương
Như phù dung yếu vấn vương
Như cành liễu cuốn trước cơn gió vày.

Trên thivien.net có 1 loạt các bài Từ của bác Ôn, nhưng mà trong bối cảnh blog đang bị tràn ngập bởi các bài từ bi thương, Âu Dương Tu, Bạch Cư dị, Lý Thanh chiếu, và nhất là Án Kỷ đạo, e rằng đưa từ của bác Ôn, mặc cho bi thương hay sặc mùi son phấn, vẫn sợ rằng chúng vẫn sẽ bị chìm nghỉm mất 😛

Tại hạ chú ý hơn đến thơ của Ôn Đình Quân, hì hì, chủ yếu bởi vì bị chê quá, vd “phù phiếm, nông cạn, thiếu những tình cảm chân thành”. Dĩ nhiên là trên thivien có 1 ít, có lẽ là chưa đủ bộ sưu tập, hoặc là chỉ post nx bài hay nhất (thông tin này để nàng Sen giỏi tiếng Bông sẽ check lại), nhưng đọc qua thấy cũng rất khá. Thực ra ta khá là phãn cảm với cách chê bai chủ quan như cái quote ở trên. Cái j là phù phiếm, là nông cạn, ai quy định cái j là chân thành… Đấy, biết đâu đời sống của ông Ôn chỉ quen thuộc vs nx hoạt động “phù phiếm”, vs nx kẻ phấn son đàn đúm, cũng như bác Án suốt ngày lang thang trong mộng, mỗi người mỗi cuộc đời, mỗi hoài bão, ước mơ riêng, làm sao ép dc người ta cứ phải làm “thơ dĩ tải đạo”, phải nói về nx tư tưởng lớn lao ???

Cũng có thể người ta chê phù phiếm và ko sâu sắc là bởi thơ của bác Ôn có vẻ ít sáng tạo, hay ước lệ, và thường tả cảnh là nhiều, vd:

Xuân Nhật Ngẫu Tác (Viết linh tinh ngày xuân)

Tây viên nhất khúc diễm dương ca,
Nhiễu nhiễu xa trần phụ bệ la.
Tự dục phóng hoài do vị đắc,
Bất tri kinh thế cánh như hà.
Dạ văn mãnh vũ phan hoa tận,
Hàn luyến trùng khâm giác mộng đa.
Ðiếu chử biệt lai ưng cánh hảo,
Xuân phong hoàn vị khởi vi ba.

Dc dịch thơ bởi Lý Tứ (trên thivien)

Tây viên văng vẳng khúc xuân ca
Xe cuốn bụi mờ phủ bệ la
Vẫn muốn thanh nhàn mà chửa được
Chưa tường thế sự sẽ kinh qua
Luyến lưu chăn ấm chờ cơn mộng
Ào ạt mưa đêm giật cánh hoa
Ly biệt, bến câu giờ hẳn đẹp
Gió xuân vẫn gợn sóng vì ta ?

Đọc qua mấy bài thơ trên thivien, thì bạn AC thích nhất là bài

送人東遊

荒戍落黃葉,
浩然離故關。
高風漢陽渡,
初日郢門山。
江上幾人在,
天涯孤棹還。
何當重相見,
樽酒慰離顏。

Tống Nhân Đông Du (Tiễn người đi về phía Đông)

Hoang thú lạc hoàng diệp,
Hạo nhiên ly cố quan.
Cao phong Hán Dương độ,
Sơ nhật Dĩnh Môn sơn.
Giang thượng kỷ nhân tại,
Thiên nhai cô trạo hoàn.
Hà đương trùng tương kiến,
Tôn tửu uỷ ly nhan.

Nghĩa là

Ngoài đồn lính xa xôi, lá vàng rơi tùm lum
(Người) Hào sảng mà rời cửa ải xưa (1)
Gió thổi mạnh ở bến phà Hán Dương
Mặt trời vừa lên đỉnh Dĩnh Môn (2)
Trên sông có còn mấy người
Chân trời thuyền cô độc bơi về (3)
Ko biết lúc nào lại gặp lại
Ly rượu an ủi gương mặt đi xa /nỗi niềm ly biệt.

(1) “Hạo nhiên”: theo bạn YL hôm xưa giải thik thì là “to lớn, vĩ đại”, còn có nghĩa là “kiên định, khẳng khái, hào sảng”

(2) Trên trang baidu, thấy giải nghĩa là: Gió mạnh thổi thuyền qua phà (ferry) Hán Dương, tới lúc mặt trời mọc là có thể đi đến núi Dĩnh Môn.

(3) 2 câu này có lẽ có 2 cách hiểu: mấu chốt là do cụm “cô trạo hoàn”, tại sao lại dùng chữ “hoàn” –  nghĩa là quay lại?

Hoặc là: người tiễn đứng trên bến song ở Hán Dương, nhìn theo thuyền của người đi, lẻ loi ở chân trời, xuôi dòng về phía Đông. Như vậy, “hoàn” ở đây ý là “hoàn Đông” – trở về phía Đông, “hoàn” là động từ của người đi. Và nếu vậy thì nghĩa câu này sẽ tương tự: “Cô phàm viễn ảnh bích ko tận – Duy kiến trường giang thiên tế lưu” 😛

Hoặc là: người đưa tiễn cùng lên thuyền với người đi về Đông, qua phà Hán Dương, người đi sẽ lên bộ đi tiếp về phía núi Dĩnh Môn, còn người đi tiễn sẽ “hoàn” – quay thuyền lẻ loi trở về (đồn hoang nơi biên ải), lúc này trên thuyền sẽ bớt người, còn lại mỗi tác giả, vì vậy nói: “Giang thượng kỷ nhân tại” (Trên sông có còn ai). Bạn AC thì ủng hộ cách hiểu số 2 này, vì nó có điểm thú vị hơn cách kia, cảm giác cái ý “giang thượng kỷ nhân tại” thê lương hơn 1 chút, nó khác vs Lý Bạch tống Mạnh Hạo Nhiên, và vì vậy người đọc dễ nhớ hơn 1 chút 😛

Dc nhà thơ Ngô Văn Phú dịch từ đã lâu (thể 6-8)

Đồn hoang đang rụng lá vàng
Ải xưa khảng khái rộn ràng ra đi
Hán Dương gió lộng bến bờ
Dĩnh Môn vầng nhật vừa nhô khỏi rừng
Mấy người còn lại trên sông?
Mái chèo đơn lẻ bềnh bồng cõi xa
Gặp nhau lại biết bao giờ
Ngại nhìn mặt nhắp chén khà biệt ly.

Bài thơ này, lần đầu tiên bạn AC đọc lên thì thấy rất có ấn tượng, bởi vì nó là thể ngũ ngôn I like (sở thik cá nhân của bạn AC thôi). Ko biết thơ V ngta có hay làm thể này hay ko, chứ đọc Hán Việt thì thể ngũ ngôn thanh âm nghe rất gọn gàng, chắc chắn mà thanh thoát (còn thất ngôn thì ngân vang, èo uột và lãng mạn hơn 1 chút, hihi).

Chủ đề là đưa tiễn – cũng thường gặp trong văn thơ xưa. Có 2 danh từ riêng, và vì thế khả năng sẽ gây phản cảm vs bạn Sen? 😛 Trừ 2 cái câu đó, thì còn lại, câu thơ nào cũng thấy hay. Thik nhất là 2 câu đầu, và 2 câu 5-6.

Xem 1 hồi thì mới để ý thấy bài này dc chọn trong tập Đường Thi Tam Bách Thủ, hehe, té ra đã famous từ đời nào rồi 😛

Bạn Sen nếu có hứng thú thì dịch ngũ ngôn nhé. Lại muốn hào hứng thêm thì có thể rủ Bonny – đại danh đỉnh đỉnh hehe

Luật thơ ngũ ngôn (bát cú): Giống thất ngôn bát cú, nhưng bỏ hai chữ đầu ở mỗi câu, tùy ý chọn thể 7n8c vần bằng hay 7b8c vần trắc.

—–

Anhca

—————

Tống Nhân Đông Du (Tiễn người đi về phía Đông)

Bản dịch lục bát của Yên Liên

Đồn xa lá rụng vàng trời

Thênh thang cất bước chân rời ải xưa

Hán Dương gió thổi lộng bờ

Dĩnh Môn đỉnh nọ chói mơ ánh hồng

Mấy ai vẫn ở trên sông?

Mái chèo cô bạc ngàn trùng sóng mây

Bao giờ gặp lại nhau đây

Chén nâng an ủi tình này phân ly..

Bản dịch chơi ngũ ngôn

Đồn xa vàng lá rụng

Ải cũ bước thênh thang

Bờ Hán Dương đầy gió

Dĩnh Môn đỉnh ánh quang

Ai còn nơi bến nước?

Thuyền lẻ giữa mênh mang

Biết có ngày tương hội

Rượu chia nỗi nhớ chăng?

Hàn Sinh

U cư kỳ 2 – Nguyễn Du

Vẫn tiếp câu chuyện về Nguyễn Trãi >< Nguyễn Du, đây lại là 1 bài nữa của Nguyễn Du, chăm chăm bảo toàn tính mạng nhé :-P, đăng lên đây xem con chim có hứng thú phân tích ko?

桃花桃葉落紛紛,
門掩斜扉一院貧。
住久頓忘身是客,
年深更覺老隨身。
異鄉養拙初防俗,
亂世全生久畏人。
流落白頭成底事,
西風吹倒小烏巾。

桃花桃叶落纷纷

门掩斜扉一院贫。

住久顿忘身是客,

年深更觉老随身。

异乡养拙初防俗,

乱世全生久畏人。

流落白头成底事,

西风吹倒小乌巾。

Đào hoa, đào diệp lạc phân phân,
Môn yểm tà phi nhất viện bần.
Trú cửu đốn vong thân thị khách,
Niên thâm cánh giác lão tuỳ thân.
Dị hương dưỡng chuyết sơ phòng tục,
Loạn thế toàn sinh cửu uý nhân.
Lưu lạc bạch đầu thành để sự,
Tây phong xuy đảo tiểu ô cân.

Dịch nghĩa

Hoa đào, lá đào rụng lả tả.
Cánh cổng xiêu vẹo, mái nhà bần bạc.
Trú ngụ ở đây lâu ngày, quên bẵng mình là khách,
Trải qua nhiều năm tháng, biết tuổi già đã đến rồi!
Ở nơi đất khách quê người, đành giả vụng, đề phòng động đến kẻ tục,
Sống buổi loạn lạc, muốn giữ toàn tính mệnh, thấy ai cũng sợ.
Xiêu giạt đến bạc đầu mà nào được việc gì đâu!
Ngọn gió tây thổi rơi chiếc khăn đen nhỏ!

nguồn: thivien.net

Bản dịch thất ngôn của Yên Liên

Hoa lá đào rơi lung loạn rơi

Cổng nhà xiêu đổ vách nghèo phơi

Ở lâu quên mất mình dân ngụ

Năm lại qua năm già đến nơi

Đất khách giả ngây phòng sự tục

Loạn thời giữ mạng sợ người đời

Bạc đầu lưu lạc không ra việc

Gió thổi khăn rơi ảm đạm rơi.

Bản dịch lục bát của Yên Liên

Gốc đào hoa lá loạn bay

Nghèo phơi vách bạc lắt lay cổng nhà

Năm qua người cũng đã già

Ở lâu quên mất mình là khách thôi

Phòng sự tục, giả vụng đời

Giữ thân thời loạn gặp người là lo

Bạc đầu việc chẳng nên cho

Lan man gió thổi, lập lờ khăn rơi.

YL

Ỷ hoài kỳ 15 – Hoàng Cảnh Nhân

Đang luyện mấy tập đầu Phúc Vũ Phiên Vân (kiếm hiệp/potentially sắc hiệp???, thấy thiên hạ đồn thổi thế) của Hoàng Dị, thấy đoạn viết về  mối quan hệ yêu/hận …giữa ma sư Bàng Ban và Băng Vân, Bàng Ban có niệm lên hai câu thơ Tự thử tinh thần phi tác dạ – Vị thùy phong lộ lập trung tiêu, check ra hóa ra là trong bài Ỷ hoài kỳ 15 của Hoàng Cảnh Nhân.

Thơ của Hoàng Cảnh Nhân có vẻ không phổ biến ở Việt Nam, vì tác gia này thuộc thời nhà Thanh (Càn Long), mà tính đến thời nhà Thanh thì Việt Nam đã độc lập rất lâu khỏi   Trung Quốc rồi nên chắc… cập nhật thông tin ít đi – personal opinion (ở Việt Nam ta hình như phổ biến nhất là thơ thời Đường – là thời mà (miền Bắc)Việt Nam được hành chính hóa một cách có hệ thống, bài bản vào Trung Quốc; về sau thời Tống – giai đoạn Việt Nam bắt đầu ly khai nhưng chịu ảnh hưởng cũng còn mạnh lắm, đặc biệt là Nho học thời Tống-  Tống từ  không còn được ưa chuộng bằng nữa – ít ra ở khía cạnh là các dạng từ điệu (kể cả luật lẫn nhạc) hầu như ko du nhập vào Việt Nam). “Hình như, có vẻ” thôi nhé, vì đây là cảm nhận cá nhân, chứ ko dựa trên ”nghiên cứu và chứng minh khoa học” hì…

Trên thivien.net chỉ có duy nhất 1 bài thơ của Hoàng Cảnh Nhân, nhưng đây là tác gia nổi tiếng lắm, còn cái bài sắp chép ra đây nằm trong top 100 bài thơ tình nổi tiếng nhất của TQ (hôm qua google ra mấy cái link nói như thế đấy, nhưng quên giữ lại 😦 ) Bonus info là hóa ra khá nhiều tiểu thuyết ngôn tình mượn hai câu chép ở trên (again, thanks google).

绮怀 -黄景仁
几回花下坐吹箫,
银汉红墙入望遥。
似此星辰非昨夜,
为谁风露立中宵。
缠绵思尽抽残茧,
宛转心伤剥后蕉。
三五年时三五月,
可怜杯酒不曾消。

Hán Việt:

Ỷ hoài

Kỷ hồi hoa hạ tọa xuy tiêu

Ngân Hán hồng tường nhập vọng diêu

Tự thử tinh thần phi tác dạ

Vị thùy phong lộ lập trung tiêu (”vi” hay ”vị” nhỉ?)

Triền miên tư tận trừu tàn kiển

Uyển chuyển tâm thương bác hậu tiêu

Tam ngũ niên thì tam ngũ nguyệt

Khả liên bôi tửu bất tằng tiêu.

Dịch nghĩa

cái này… hic, ngoài phạm vi khả năng của mình… không biết ai kia có giúp gì được ko???

Bài thơ gì mà khó hiểu, cơ mà thấy các bạn Tàu kêu là “kiệt tác” trong thể loại thơ tình (quên rồi, trong cái link nào đó ấy). Dưới đây là phần dịch nghĩa, sau bao trăn trở và interactions của bạn YL và DL 😛

Bao lần ngồi thổi tiêu dưới hoa,
Ở trong tường (nhà) thất thần ngắm dòng Ngân hán (1)
Sao đêm nay đã không còn là sao của đêm trước,
Vì ai mà (ta) vẫn đứng trong gió sương này (2)
Tương tư suy nghĩ triền miên như kén tằm bị kéo kiệt hết cả tơ, (3)
Thương tâm day dứt/ trăn trở như cây chuối bị rụng hết lá xác xơ (4)
Thời gian mười lăm năm, bao lần lần trăng đầy
Thật là tội nghiệp, chén rượu chưa bao giờ tiêu.(5)

1. Tức dải ngân hà, và liên quan đến chuyện tình anh Ngưu chị Chức 😛

2. chắc đại loại hàm ý là vật đổi sao dời nhưng tình ko đổi – đứng tất nhiên là đứng cô đơn, tương tư, sầu khổ, hoặc đợi chờ hì)

3. Mới đọc qua thì bạn DL vs trí tưởng bở phong phú đã hiểu ra thành tương tư triền miên ngồi kéo da chết ở tay ra nghịch (kiển là vết chai tay :P)

4. YL: http://baike.baidu.com/view/764.htm#7 –> cái trang này, ở phần cuối cùng có nhắc đến trong văn thơ cổ Trung Quốc cây chuối thường được liên hệ với cô độc ưu sầu đặc biệt là do ly tình biệt tự (常常与孤独忧愁特别是离情别绪相联系) , lại còn dẫn dắt cả Lý thanh Chiếu với Hồng Lâu Mộng gì đó… hic chỉ biết đến đó thôi… mà hình như baidu là nguồn kiểu wiki, ko trích dẫn được? :D

DL: lại tưởng bở phong phú, suy luận ra là thương tâm day dứt ngồi bóc vỏ chuối (ăn) 😛

5. Còn có cách hiểu khác là:

Tam ngũ niên, tam ngũ nguyệt chỉ có nghĩa tương đối, để chỉ 1 khoảng thời gian dài, thậm chí vô tận, chén rượu nuốt ko thể trôi, nghĩa bóng là ko thể bỏ dc nỗi niềm tương tư, thương tâm 😛

Bạn YL: Trong lòng luôn vấn vương sầu khổ, cho nên chưa từng uống dc cạn 1 chén rượu, uống 1 trận thống khoái, hào sảng như kiểu bác Lý Bạch dc 😀 or thương thay chén rượu chưa bao giờ tiêu sầu (chén rượu chưa bao giờ làm được việc là tiêu sầu)

Bạn DL: Ko phải ko uống rượu hết ly, mà là uống hết ly rượu bi thương này, ly sau vẫn là ly rượu bi thương, rượu nào cũng chứa nỗi tương tư sầu khỗ, ko có rượu nào là vui, là để tán sầu cả 😛

—-

Bản dịch lục bát của Yên Liên (tức là sẽ còn bản dịch thất ngôn bát cú chăng 😀 who knows?)

Đâu khi tiêu thổi dưới hoa

Tường hồng lặng ngắm ngân hà trên cao

Sao kia đã chẳng đêm nào

Vì ai vẫn đứng nghẹn ngào gió sương

Mỏi mòn kiệt sức tơ vương

Lòng đau thân chuối canh trường càng trơ.

Tháng năm vò võ thoi đưa

Thương thay chén rượu mãi chưa cạn sầu.

Bản dịch thất ngôn của Yên Liên

Mấy độ thổi tiêu dưới gốc hoa

Tường hồng lặng ngắm dải ngân hà

Sao kia đã chẳng sao đêm trước

Sương gió vì ai giữa bóng tà

Mòn mỏi tương tư tằm kiệt xác

Quắt quay thương hận chuối trầy da

Mười lăm năm biết bao trăng sáng

Rượu cạn được đâu luống xót xa.

—-

Lãnh Trì Huyết Liên

Không ngủ – Nguyễn Trãi vs. Nguyễn Du

Cái này định đăng lên lâu lắm rồi, có nhã ý tặng nàng Dật Ly, tức là mời nàng Dật Ly phân tích, bởi vì ta đây không có năng khiếu cảm nhận thơ và bình thơ như nàng…

Hai tiền bối, Nguyễn Trãi và Nguyễn Du – mà ta đây là fan cuồng, có vẻ đều hay ‘trằn trọc năm canh giấc chẳng thành’, mà khi giấc không thành thì đều làm thơ. Nhưng mà, sự trằn trọc của Nguyễn Trãi khác xa Nguyễn Du. Trằn trọc của Nguyễn Trãi là ‘tiên ưu niệm’, những vẫn đề trị quốc bình thiên hạ, là lý tưởng, là mục tiêu, mục đích practical, cụ thể. Còn trằn trọc của Nguyễn Du có vẻ vì những vấn đề triết lý nhân sinh, mà dùng từ một cách điệu đà và thể hiện ta đây thỉnh thoảng cũng có sờ đến sách là những vấn đề ‘bản thể luận’ và ‘nhận thức luận’ – ontology and epistemology, nghe hơi hướng philosophy rồi nha (mặc dù chả liên quan gì mấy) :-P.

Do đó, Nguyễn Trãi – người biết mình muốn gì, hì, chỉ dừng lại ở sự trằn trọc, ko bao giờ đặt câu hỏi (ít ra là trong những bài thơ ta từng đọc qua), còn Nguyễn Du – người hứng thú với những vấn đề khá trừu tượng, hay nghĩ quẩn quanh, liên tục đặt các loại câu hỏi đại loại như 300 năm nữa ai khóc ta, hay ai sẽ mời rượu bên mộ ta (nếu nhìn theo một khía cạnh khác thì cụ có vẻ khá lo đến vấn đề hương hỏa :-P)

Đấy, dẫn đề là thế.

Đây là bài ko ngủ của Nguyễn Trãi

Hải khẩu dạ bạc hữu cảm

海口夜泊有感

一別江湖數十年,
海門今日繫吟船。
波心浩渺滄洲月,
樹影參差浦漵煙。
往事難尋時易過,
國恩未報老堪憐。
平生獨抱先憂念,
坐擁寒衾夜不眠。

Nhất biệt giang hồ sổ thập niên
Hải môn kim nhật hệ ngâm thuyền
Ba tâm hạo diểu thương châu nguyệt
Thụ ảnh sâm si phố tự yên
Vãng sự nan tầm thời dị quá
Quốc ân vị báo lão kham liên.
Bình sinh độc bão tiên ưu niệm*
Tọa ủng hàn khâm dạ bất miên.

Dịch nghĩa

Từ ra đi lưu lạc giang hồ đã mấy mươi năm
Tối nay buộc thuyền thơ nơi cửa biển
Đáy nước mênh mang, trăng chiếu trên bãi lạnh
Hình dáng cây cối lô nhô, khói phủ trên bến
Khó tìm nhớ lại việc xưa, thời gian trôi quá dễ
Tự thương xót mình đã già mà ơn nước chưa đền
Bình sinh một mình ôm cái chí lo truớc hưởng sau
Ngồi cuốn chăn lạnh thức suốt đêm.

* Bản Đào Duy Anh (Nguyễn Trãi toàn tập) ghi là ‘tiên ưu chí’: ý chí lo trước, do chữ ‘tiên ưu hậu lạc’ (lo trước vui sau). Bài Nhạc Dương Lâu ký của Phạm Trọng Yêm đời Tống có câu: ‘tất kỳ tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc’ (phải lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ), là tinh thần phục vụ của kẻ giúp dân giúp nước.

…một bài khác:

Thính vũ

聽雨

寂寞幽齋裏,
終宵聽雨聲。
蕭騷驚客枕,
點滴數殘更。
隔竹敲窗密,
和鐘入夢清。
吟餘渾不寐,
斷續到天明。

Thính vũ

Tịch mịch u trai lý,

Chung tiêu thính vũ thanh,
Tiêu hao kinh khách chẩm!
Điểm trích sổ tàn canh.
Cách trúc xao song mật,
Hoà chung nhập mộng thanh.
Ngâm dư hồn bất mị,
Đoạn tục đáo thiên minh.

Dịch nghĩa:

Trong phòng tối tịch mịch,
Suốt đêm nghe tiếng mưa.
Não nùng làm kinh động gối khách,
Giọt thánh thót suốt mấy canh tàn.
Cách bụi trúc tiếng khua nhặt vào cửa sổ,
Lẫn tiếng chuông nhập vào giấc mơ.
Ngâm (thơ) rồi vẫn không ngủ được,
Nghe đứt nối cho đến trời bình minh.

Còn đây là bài không ngủ của Nguyễn Du:

Bất mị

不寐聽寒更,
寒更不肯盡。
關山引夢長,
砧杵催寒近。
廢灶聚蝦蟆,
深堂出蚯蚓。
暗誦天問章,
天高何處問?

Bất mị thính hàn canh,
Hàn canh bất khẳng tận.
Quan san dẫn mộng trường,
Châm chử thôi hàn cận.
Phế táo tụ hà ma,
Thâm đường xuất khâu dận.
Ám tụng “Thiên vấn” chương,
Thiên cao hà xứ vấn?

Dịch nghĩa:

Không ngủ nằm nghe tiếng trống canh trong đêm lạnh.
Trong đêm lạnh, trống canh điểm không thôi.
Quan san làm giấc mộng dài thêm,
Tiếng chày nện vải càng giục hơi lạnh đến gần.
Cóc nhái tụ họp quanh bếp,
Giun từ góc sâu trong nhà bò ra.
Thầm đọc bài ca hỏi trời,
Trời cao, biết đâu mà hỏi?

… và bài hỏi han khác của Nguyễn Du:

Đối tửu

對酒

趺坐閒窗醉眼開,
落花無數下蒼苔。
生前不盡樽中酒,
死後誰澆墓上杯。
春色漸遷黃鳥去,
年光暗逐白頭來。
百期但得終朝醉,
世事浮雲真可哀。

Phu toạ nhàn song tuý nhãn khai,
Lạc hoa vô số há thương đài.
Sinh tiền bất tận tôn trung tửu,
Tử hậu thuỳ kiêu mộ thượng bôi ?
Xuân sắc tiệm thiên hoàng điểu khứ,
Niên quang ám trục bạch đầu lai.
Bách kỳ đãn đắc chung triêu tuý,
Thế sự phù vân chân khả ai.

Dịch nghĩa:

Ngồi xếp bằng tròn trước cửa sổ, rượu vào hơi say mắt lim dim,
Vô số cánh hoa rơi trên thảm rêu xanh.
Lúc sống không uống cạn chén rượu,
Chết rồi, ai rưới trên mồ cho ?
Sắc xuân thay đổi dần, chim hoàng oanh bay đi,
Năm tháng ngầm thôi thúc đầu bạc.
Cuộc đời trăm năm, chỉ mong say suốt ngày.
Thế sự như đám mây nổi, thật đáng buồn.

Tất cả thơ và dịch nghĩa đều lấy trên thivien.net

Đấy, con người văn hay chữ tốt, bình thơ đi.

Đông Phương Hưởng Lạc

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: