Thu chí II – Nguyễn Du

秋至 (2)

四時好景無多日,
拋擲如梭喚不回。
千里赤身為客久,
一庭黃葉送秋來。
簾垂小閣西風動,
雪暗窮村曉角哀。
惆悵流光催白髮,
一生幽思未曾開。

Tứ thì hảo cảnh vô đa nhật,
Phao trịch như thoa hoán bất hồi.
Thiên lý xích thân vi khách cửu,
Nhất đình hoàng diệp tống thu lai.
Liêm thuỳ tiểu các tây phong động,
Tuyết ám cùng thôn hiểu giác ai.
Trù trướng lưu quang thôi bạch phát,
Nhất sinh u tứ vị tằng khai.

Đã tra nghĩa và xem xét cấu tứ – đối từ đối ý của tác giả và tạm dịch nghĩa như sau:

Trong bốn mùa, không được mấy ngày cảnh đẹp.
Thời gian vun vút trôi qua như thoi đưa, gọi không trở lại.
Trơ trọi một mình ngoài ngàn dặm, làm khách đã lâu ngày, (1)
Một sân lá vàng đưa mùa thu tới
Bức mành trước gác nhỏ lay động theo gió tây,
Tuyết phủ thôn nghèo u buồn theo tiếng tù và buổi sớm.(2)
Đau thương thất vọng làm cho mái tóc chóng bạc
Cả cuộc đời vẫn không thoát được những suy nghĩ u uẩn. (3)

Chú giải:

(1) câu này ý rất là tương tự với “Vạn lý bi thu thường tác khách” của Đỗ Phủ. Rất hay!

(2)

Câu 5 và 6 đối nhau: câu 5 gồm

Liêm /thuỳ (v hoặc adj nghĩa là gần, ở bên)/ tiểu các /tây phong/ động (v)

Tuyết / ám (v hoặc agj này cũng nghĩa là gần)/cùng thôn/ hiểu giác /ai (v)

“ai” ở đây có lẽ là động từ “than vãn” thì mới đối chỉnh với “động” ở trên.

Theo tra trên mạng thì “hiểu giác” là cách nói tắt của “Sương thiên hiểu giác” – là 1 điệu từ. Như vậy, có thể hiểu là “tiếng bi thương từ điệu ‘hiểu giác’” ????

(3) E sửa lại luôn 2 câu cuối theo ý tác giả, phần dịch nghĩa của các bạn thivien phóng tác quá ác :P

Rồi đấy, người, bây giờ có thể xắn tay áo xông vào dịch rồi đấy ;)

Bản dịch thất ngôn của Dật Ly

Bốn mùa chẳng có mấy ngày vui

Vun vút thoi đưa chẳng thể lùi.

Đất khách dặm ngàn thân cô độc

Lá vàng sân vắng nhắc sang thu.

Rèm thưa gác nhỏ lay trong gió

Tuyết lạnh cô thôn vẳng tiếng tù. (*)

Dai dẳng  thương đau thay màu tóc

Vẩn vương u uất biết chừng nguôi.

(*) Câu này khó vì quá nhiều thứ, ko chứa dc trong 7 chữ :( ((

Này phải hiểu theo kiểu thơ Bút Tre, tức là “vẳng tiếng tù (và)” he he he.

Đợi bản dịch của bạn HS…

Bản dịch thất ngôn của Yên Liên

Thu đến

Bốn mùa cảnh đẹp được bao ngày

Đi mãi thời gian chẳng tái lai

Ngàn dặm thân cô trơ nỗi khách

Một sân thu lạnh lá vàng bay

Thôn nghèo tuyết ám tù buồn vọng

Gác lẻ gió dồn mành buốt lay

Ngao ngán thương sầu cho tóc bạc

Nỗi niềm u uẩn dứt sao đây.

Bản dịch lục bát của Yên Liên

Bốn mùa cảnh đẹp mấy ngày

Thời gian trôi mãi quay về được đâu

Thân khách ngàn dặm bấy lâu

Thu sang lá rụng vàng mầu sân hoang

Gác mành động, gió luồn ngang

Thôn nghèo tuyết bạc buồn vang tiếng tù

Trắng đầu trăm nỗi sầu tư

Một đời u uẩn có từ được đâu.

—-

YL

Advertisements

Hải khẩu dạ bạc hữu cảm I – Nguyễn Trãi

海口夜泊有感

一別江湖數十年,
海門今日繫吟船。
波心浩渺滄洲月,
樹影參差浦漵煙。
往事難尋時易過,
國恩未報老堪憐。
平生獨抱先憂念,
坐擁寒衾夜不眠。

Nhất biệt giang hồ sổ thập niên
Hải môn kim nhật hệ ngâm thuyền
Ba tâm hạo diểu thương châu nguyệt
Thụ ảnh sâm si phố tự yên
Vãng sự nan tầm thời dị quá
Quốc ân vị báo lão kham liên.
Bình sinh độc bão tiên ưu niệm*
Tọa ủng hàn khâm dạ bất miên.

Dịch nghĩa

Từ ra đi lưu lạc giang hồ đã mấy mươi năm
Tối nay buộc thuyền thơ nơi cửa biển
Đáy nước mênh mang, trăng chiếu trên bãi lạnh
Hình dáng cây cối lô nhô, khói phủ trên bến
Khó tìm nhớ lại việc xưa, thời gian trôi quá dễ
Tự thương xót mình đã già mà ơn nước chưa đền
Bình sinh một mình ôm cái chí lo truớc hưởng sau
Ngồi cuốn chăn lạnh thức suốt đêm.

* Bản Đào Duy Anh (Nguyễn Trãi toàn tập) ghi là ‘tiên ưu chí’: ý chí lo trước, do chữ ‘tiên ưu hậu lạc’ (lo trước vui sau). Bài Nhạc Dương Lâu ký của Phạm Trọng Yêm đời Tống có câu: ‘tất kỳ tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc’ (phải lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ), là tinh thần phục vụ của kẻ giúp dân giúp nước.

Cảm hứng đêm đậu thuyền ở cửa biển (Bản dịch của Nguyễn Tấn Hưng)
Bao năm xa cách sông hồ,
Đêm nay lại buộc thuyền thơ chốn này.
Mênh mông sóng bãi trăng đầy,
Khói lồng bến nước bóng cây im lìm.
Thời qua, việc cũ khó tìm
Chưa đền ơn nước buồn thêm tuổi già.
Tiên ưu ray rứt lòng ta,
Khoác chăn trằn trọc canh tà khôn khuây…

(nguồn: thivien.net)

—-

Đưa trước bài này lên để nâng cao sỹ khí, ‘câu dẫn’ bản dịch của Vũ Khánh 😀

Yên Liên đã có 2 bản dịch, nhưng chưa “show hàng”, phần vì vẫn phân vân 1 số ‘tu từ’, và phần vì đợi bản dịch của Vũ Khánh…

Đây là bài thơ được YL đánh giá là khá khó dịch, vì ba câu 5 6 7, đặc biệt nếu muốn giữ nguyên thể thơ Đường luật.

Vãng sự nan tầm thời dị quá…. cái ý ‘vãng sự nan tầm’ đối với YL quả có trừu tượng (hoặc là nàng này đầu óc không thông), không hiểu ý Ức Trai tiền bối là gì?

Quốc ân vị báo lão kham liên… dịch giả Nguyễn Tuấn Hưng dịch rất hay, nhưng muốn gói ý này trong câu 7 chữ không đơn giản chút nào, đặc biệt theo đúng luật câu này phải đối với câu trên.

Bình sinh độc bão tiên ưu niệm… chỉ là ba chữ tiên ưu niệm, nhưng bao hàm ý tứ sâu xa, nếu có tham vọng diễn Nôm, chọn từ ngữ  khá nan giải…

Tuy nhiên, vẫn vì cái sự người Việt dùng hàng Việt,  mà gửi email “bức” Vũ Khánh tham gia cuộc chơi này… Yên Liên gọi là cuộc chơi, còn Vũ Khánh email phúc đáp gọi đây là “kì thi”, hy vọng Vũ Khánh không đến mức cảm giác bị YL “ép người quá đáng” 🙂 (mà về kinh nghiệm và khả năng dịch thơ YL còn xách dép chạy theo Vũ Khánh dài dài) ….

YL đang dài cổ ngóng thí sinh VK nộp quyển…

(khẽ khàng, nhỏ nhẹ hỏi con chim: nàng Dật Ly có nhã hứng dịch chơi bài này chăng? [không dám trắng trợn gợi ý vì biết nàng không phải là fan cuồng của Ức Trai tiền bối])

Câu chuyện bên lề: chính từ đọc bài thơ này, mới mượn ba chữ “Tiên Ưu Niệm” để đặt tên cho một mục của blog này. Tuy nhiên, tên đặt cho đao to búa lớn, chứ thực không có chí cao xa lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ 🙂

—-

Có vẻ như Yên Liên phải xuất hàng trước vậy. Theo lời khuyên của Dật Ly là xuất trước một bài, ‘găm’ lại một bài cho vui, nhưng ngặt một nỗi có thể từ giờ đến chủ nhật không vào internet, cho nên… thôi thì….

Cảm xúc đêm cửa biển

Bản dịch thất ngôn của Yên Liên

Giang hồ lưu lạc mấy mươi năm

Cửa biển thuyền thơ đêm lạnh căm

Đáy nước mênh mang trăng bạc bãi

Bến cây xao xác khói mờ giăng.

Việc xưa khó kiếm xuân trôi hết

Ơn nước chưa đền cuộc đã tan

Ôm chí tiên ưu lòng chẳng dứt

Trắng đêm chăn lạnh ý miên man.

Bản dịch lục bát của Yên Liên

Giang hồ trôi nổi bao năm

Thuyền thơ cửa biển lạnh căm chốn này

Mênh mang đáy nước trăng gầy

Khói mù thấp thoáng bãi cây xa bờ.

Việc xưa qua tự bao giờ

Chưa đền ơn nước đã trơ tuổi già

Tiên ưu nặng gánh san hà

Đêm khuya chăn lạnh canh đà nối canh…

Bản dịch lục bát của Vũ Khánh

CẢM NGHĨ TRONG ĐÊM
ĐỖ THUYỀN BẾN CỬA BIỂN

Bấy lâu làm khách sông hồ

Đêm nay cửa biển thuyền thơ dừng chèo

Nước ròng trăng bãi đìu hiu

Cây ngàn khói tỏa bến chiều sương giăng

Bóng câu việc cũ âm thầm

Chửa xong nợ nước một thân đã già

“Tiên ưu” ai biết cho mà

Thâu canh ôm gối những là buồn tênh.

Lần thứ hai dịch thơ (lần 1 là bài Phong Kiều Dạ Bạc thì phải), thất ngôn bát cú quá là khó :( (
Vì ko phải fan cuồng của bác Ức Trai nên ko dám phóng dịch, thôi thì ý bác thế nào mình bê nguyên như vậy, vì thế bản dịch khá là khô cứng, đọc lên hơn chán. Có mấy chỗ nhất thời ko tìm ra từ hợp vần, VK và Trì Trung sư huynh cực lực góp ý, nếu sửa dc thì càng welcome :)

Giang hồ lưu lạc mấy mươi năm
Cửa biển cắm thuyền ghé một đêm
Đáy nước mênh mang trăng ngập bãi (*)
Bóng cây lay lắt khói tràn bờ (**)
Chuyện xưa qua mãi cùng năm tháng
Nợ nước chưa xong tuổi đã thâm (***)
Nguyện chí một đời “tiên ưu niệm”
Ôm chăn lạnh lẽo thức thâu đêm.

(*) Câu này plagiarize của Trì sư huynh
(**) Chữ “bờ” bị thất vận
(***) “Tuổi đã thâm” hơi ko chính xác về nghĩa trong tiếng Việt (hình như chả ai dùng), bạn Anh Ca ở đây bị ảnh hưởng từ chữ “thâm niên”…

Nói chung là tự “biết phân biết thận”, có lẽ sau này ko trèo cao dịch thơ nữa, quá khó :P

Anh Ca

Đăng Cao – Đỗ Phủ

Đổ Phủ thì ta chỉ thích được có vài bài (thật là ko biết thưởng thức mà), có điều bài Đăng Cao của ông thì ta cực kỳ cực kỳ là thích… Đọc thấy tâm trạng gì đâu 😦

Đang lười nên ko bình loạn j thêm, mà bài này thì chắc đã có rất nhiều bài phân tích, bình loạn rồi. Hay thế cơ mà.

登高

(杜甫)

風急天高猿嘯哀,
渚清沙白鳥飛回。
無邊落木蕭蕭下,
不盡長江滾滾來。
萬里悲秋常作客,
百年多病獨登臺。
艱難苦恨繁霜鬢,
潦倒新停濁酒杯。

 

Phiên âm

Phong cấp, thiên cao, viên khiếu ai,
Chử thanh, sa bạch, điểu phi hồi.
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu há,
Bất tận trường giang cổn cổn lai.
Vạn lý bi thu thường tác khách,
Bách niên đa bệnh độc đăng đài.
Gian nan khổ hận phồn sương mấn,
Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi.

Dịch nghĩa

Gió thổi, trời cao, vượn  kêu rầu rĩ,
Bến nước trong, làn cát trắng, chim bay liệng vòng.
Ngàn cây bát ngát lá rụng xào xạc,
Dòng sông dằng dặc, nước cuồn cuộn trôi.
Muôn dặm thu buồn, xót thân thường nơi đất khách,
Suốt đời quặt quẹo, một mình lên ngắm trên đài.
Gian khổ uất hận, mái tóc thêm ngả màu sương,
Lận đận vì mang nhiều bệnh mới phải ngừng chén rượu đục.

Lười nên lấy từ wiki   http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C4%83ng_cao

Đổ Phủ cũng có 1 bài “đăng cao” thãm thiết ko kém nà:

Đăng Nhạc Dương lâu

Tích văn Động Đình thuỷ,
Kim thướng Nhạc Dương lâu.
Ngô Sở đông nam sách,
Càn khôn nhật dạ phù.
Thân bằng vô nhất tự,
Lão bệnh hữu cô chu.
Nhung mã quan san bắc,
Bằng hiên thế tứ lưu.

Dịch nghĩa: Lên lầu Nhạc Dương
Xưa nghe nói nước hồ Động Đình
Nay được lên lầu Nhạc Dương
Đất Ngô, đất Sở chia tách ở hai phía đông nam
Trời đất suốt ngày đêm dập dềnh nổi
Bà con bạn hữu không có một chữ (thư từ qua lại)!
Thân già yếu lênh đênh trong chiếc thuyền côi quạnh
Quan san phía bắc đang nhộn binh đao
Tựa hiên, ròng ròng nước mắt, nước mũi!

Tiện thể bác Đổ Phủ “đăng cao” với nỗi sầu bi vô hạn, ta cũng dạo 1 vòng xem các vị khác “đăng cao” thì thế nào nhỉ 🙂

Đăng U Châu Đài Ca của Trần Tử Ngang – bài này thì quá đình đám đi rồi. Một trong nx bài thơ Tàu  đầu tiên ta học – ấn tượng rất chi là khó phai 😉

Tiền bất kiến cổ nhân,
Hậu bất kiến lai giả.
Niệm thiên địa chi du du,
Ðộc sảng nhiên nhi thế há.

Bản dịch của Tương Như

Ngưòi trước chẳng thấy ai
Người sau thì chưa thấy
Gẫm trời đất thật vô cùng
Một mình tuôn dòng lệ.

Hoàng Hạc Lâu – Thôi Hiệu: bài này thì khỏi phải chép phần dịch rồi, hình như dạo nào có bầu bán j bên thivien, bài này đoạt quán quân Top các bài thơ Đường hay nhất thì phãi.

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng Đài – Lý Bạch: đúng là ngược hẳn với Đỗ Phủ,  nỗi buồn của bác Lý nó “lãn mạng”, “mơ mộng” thế nào ấy 😉

Phượng Hoàng đài thượng phượng hoàng du,
Phượng khứ đài không giang tự lưu.
Ngô cung hoa thảo mai u kính,
Tấn đại y quan thành cổ khâu.
Tam Sơn bán lạc thanh thiên ngoại,
Nhị thuỷ trung phân Bạch Lộ châu.
Tổng vị phù vân năng tế nhật,
Trường An bất kiến sử nhân sầu.

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Đài Phượng Hoàng cao, phượng đến chơi,
Phượng đi, đài vắng, dải sông trôi !
Cung Ngô hoa cỏ che đường lối,
Đời Tấn cân đai hoá núi đồi.
Ba ngọn thanh sơn, trời khuất nửa,
Một vùng Bạch Lộ nước chia đôi.
Chỉ vì mây nổi che vầng nhật,
Chẳng thấy Trường An não dạ người.

Thục trung cửu nhật – Vương Bột: Anh Vương Bột là vì sang Việt Nam mà trên đường bị đắm tàu tử cho nên các bạn HS-AC luôn vẫn có sự “ưu ái” nhất định vs anh nà  . Đáng nhẽ là cop bài Đằng Vương Các Tự vào, nhưng mà dài quá, với lại bài đó nhà mình đọc quen rồi, đọc bài khác vậy

Cửu nguyệt cửu nhật Vọng Hương đài
Tha tịch, tha hương tống khách bôi
Nhân tình dĩ yếm Nam Trung khổ
Hồng nhạn na tòng Bắc địa lai

Trong đất Thục ngày mồng chín

Ngày mồng chín tháng chín lên đài Vọng Hương,
Trên chiếu lạ nơi đất khách rót chén rượu tiễn khách.
Lòng người đã chán cảnh khổ ở Nam Trung,
Chim hồng nhạn ở đất Bắc còn bay đến đây làm gì.

Đăng Lạc Du Nguyên – Lý Thương Ẩn

Hướng vãn ý bất thích,
Khu xa đăng cổ nguyên.
Tịch dương vô hạn hảo,
Chỉ thị cận hoàng hôn.

Lên Đồi Lạc Du

Về lúc chiều hôm, trong lòng chằng được vui
Đi xe lên vùng đất cổ
Ánh nắng chiều tà đẹp vô cùng
Chỉ là trời đã gần đến hoàng hôn, àizzz.

vv và vv…

Đi qua 1 vòng thì thấy các bác Tàu xưa cứ mà “đăng cao” là thể nào cũng u uẩn, bi thương. Ngắm cảnh đẹp thế mà còn buồn. Đẹp thì buồn, đẹp phải buồn, hay buồn mới đẹp? Là các người ấy cố ý viết thơ buồn buồn mới hút khách nhỉ??? Xem bác Hồ chúng ta chỉ trích “cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ” và “hiên đại thi trung ưng hữu thiết” nà:

Thướng Sơn – Hồ Chí Minh: Bác hồ thì có mấy bài “lên núi” lận, Tẩu Lộ này, mới ra tù tập leo núi j j đó, lên núi coi đánh nhau j j đó nữa… bài nào bài nấy sắt thép tùm lum, khí thế bừng bừng. Nhưng chép đại diện bài này thôi — Đọc 1 phát thấy chữ “Cộng sản” to đùng viết hoa luôn rồi – màu đỏ nhuộm kín cả bài thơ đi

Lục nguyệt nhị thập tứ
Thướng đáo thử sơn lai
Cử đầu hồng nhật cận
Đối ngạn nhất chi mai.

Bản dịch của Tố Hữu

2 mươi 4 tháng 6
Lên ngọn núi này chơi
Ngẩng đầu: mặt trời đỏ
Bên suối 1 nhành mai.

Hay là hôm nào anh Vk vs chị HS cũng kiếm cái gò đất nào đó, leo lên đứng 1 lát xem bi thương hay “chất thép” có dâng lên ko, viết vài bài cho vui 🙂

Anh Ca

Tạp thi kỳ 1 – Nguyễn Du

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên.
Xuân lan thu cúc thành hư sự,
Hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên.
Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ,
Bạch vân ngoạ bệnh Quế Giang biên.
Thôn cư bất yếm tần cô tửu,
Thượng hữu nang trung tam thập tiền.

Dịch nghĩa:

Tráng sĩ đầu bạc ngửng nhìn trời, lòng bi đát,
Hùng tâm, sinh kế cả hai đều mờ mịt.
Xuân lan thu cúc đã thành chuyện hão,
Đông rét hè nóng cướp cả tuổi xuân.
Dắt chó đi săn, mãi vui dưới chân núi Hồng,
Trong mây trắng, nằm bệnh bên sông Quế.
Ở thôn quê, thích nhất được mua rượu uống luôn,
Trong túi hãy còn ba mươi đồng tiền đây.

Bản dịch của Vũ Khánh

Kìa ai tóc bạc trông trời

Hùng tâm sinh kế thở dài sầu bi

Xuân lan thu cúc mà chi

Hè nồng đông giá còn gì là xuân

Núi Hồng mê mải cuộc săn

Trắng mây sông Quế bệnh nằm có ai

Thú quê sẵn chén dông dài

Giắt lưng còn những ba mươi đồng này.

Bản dịch của Yên Liên 20101204

Bạc đầu lặng ngắm trời xanh

Hùng tâm sinh kế quẩn quanh thoáng mà

Xuân lan thu cúc đã xa

Hạ nồm đông lạnh chốc đà đuổi xuân.

Núi Hồng dắt chó dạo lần

Sông Quế nằm bệnh mây vần thành chăn

Rượu quê sẵn đãi người nhàn

Dắt lưng còn đủ mươi dăm đồng tiền.

Lạm bàn: Cái tâm tình ý tứ của con người ta, thể hiện khá rõ qua cách chọn từ ngữ dịch thơ. Vũ Khánh là tu mi nam tử, nên mê mải với cuộc săn. Còn Yên Liên tạm gọi là nữ nhi (cho đến khi có bằng chứng xác thực là nàng ta hoặc là người vô tính hoặc là người lưỡng tính hehehe) vốn chẳng thấy cái việc đi săn có gì hay, lại còn là người ăn chay, săn bắt sao đành, mới dịch ra là dắt chó dạo lần. Phân tích ra cũng thật thú vị.

—–
Hoa Sinh

Đối Tửu – Nguyễn Du

對酒

趺坐閒窗醉眼開,
落花無數下蒼苔。
生前不盡樽中酒,
死後誰澆墓上杯。
春色漸遷黃鳥去,
年光暗逐白頭來。
百期但得終朝醉,
世事浮雲真可哀。

趺坐閒窗醉眼开,  
  
落花无数下苍苔。  
  
生前不尽樽中酒,  
  
死后谁浇墓上杯。  
  
春色渐迁黄鸟去,  
  
年光暗逐白头来。  
  
百期但得终朝醉,  
  
世事浮云真可哀。

Phu toạ nhàn song tuý nhãn khai,
Lạc hoa vô số há thương đài.
Sinh tiền bất tận tôn trung tửu,
Tử hậu thuỳ kiêu mộ thượng bôi ?
Xuân sắc tiệm thiên hoàng điểu khứ,
Niên quang ám trục bạch đầu lai.
Bách kỳ đãn đắc chung triêu tuý,
Thế sự phù vân chân khả ai.

Dịch nghĩa:

Ngồi xếp bằng tròn trước cửa sổ, rượu vào hơi say mắt lim dim,
Vô số cánh hoa rơi trên thảm rêu xanh.
Lúc sống không uống cạn chén rượu,
Chết rồi, ai rưới trên mồ cho ?
Sắc xuân thay đổi dần, chim hoàng oanh bay đi,
Năm tháng ngầm trôi,  đầu đã bạc.
Cuộc đời trăm năm, chỉ mong say suốt ngày.
Thế sự như đám mây nổi, thật đáng buồn.

(thivien.net)

Bản dịch của Yên Liên (YL 20101130)

Bên song tiếng rượu tần ngần

Thảm rêu ngàn cánh hoa lần lần rơi

Khi không chén nhấp nửa vời

Chết rồi bên mộ ai mời rượu đây

Xuân đi oanh cũng mải bay

Tháng ngày dồn lại tóc đầy màu sương.

Mong say cho hết đoạn trường

Sự đời mây nổi thê lương cõi lòng.

Bản dịch của Vũ Khánh:

La đà dăm chén bên song

Rêu xanh hoa rụng cho lòng ngẩn ngơ

Rượu kia chẳng uống bây giờ

Ngày sau ai rưới lên mồ cho đây?

Oanh đi thêm vẻ xuân gầy

Hôm mai đương giục tóc rày tuyết sương

Cho say một kiếp vô thường

Sự đời mây nổi sầu thương ai mà.

———-

Hoa Sinh

Vào 1 ngày đẹp trời tháng 9 năm 2013, nhã hững dâng cao độ, dịch bài này ra tiếng Anh. Dưới đây là bản dịch, sau 1 hồi interaction, cân đo đong đếm từ, ngữ pháp, ý thơ…. giữa nàng Yên Liên và nàng Dật Ly. (Riêng thơ tiếng Anh luật như thế nào, ko ai “thèm” nghiên cứu) 😀 😀 😀

At the window, me with a couple of drinks

On the green moss, countless petals’re falling.

When alive, if I fail to drink up,

Once die, on my grave who would pour a cup?

As spring colour fades, the orioles fly away

And years passing by, silently turn my hair all grey.

In this lifetime, I wish myself drunk all day,

Life is like a floating cloud, sadly say.
YL

Chu Trung Độc Chước – Trần Quang Triều

Trần Quang Triều 陳光朝 (1286-1325) còn có tên là Nguyên Đạo và Nguyên Thụ, hiệu là Cúc đường chủ nhân và Vô Sơn ông, sinh năm Giáp Ngọ (1286), mất năm Ất Sửu (1325), nguyên quán ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, nay thuộc Nam Định. Là con trai cả Trần Quốc Tảng, cháu nội Trần Quốc Tuấn và anh vợ vua Trần Anh Tông. Trần Quang Triều được nhà Trần biệt đãi, nên năm 1301, mới 14 tuổi đã được phong tước Văn Huệ Vương, kế đó vào làm quan trong triều. Ông giỏi văn và giỏi cả võ, đã từng hăng hái cầm quân đi đánh dẹp Thích Na. Tuy vậy ông không tham công danh, phú quý. Sau vợ là công chúa Thượng Trân mất, ông càng muốn cáo quan. Nhiều khi trên đường đi công cán, ông cũng tỏ ý nhớ nhà muốn về. Cuối cùng ông đã xin về ở am Bích Động gần chùa Bình Lâm, nay thuộc huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, lập ra thi xã Bích Động xướng họa với các bạn thơ và cũng là bạn đồng liêu như Nguyễn Sưởng, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Ức, Tự Lạc tiên sinh. Năm 1321, vua Trần Minh Tông triệu ông ra gánh vác việc nước, chức Nhập nội kiểm hiện tư đồ cho ông, nhưng chẳng được bao lâu thì mất thương tiếc ông, các bạn đã làm thơ viếng và thu thập, biên tập thơ ông thành “Cúc Đường di cảo”.
Về thơ, Trần Quang Triều là nhà thơ giàu tình cảm, tinh tế, phóng khoáng, tài hoa. Thơ ông ý hàm súc, lời cô đọng, giản dị, dễ hiễu, hầu hết nói đến thú ở ẩn, thú du ngoạn, uống rượu ngâm thơ cùng bạn bè đồng điệu.. Ông vui với thiên nhiên và cuộc sống trù phú của dân chúng nơi thôn dã, đồng thời cũng bộc lộ tâm sự buồn nản, chán công danh, ghét thói đơn bạc – dấu hiệu suy vi của triều Trần. Thơ tả cảnh qua đó lồng tâm tư tình cảm của Trần Quang Triều thật đặc sắc. Ông có những nhận xét tinh tế về nét riêng của thiên nhiên nước ta. Thơ ông được Phan Huy Chú đánh giá là “thanh thoát, đáng ưa”.Tác phẩm: tập “Cúc Đường di cảo” nay đã thất lạc, hiện còn 11 bài thơ chép trong “Việt âm thi tập”, “Toàn Việt thi lục”.



秋滿山城倍寂寥,
家書不到海天遙。
人情疏密敲蓬雨,
世態高低拍漫潮。
松菊故留嗟異路,
琴書歲晚喜同條。
幾多磊塊胸中事,
且向樽前譬一驕。

Thu mãn sơn thành bội tịch liêu,
Gia thư bất đáo hải thiên diêu.
Nhân tình sơ mật xao bồng vũ,
Thế thái cao đê phách mạn triều.
Tùng cúc cố lưu ta dị lộ,
Cầm thư tuế vãn hỷ đồng điều.
Kỷ đa lỗi khối hung trung sự,
Thả hướng tôn tiền thí nhất kiêu.

Một mình uống rượu trong thuyền (Tân Thổ Tang Vũ Khánh dịch)

Màu thu đã khắp non thành

Tin nhà thêm nỗi buồn tênh ngàn trùng

Nhặt thưa mưa nện mui bồng

Nước ròng nước cạn vốn chung lẽ đời

Cúc tùng đôi ngả chia phôi

Hãy còn đàn sách cho người tóc sương

Sự đời trăm mối tơ vương

Chăng là dốc chén mà suông với tình.

Một mình uống rượu trong thuyền (Yên Liên dịch)

Sơn thành cô quạnh hồn thu

Thư nhà đâu tới chốn mù trùng khơi

Nhặt khoan mưa thán tình người

Đầy vơi sóng họa sự đời đổi thay

Cố nhân tùng cúc còn ai

Còn đàn còn sách nơi này mà thôi

Đa mang lòng những bồi hồi

Nâng ngang chén rượu có nguôi được nào.

_

Hoa Sinh

leminhkhaiviet

About Vietnamese Cultural History and Scholarship

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: