Hoài thượng dữ hữu nhân biệt – Trịnh Cốc

淮上与友人别
扬子江头杨柳春,
杨花愁杀渡江人。
数声风笛离亭晚,
君向潇湘我向秦。
Hoài thượng dữ hữu nhân biệt (1)
Dương Tử giang đầu dương liễu xuân, (2)
Dương hoa sầu sát độ giang nhân. (3)
Sổ thanh phong địch ly đình vãn (4)
Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần. (5)
  1. Hoài thượng: Dương Châu; Hoài: Hoài Thủy – sông Hoài.
  2. Dương tử giang: Các nhánh chính của Trường Giang ở một dải Trấn Giang Giang Tô, Dương Châu, cổ gọi là Dương Tử giang. Dương liễu, chữ liễu – 柳 – liǔ và chữ lưu – 留 – liú âm giống nhau, biểu thị ý muốn níu kéo giữ lại.
  3. Dương hoa: liễu nhứ – bông liễu. Sầu sát: mối sầu đầy trong lòng. Sát: hình dung mức độ buồn đau rất sâu.
  4. Phong địch: tiếng sáo truyền lại từ trong gió. Ly đình: dịch đình – đình trạm. Đình  ngày xưa đặt cạnh đường để mọi người nghỉ ngơi, mọi người thường đến đây để tiễn biệt, nên gọi là ly đình.[Chữ 数 có nhiều cách đọc, cũng có nhiều phiên âm Hán Việt (sổ, số, sác…), ý nghĩa gần như nhau, mà cho vào đây thế nào cũng ổn :-). Nên không biết chọn phiên âm nào là chuẩn nhất.]
  5. Tiêu Tương: chỉ một dải Hồ Nam ngày nay. Tần: chỉ kinh đô thành Trường An lúc bấy giờ. Nay thuộc Thiểm Tây.

Dịch nghĩa (đợi con chim làm hộ)

 

Hàn

Advertisements

Biệt lâm hạ hoa – Nguyễn Thông

Trong khi chờ đợi công trình “ngâm thơ” của nàng Dật (nàng này ngâm thơ ngang ngâm mơ, thời gian tính bằng đơn vị năm), thưởng thức 1 bài thất ngôn tứ tyệt của tác giả Nguyễn Thông thời Nguyễn.

別林下花

每到叢邊輒醉歸,
未嫌幽獨惜芳菲。
林間會友相尋日,
莫逐東風一夜飛。

 Giản thể

每到丛边辄醉归,
未嫌幽独惜 芳菲。
林间会友相寻日,
莫逐东风一夜飞。

Biệt lâm hạ hoa

Mỗi đáo tùng biên triếp tuý quy,
Vị hiềm u độc tích phương phi.
Lâm gian hội hữu tương tầm nhật,
Mạc trục đông phong nhất dạ phi.

Giải nghĩa

Tạm biệt hoa rừng

Mỗi lần đến nơi tụ họp, lần nào cũng say mà về

Không ngại nơi u độc, chỉ quý trọng vẻ tốt tươi (của hoa)

Cùng tìm ngày (hẹn) gặp lại bạn giữa rừng này

Đừng theo gió đông mà bay đi trong một đêm.

Vài dòng về tác giá Nguyễn Thông: thực ra ta chưa đọc tác phẩm nào của tác giả này để tổng kết, khái quát và bình luận. Ta chỉ đào được bài này trên thư viện. Đọc được lý lịch trích ngang và một bài phân tích trên mạng…

Đây là tiểu sử, con người và sự nghiệp trên wiki: https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Th%C3%B4ng

Đây là một bài bình luận, tác giả, tác phẩm và nhân cách: http://newvietart.com/index4.205.html

Tổng kết hai bài này là một đoạn như sau:

Nhìn chung thơ văn của Nguyễn Thông là tấm lòng ưu ái đối với những người xấu số, sự quan tâm đến nghề làm ruộng và gắn bó với đời sống của nông dân. Ông ca ngợi và xót thương những người hy sinh trong cuộc chiến đấu chống Pháp. Nổi bật và bao trùm là tấm lòng yêu mến quê hương mà ông phải lìa bỏ vì không chịu sống trên đất kẻ thù đã chiếm đóng…

Nhờ ông sinh trưởng trong một gia đình nhà nho nghèo, lại sớm sống gần gũi những người dân cần cù, lam lũ, thuần phác; nhờ ông có năng khiếu thơ văn, có vốn học thức, được đi nhiều và nhạy cảm trước những vấn đề chính trị, xã hội… Nên hầu hết trước tác của ông đều thiên về tả thực, giàu chất trữ tình, mang tính tố cáo cao. Do vậy, người đọc dễ dàng bắt gặp cái đẹp của những ý tứ, ngôn từ tinh tế, đậm đà tình cảm cao cả, không sa đà viễn vông hay sáo rổng …Tuy đôi lúc trong thơ văn ông, cũng không tránh khỏi nỗi buồn hiu hắt của một nhà nho cảm thấy bất lực trước vận mệnh tồn vong của non sông, của dân tộc mà ông yêu mến.

Bài ta chọn, không tả thực, không mang tính tố cáo, không đậm đà tình cảm cao cả (trừ phi bài này dùng ám ngữ, lâm hạ hoa là 1 hội hoạt động cách mạng chống Pháp chống thực dân hehe). Tự dưng thấy hoang mang, Nguyễn Thông viết bài này và Nguyễn Thống ở 2 link trên có phải là một???

Cái blog này có vẻ luôn đi ngược thời đại, thích những thứ sa đà viển vông sáo rỗng.

Hoa Sinh

 

 

 

Vi Trang (836-910)

Nhà thơ-từ, sống thời Mạt Đường và Ngũ Đại Thập Quốc (thế là biết thơ từ nó tương đối đau thương sầu thảm rồi :D). Đây là lí lịch trích chéo, trên wiki.

http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi_Trang

Thân thế và sự nghiệp cách mạng

Nói chung ông sống vào thời loạn ly và cuộc đời ông khá là lang bạt. Gia đình quan lại tầm trung, đường công danh lên xuống đứt gãy, nhưng nói chung cũng làm quan kha khá. Nói chung ông này từ đầu làm tay chân cho 1 ông tên là Vương Kiến, người sau này lập nên nước Tiền Thục (trong cái mớ Thập quốc). Nghe đồn chính Vi Trang này xúi bẩy ông Vương Kiến này xưng đế khi nhà Đường sập (máu thế chứ :D). Ông Vương lên ngôi, ông Vi cũng lên cao theo, làm 1 chức gần như là thừa tướng :P. Tuy nhiên, lúc đó ông Vi Trang cũng sắp chết rồi… Làm dc có mấy năm thôi. Mà nhà Tiền Thục cũng sớm diệt vong…

Thơ từ

Có 1 tác phẩm rất nổi tiếng là Tần Phụ Ngâm, dài gần 1700 câu. Là lời oán thán về thời cuộc từ cái nhìn của 1 phụ nữ ở xứ Tần (vùng Trường An – Tây An ngày nay) (=> bác này tiến bộ, chăm lo cho tâm tư nguyện vọng của chị em, feminist phết :D). Dưới đây là toàn văn của bài thơ (hì, dĩ nhiên là 1 chữ cắn đôi ta cũng ko hiểu hihi): http://zh.wikisource.org/wiki/%E7%A7%A6%E5%A9%A6%E5%90%9F

Dĩ nhiên, ông mà ko có đặc sản Đường thi thì cũng hơi nhục với cái thời mà ông sống 😀

Tuy nhiên, vì là cuối Đường, cho nên ông đã bắt đầu viết từ, và ông là 1 trong nx nhà tiên phong của từ,  cùng với Ôn Đình Quân, là đại diện nổi bật của Hoa Gian Phái (mà thường bị người đời chê bai là lòe loẹt, sến sẩm và giả tạo :P)

Từ của ông đc bình luận là “thanh bạch như họa, uẩn tình thâm chí”, nhiều nhà phê bình đánh giá trong Hoa gian phái, từ của ông đứng trên Ôn Đình quân (chà! ko biết mình hiểu có sai hay ko nữa, đọc loáng thoáng trên này http://zh.wikipedia.org/wiki/%E9%9F%A6%E5%BA%84)

Tác phẩm tiêu biểu: Đọc trên thivien thôi 😛 http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=149

Bản thân bạn AC thì thik 1 số bài Bồ Tát Man và nhất là 2 bài Nữ quan tử kỳ 1 và 2. Nói chung từ của ông thường về tương tư tình ái, thường đứng từ góc độ phụ nữ viết (hic hic, sến sẩm)

Dưới đây là trích lại bài Nữ quan tử kỳ số 1:

女冠子其一

四月十七
正是去年今日
別君時
忍淚佯低面
含羞半歛眉
不知魂已斷
空有夢相隨
除卻天邊月
沒人知

Phiên âm

Tứ nguyệt thập thất
Chính thị khứ niên kim nhật
Biệt quân thì
Nhẫn lệ dương đê diện
Hàm tu bán liễm my
Bất tri hồn dĩ đoạn
Không hữu mộng tương tuỳ
Trừ khước thiên biên nguyệt
Một nhân tri.

Bản dịch của Nguyễn Chí Viễn

Tháng bốn, mười bảy
Nhằm đúng ngày này năm ngoái
Lúc chia tay
Nín khóc vờ che mặt
Thẹn thùng hơi nhíu mày
Ngẩn ngơ hồn tán loạn
Lẽo đẽo mộng đêm ngày
Riêng có vừng trăng bạc
Chẳng ai hay.

Đây là 1 bài từ mà mình khá thích, hì, chắc do cái ý cuối. Ko check dịch nghĩa vì bản dịch ở trên khá sát, nếu bạn YL muốn dịch thì mình sẽ bỏ thêm chút công dịch nghĩa lại 😀 (đây là câu hàng lộ liễu :P)

應天長

別來半世音書絕
一寸離長千萬結
難相見
易相別
又是玉樓花似雪
暗相思
無處說
惆悵夜來明月
想得此時情切
淚沾紅袖黦

Biệt lai bán thế âm thư tuyệt
Nhất thốn ly trường thiên vạn kết
Nan tương kiến
Dị tương biệt
Hựu thị ngọc lâu hoa tự tuyết
Ám tương tư
Vô xứ thuyết
Trù trướng dạ lai minh nguyệt
Tưởng đắc thử thời tình thiết
Lệ triêm hồng tụ uất.

Bản dịch Nguyễn Chí Viễn

Nửa đời cách biệt âm thư tuyệt
Một thốn ly trường ngàn vạn kết
Khó tương kiến
Dễ tương biệt
Lại nữa ngọc lâu hoa tựa tuyết
Nỗi tương tư
Nào nói xiết
Thảm đạm đêm thanh dưới nguyệt
Tưởng lúc tình nồng thắm thiết
Lệ hoen tay áo quệt.

Đây cũng là 1 bài từ hay.

Tuy nhiên, mục đích chính của post này là thơ, chứ ko phải từ, của Vi Trang. Tuy từ của ông dc đánh giá cao, nhưng thơ của ông, mình thấy cũng ko hề kém cạnh, thậm chí bản thân mình thích hơn. Mà dạo này chúng ta hơi sa đà về từ. Cho nên post thơ 😛

Trong đống thơ hỗn độn của ông, chủ yếu là miêu tả cảnh đẹp, nuối tiếc thời xa xưa êm đẹp, đôi khi tả tình cảm đôi lứa nhưng có lẽ ngụ ý xa hơn (hì, đây là bạn AC xuyên tạc).

Một số bài thơ hay như Xuân Sầu, Xuân Nhật, Ức Tích, Kim Lăng Đồ… có nx đoạn rất hay ho, vd:

落星樓上吹殘角,
偃月營中掛夕暉。
旅夢亂隨蝴蝶散,
離魂漸逐杜鵑飛。

Lạc tinh lâu thượng xuy tàn giác,
Yển nguyệt doanh trung quải tịch huy.
Lữ mộng loạn tùy hồ điệp tán,
Ly hồn tiệm trục đỗ quyên phi. (Xuân nhật)

金陵圖 Kim Lăng Đồ

江雨霏霏江草齊,
六朝如夢鳥空啼。
無情最是臺城柳,
依舊煙籠十里堤。

Giang vũ phi phi giang thảo tề
Lục triều như mộng điểu không đề
Vô tình tối thị Đài thanh liễu
Y cựu yên lung thập lý đê.

Thích nhất là 2 bài Đông Dương Tửu Gia Tặng Biệt

東陽酒家贈別其二

天涯方歎異鄉身,
又向天涯別故人。
明日五更孤店月,
醉醒何處淚沾巾。

Kỳ 2

Thiên nhai phương thán dị hương thân,
Hựu hướng thiên nhai biệt cố nhân.
Minh nhật ngũ canh cô điếm nguyệt,
Tuý tỉnh hà xứ lệ triêm cân.

Dịch nghĩa (trích của thivien)

Ở góc trời vừa mới than cho tấm thân xa quê,
Nay lại hướng tới góc trời để từ biệt bạn cũ.
Hôm sau, qua vừng trăng năm canh ở trạm cô đơn,
Say tỉnh nơi nào chăng thì ai cũng khăn ướt lệ.

Bài số 2 có vẻ nổi tiếng hơn bài số 1, tuy nhiên, bài số 1 cũng rất hay, lại không có bản dịch nghĩa, cho nên đôi chỗ chi tiết hơi khó hiểu.

東陽酒家贈別其一

送君同上酒家樓,
酩酊翻成一笑休。
正是落花饒悵望,
醉鄉前路莫回頭。

Tống quân đồng thượng tửu gia lâu,
Mính đính phiên thành nhất tiếu hưu.
Chính thị lạc hoa nhiêu trướng vọng,
Tuý hương tiền lộ mạc hồi đầu.

Dịch nghĩa

Tiễn anh, cùng nhau lên lầu quán rượu
Say sưa nhưng lại một tiếng cười mà hết (*)
Cho dù hoa rơi nhiều tha thiết (ngóng nhìn),
Say sưa theo đường về quê, đừng/không quay đầu.

(*) Câu này e ko hiểu, say sưa 1 hồi rồi do 1 tiếng cười mà hết say, hay là say sưa đến mức 1 tiếng cười cũng ko cười ra dc nữa 😀 Lạ là hình như bài này ai cũng hiểu, ko thấy có ai rảnh rỗi giải nghĩa ở trên mạng cả 😛

Nếu có 1 lúc nào đó có tinh thần, sẽ dịch bài số 1 này 😀 (nhưng mà cũng hơi quan ngại về khả năng này :()

…….

Anhca.

Bạn YL nếu phiền lòng và quan ngại về viễn cảnh chúng ta bị đô hộ văn hóa, sính Tàu, có thể làm 1 bài về văn thơ VN để balance of power 😛 (hehe, đây là khiêu khích trắng trợn)

Thi Phật Vương Duy

Dạo này Euro đang đến hồi gay cấn, cho nên nhà này cũng có người tự dưng lại ham thích trò đá bóng thế chứ…

Thôi thì sẵn tiện ko làm gì, ta sẽ viết 1 bài giới thiệu về nhà thơ Vương Duy thời Đường vậy (sao mà trên đời lại có người tử tế như thế này nhỉ???)

Đầu tiên phải để ý, Vương Duy là 1 nhà thơ lớn của Đường Thi, cho nên tiểu sử thân thế và hoạt động cách mạng của ông tràn lan trên mạng, cứ google 1 phát là ra 1 loạt, thế nên là ta sẽ ko nhắc lại ở đây (copy paste tốn ko gian). Các điểm chính yếu thì như sau:

1. 王维 (Duy trong duy trì), 701-761, thuộc thời Thịnh Đường (sẵn tiện thì nhớ luôn Lý Bạch 701-762, 1 bác ăn chay niệm phật, 1 bác hào hoa phóng túng, rượu chè sa đọa => bác rượu chè sống lâu hơn 1 năm => có nên rút ra 1 chút kinh nghiệm? :P, tiện thể thì nhớ thêm Đỗ Phủ nhỏ hơn Lý Bạch tầm 10 tuổi, sau này 2 người Lý Đỗ có 1 giai đoạn kết huynh bái đệ cũng ồn ào lắm, ko biết có thật ko, nhớ mang máng hồi xưa cô giáo dạy văn nói thế :D).

[ Ngoài lề: Thơ Đường dc chia ra làm 4 thời kỳ/giai đoạn, gọi là Sơ Đường (tầm từ 600-690AD, vd Vương Bột, Trần Tử Ngang), Thịnh Đường (690-760, Lý Bạch, Đổ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên và 1 loạt họ Vương như Vương Duy, Vương Hàn, Vương Xương Linh, Vương Chi Hoán… vô số kể), Trung Đường (750-810, Bạch Cư Dị) và Vãn Đường (800-900, vd Đỗ Mục, Lý Thương Ẩn, Ôn Đình Quân). Cách phân thời gian ở đây là ta áng chừng để dễ tưởng tượng nhé, lúc nào đọc thêm về Thơ Đường sẽ viết bài khác cụ thể hơn. Để ý là có sự overlapping giữa các giai đoạn này, chứ ko phải dứt thời Sơ Đường thì mới đến Thịnh Đường. Vì cách chia này 1 phần phụ thuộc vào tình hình chính trị-xã hội đương thời (=> mà ảnh hưởng đến chủ đề  của thơ ca), 1 phần cũng phụ thuộc vào cái gọi là phong cách và thi pháp nữa.]

2. Sự nghiệp: nhà thơ, họa sĩ, thư pháp gia và chính khách. 21 tuổi đỗ Trạng Nguyên, sau đó thì làm quan. Nghề tay trái: thầy tu phái Thiền Tông, lấy tên tự là Ma Cật, lấy từ cuốn Duy Ma Cật Kinh 😛 (Ngoài lề thì Duy-ma-cật 維摩詰 là phiên âm Hán Việt của 1 ông thầy tu tên là Vimalakirti, người Ấn độ, khoảng 100 AD, người viết cái Duy ma cật kinh, hay là  Vimalakirti Sutra).

Vương Duy nằm trong top xịn của xịn thời Đường là vì: 1. dc người đời yêu mến mà tôn xưng là Thi Phật (chỉ có 2 người khác cũng dc đặt nickname thôi nhé, là Thi Tiên Lý Bạch và Thi Thánh Đỗ Phủ). 2. Trong tập Đường Thi 300 thì Đỗ Phủ có số bài dc dẫn nhiều nhất, 39 bài, Lý Bạch đứng 2 với 34 bài, Vương Duy đứng 3 với 29 bài, tiếp là Lý Thương Ẩn 24 bài, Mạnh Hạo Nhiên 15 bài…

3.  Điền viên thi phái: là phái thơ lấy chủ đề là cuộc sống điền viên ẩn dật, hoặc ca ngợi phong cảnh núi non, trường phái này lấy cảm hứng từ (hoặc là dc đặt nền móng bởi) thi ca ẩn dật của Đào Uyên Minh thời Đông Tấn,  cách đó tầm 3-400 năm (nếu ko nhầm bác này rất thích viết về hoa cúc thì phải, nhầm thì thôi :P). Nổi bật có Mạnh Hạo nhiên, Vương Duy, Trữ Quang Hy (là ai ko biết, nhưng tên đẹp :P), Thường Kiến (ko biết nốt), Kỳ Vô Tiềm… (mấy ông này thường thì biết nhau hết cả, chắc cũng hay  có trò nhậu nhẹt đàn đúm, vì thấy thơ cứ mutually tống người này biệt người kia loạn cả lên, vd Vương Duy có bài Tống Kỳ Vô Tiềm Lạc Đệ Hoàn Hương – Tiễn Kỳ Vô Tiềm thi rớt về quê :P)

[Ngoài lề: Song song vs phái điền viên, thời này có 1 phái cũng rất có tiếng tăm, đó là Biên Tái Thi Phái 边塞诗派, chủ đề như kiểu các bài Lương Châu Từ, nói về cuộc sống nơi biên ải hào hùng, bi thương (thường rất hay :P). Nổi bật là Sầm Than, Cao Thích, Vương Xương Linh, Vương Chi hoán, Thôi Hiệu…]

4. Đời sau nhận xét về thơ Vương Duy:  lấy trên wiki 😛

Tô Đông Pha đời Tống khi viết về Vương Duy có câu: “味摩诘之诗, 诗中有画; 观摩诘之画, 画中有诗” (vị Ma Cật chi thi, thi trung hữu họa; quan Ma Cật chi họa, họa trung hữu thi, dịch nghĩa: Thưởng thức thơ của Ma Cật, trong thơ có hoạ đồ; ngắm họa đồ của Ma Cật, trong họa đồ có thơ. Đồng Kỳ Xương đời Minh thì cho Vương Duy là ông tổ của phong cách họa sơn thủy Nam tông (Nam tông họa chi tổ).

5. Một số bài thơ hay

Thơ về bạn bè + ẩn dật lánh đời là thành phần chính trong di sản để lại của ông.

Tống Biệt (có 3 bài, trong đó thường ngta hay dẫn bài Hạ/Há Mã Ẩm Quân Tửu)

下馬飲君酒,
問君何斫之?
君言不得意,
歸臥南山陲。
但去莫復問,
白雲無盡時。

Há mã ẩm quân tửu,
Vấn quân hà sở chi?
Quân ngôn bất đắc ý:
Quy ngoạ Nam Sơn thuỳ.
Đãn khứ mạc phục vấn,
Bạch vân vô tận thì!

Xuống yên chuốc chén rượu đào
Hỏi anh đi đến nơi nào hỡi anh
Thưa rằng lòng đã bất bình
Nam sơn kia để cho mình nghỉ ngơi
Anh đi tôi chẳng dài lời
Kìa làn mây trắng bên trời ngổn ngang. (thivien dịch)

Tống Kỳ Vô Tiềm lạc đệ hoàn hương

聖代無隱者,
英靈盡來歸,
遂令東山客,
不得顧採薇。
既至金門遠,
孰雲吾道非?
江淮度寒食,
京洛縫春衣。
置酒長安道,
同心與我違;
行當浮桂棹,
未幾拂荊扉。
遠樹帶行客,
孤城當落暉。
吾謀適不用,
勿謂知音稀?

Thánh đại vô ẩn giả,
Anh linh tận lai quy.
Toại linh Ðông Sơn khách,
Bất đắc cố thái vi.
Ký dĩ kim môn viễn,
Thục vân ngô đạo phi.
Giang Hoài độ Hàn thực,
Kinh Lạc phùng xuân y.
Trí tửu Trường An đạo,
Ðồng tâm dữ ngã vi.
Hành đương phù quế trạo,
Vị kỷ phất kinh phi.
Viễn thụ đới hành khách,
Cô thành đương lạc huy.
Ngô mưu thích bất dụng,
Vật vị tri âm hy.

Thịnh đời, khó kẻ ẩn danh
Đông Sơn bỏ hái rau xanh độ ngày
Ùng ùng khách giỏi anh tài
Xa xôi trực chỉ tường đài Kinh Đô
Bốn phương tám hướng đổ xô
Vị chi mấy kẻ được vô Cửa Vàng
Tiệc bày tiễn bạn Trường An
Lúc xưa Kinh Lạc áo Xuân đón chào
Giang Hoài Hàn thực đã lâu
Đón hoa tuyết lạnh cũng bao năm rồi
Rượu nầy cách biệt ngăn đôi
Anh về chốn cũ xa nơi thị thành
Đường quê chèo quế, tre xanh
Làng thôn, bóng mát hửu tình nhẹ đưa
Tài anh chẳng được kẻ ưa
Cũng đừng tự trách người chưa hiểu mình. (thivien dịch)

Đấy, nx thể loại phê phán chế độ đương thời, bất đắc chí phải đi ẩn dật kiểu “Quân ngôn bất đắc ý, quy ngoạ Nam Sơn thuỳ” với lại “Ngô mưu thích bất dụng, vật vị tri âm hy” là 1 theme quan trọng trong thi ca của ông.

Một số bài khác nổi tiếng về thú ẩn dật như Thanh Khê, Đào Nguyên Hành, Chung Nam Sơn, Chung Nam Biệt Nghiệp, Võng Xuyên Nhàn Cư… (Nguyễn Trãi cũng có 1 số bài thơ phảng phất kiểu ẩn dật, ko biết có phải bác ấy là 1 Vương Duy đích cuồng phiến hay ko). Một số bài phong cảnh sơn thủy hữu tình, vd như Sơn Cư Thu Minh, Hán Giang Lâm Diểu…

Thơ bạn bè: xem series các thể loại tống tiễn. Bên cạnh các thể loại ẩn dật, đây có lẽ cũng là đặc sản của Vương Duy đấy :P. Trên trang thivien thiếu 1 bài khá hay,  là Tống Nguyên Nhị Sử An Tây, bài này ngắn gọn, lời ít mà ý nhiều.

渭城朝雨浥轻尘,
客舍青青柳色新。
劝君更尽一杯酒,
西出阳关无故人。

Vị thành triêu vũ ấp khinh trần
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân
Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu
Tây xuất Dương quan vô cố nhân.

Dịch nghĩa: Tiễn Nguyên Nhị đi làm sứ ở An Tây

Vị Thành mưa buổi sáng lẫn bụi bay
Nhà khách xanh xanh màu liễu tươi
Mời anh thêm 1 ly rượu nữa
Bởi vì anh đi ra khỏi Dương Quan về phía tây là sẽ ko còn cố nhân nữa.

Bài thơ này bạn AC đọc qua đâu đó hồi xưa, vì nó giống 1 số bài thơ trường phái Biên Tái nên dễ nhớ :P. An Tây (ko phải Tây An) còn gọi là Tây Thành, Tây Vực, thời Đường dc đặt thành An Tây Đô Hộ Phủ , phía tây các quan ải như Ngọc Môn Quan, Dương Quan. (VD cũng có 1 số bài thơ biên tái như Sứ chí tại thượng, Lũng đầu ngâm, Lão tướng hành.)

Một số bài feminist như Tây Thi Vịnh, Lạc Dương Nữ Nhi Hành 😛

Một số bài ngũ ngôn tứ tuyệt, tả cảnh (điền viên, sơn thủy) là chính – cô đọng và toát lên cái gọi là thi trung hữu họa (nhưng mà có vương vấn cái j đó buồn buồn, ko biết diễn tả cụ thể thế nào, cảm giác thôi :P):  Hoa Tử Cương, Nam Mang, Vọng Lan Sài, Liễu Lãng …

Cũng viết cả thơ tình :P, vd bài Tương Tư (bài hát Hồng Đậu Sinh Nam Quốc chính là lấy cảm hứng từ đây), Thu Dạ Khúc…

Nhiều quá, đọc ko có hết, nói về cảm nhận cá nhân thì bạn AC thích nx bài sau: Tống Biệt, Tiễn Nguyên Nhị (ở trên), và 2 bài sau (sở dĩ thích các bài này có lẽ là do đọc đầu tiên thì phải, love at 1st sight :P)

九月九日憶山東兄弟

Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ

獨在異鄉為異客,
每逢佳節倍思親。
遙知兄弟登高處,
遍插茱萸少一人。

Độc tại dị hương vi dị khách,
Mỗi phùng giai tiết bội tư thân.
Dao tri huynh đệ đăng cao xứ,
Biến sáp thù du thiểu nhất nhân.

Một mình làm khách ở xứ lạ ,
Mỗi khi tới ngày lễ lạt lại càng thêm nhớ bạn bè xưa.
Từ nơi này trông về, vẫn biết rằng anh em hôm nay lên nơi cao,
Đều cắm cánh thù du nhưng thiếu mất mội người.

(插茱萸 Phong tục của người TQ thời xưa, tiết Trùng Cửu thì cắm cành thù du trên đầu để trừ tà này nọ)

雜詩其一

君自故鄉來,
應知故鄉事。
來日綺窗前,
寒梅著花未。

Tạp Thi Kỳ 1

Quân tự cố hương lai,
Ưng tri cố hương sự.
Lai nhật ỷ song tiền,
Hàn mai trước hoa vị.

Anh từ quê nhà tới,
Chắc biết rõ chuyện ở quê cũ.
Trước ngày anh đi đến đây, (cây mai) trước cửa sổ
Cây hàn mai đã nở hoa chưa ?

…..

Có 1 điều bạn AC để ý đó là sự cô độc trong thơ Vương Duy (cảm nhận cá nhân thôi), và thơ ông luôn phảng phất 1 sự hoài vọng nào đó (bạn bè, người thân, quê cũ), (trừ mấy bài kiểu quy ẩn Chung Nam sơn) ko hiểu thiền là ở đâu? (Cái này mình đợi bạn YL đọc và giải đáp, mình cũng tập đá bóng :P)

Em nghĩ chúng ta nên dịch 1 vài bài của VD, cảm thấy rất đáng dịch, bài thì tùy người chọn 😉

——–

Anhca

Hý đề bàn thạch – Vương Duy – Vũ Khánh gửi tặng

Anh Vũ Khánh có lòng đoái hoài, để lại 1 dòng nhắn (siêu ngắn)

Gõ cửa, nhà chẳng có ai. Để lại thư này vậy (Một bài thơ dịch Đường thi – Cái ông Vương Duy này sướng thật !)

戲題磐石

可憐磐石臨泉水,
複有垂楊拂酒杯。
若道春風不解意,
何因吹送落花來。

HÝ ĐỀ BÀN THẠCH

Khả liên bàn thạch lâm tuyền thuỷ,
Phục hữu thùy dương phất tửu bôi.
Nhược đạo xuân phong bất giải ý,
Hà nhân xuy tống lạc hoa lai.

Dịch nghĩa:

ĐỀ CHƠI BÀN ĐÁ

Đáng yêu sao bàn đá bên suối trong rừng,

Lại có tơ liễu rủ mành phất phơ bên chén rượu.

Nếu bảo gió xuân không ý tứ gì,

Thì sao lại thổi hoa bay đến làm chi ?

Dịch thơ:

Bên khe bàn đá hữu tình,

Lại thêm liễu rủ chén quỳnh phất phơ.

Gió xuân ý tứ còn ngờ,

Cớ chi xui những màu hoa đến người ?

VŨ KHÁNH

YL

Thu Chí I, II – Nguyễn Du

Dạo này bạn HS lại hăng hái xông vào cuộc chém giết, cho nên có chút bỏ bê văn thơ 😛

Thôi thì bạn A/C, nhân 1 ngày cuối tuần trời đẹp nắng vàng, nhưng mà thân mình lắm bệnh nằm bẹp ở nhà than vãn cho cái kiếp “Vạn lý bi thu thường tác khách”, đành tìm vài bài thơ hay post lên giải trí tiêu sầu vậy, tiện thể cổ vũ bạn HS với sự nghiệp chém giết kia (Mà nghe phong thanh là bạn HS dạo này đang rôi rỗi nhé ;))

Dưới đây là 2 bài thơ có tên là Thu Chí của “đại” thi hào Nguyễn Du:

Bài số 1: Nằm trong tập Nam Trung Tạp Ngâm (南中雜吟 (Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam) gồm những bài thơ làm từ 1805-1812, từ khi được thăng hàm Đông các điện học sĩ ở Huế cho đến hết thời kỳ làm Cai bạ dinh Quảng Bình.

Bài Thu Chí số 2 nằm trong tập Mười Năm Gió Bụi (1786-1795), sáng tác trong thời gian ông lẩn trốn ở Quỳnh Côi (là ở đâu?) (hình như là giai đoạn trước khi bị Triều đình nhà Nguyễn bắt vào Huế làm quan)

Có 1 điều bạn A/C ko hiểu lắm, đó là rõ ràng bài Thu Chí số 2 dc sáng tác trước bài số 1, tại sao người ta lại đánh số như thế này? (Nếu dựa trên thời gian thì bài số 1 phải dc gọi là bài số 2 và ngược lại chứ nhỉ?) Đây là Nguyễn Du tự đánh số hay là những người tập hợp thơ của ông đánh số? Hy vọng các nhà “ngâm cứu” cổ thi VN – HS và VK có kiến giải 😛

秋至 (1)

香江一片月,
今古許多愁。
往事悲青塚,
新秋到白頭。
有形徒役役,
無病故拘拘。
回首藍江浦,
閒心謝白鷗。

Hương Giang nhất phiến nguyệt
Kim cổ hứa đa sầu
Vãng sự bi thanh trủng
Tân thu đáo bạch đầu
Hữu hình đồ dịch dịch
Vô bệnh cố câu câu
Hồi thủ Lam Giang phố
Nhàn tâm tạ bạch âu.

Sông Hương một mảnh trăng
Xưa nay gợi không biết bao nhiêu mối sầu
Chuyện cũ chạnh thương mồ cỏ xanh
Thu mới tới trên đầu tóc bạc
Có hình nên phải chịu vất vả
Không bệnh mà lưng vẫn khom khom
Ngoảnh đầu trông về bến sông Lam
Lòng nhàn xin tạ từ chim âu trắng.

……………….

秋至 (2)

四時好景無多日,
拋擲如梭喚不回。
千里赤身為客久,
一庭黃葉送秋來。
簾垂小閣西風動,
雪暗窮村曉角哀。
惆悵流光催白髮,
一生幽思未曾開。

Tứ thì hảo cảnh vô đa nhật,
Phao trịch như thoa hoán bất hồi.
Thiên lý xích thân vi khách cửu,
Nhất đình hoàng diệp tống thu lai.
Liêm thuỳ tiểu các tây phong động,
Tuyết ám cùng thôn hiểu giác ai.
Trù trướng lưu quang thôi bạch phát,
Nhất sinh u tứ vị tằng khai.

Đã tra nghĩa và xem xét cấu tứ – đối từ đối ý của tác giả và tạm dịch nghĩa như sau:

Trong bốn mùa, không được mấy ngày cảnh đẹp.
Thời gian vun vút trôi qua như thoi đưa, gọi không trở lại.
Trơ trọi một mình ngoài ngàn dặm, làm khách đã lâu ngày, (1)
Một sân lá vàng đưa mùa thu tới
Bức mành trước gác nhỏ lay động theo gió tây,
Tuyết phủ thôn nghèo u buồn theo tiếng tù và buổi sớm.(2)
Đau thương thất vọng làm cho mái tóc chóng bạc
Cả cuộc đời vẫn không thoát được những suy nghĩ u uẩn. (3)

Chú giải:

(1) câu này ý rất là tương tự với “Vạn lý bi thu thường tác khách” của Đỗ Phủ. Rất hay!

(2)

Câu 5 và 6 đối nhau: câu 5 gồm

Liêm /thuỳ (v hoặc adj nghĩa là gần, ở bên)/ tiểu các /tây phong/ động (v)

Tuyết / ám (v hoặc agj này cũng nghĩa là gần)/cùng thôn/ hiểu giác /ai (v)

“ai” ở đây có lẽ là động từ “than vãn” thì mới đối chỉnh với “động” ở trên.

Theo tra trên mạng thì “hiểu giác” là cách nói tắt của “Sương thiên hiểu giác” – là 1 điệu từ. Như vậy, có thể hiểu là “tiếng bi thương từ điệu ‘hiểu giác'” ????

(3) E sửa lại luôn 2 câu cuối theo ý tác giả, phần dịch nghĩa của các bạn thivien phóng tác quá ác 😛

Rồi đấy, người, bây giờ có thể xắn tay áo xông vào dịch rồi đấy 😉

Bản dịch thơ (thô bỉ) của bạn AC 😛

Bốn mùa chẳng có mấy ngày vui

Vun vút thoi đưa chẳng thể lùi.

Đất khách dặm ngàn thân cô độc

Lá vàng sân vắng nhắc sang thu.

Rèm thưa gác nhỏ lay trong gió

Tuyết lạnh cô thôn vẳng tiếng tù. (*)

Dai dẳng  thương đau thay màu tóc

Vẩn vương u uất biết chừng nguôi.

(*) Câu này khó vì quá nhiều thứ, ko chứa dc trong 7 chữ :(((

Này phải hiểu theo kiểu thơ Bút Tre, tức là “vẳng tiếng tù (và)” he he he.

Đợi bản dịch của bạn HS…

…………

Trong 2 bài này thì bài số 1 nổi tiếng hơn, vì có 2 câu thơ rất thường dc nhai đi nhai lại “Hương Giang nhất phiến nguyệt/Kim cổ hứa đa sầu”. Bạn AC cũng thích cái câu này vì bạn AC thích dòng sông Hương này lắm.

Tiện thể post bài thơ, giới thiệu thêm ít cảnh đẹp quê hương đất nước cho mọi người thưởng thức. VN cũng giang sơn gấm vóc, cũng sơn thủy hữu tình lắm chứ bộ 😛

Anh Ca

Xuân vãn – Trần Nhân Tông

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,

Nhất xuân tâm sự bách hoa trung.

Như kim khám phá đông hoàng diện,

Thiền bản bồ đoàn khán truỵ hồng.

Chiều Xuân

Thuở trẻ chưa từng hiểu rõ “sắc” với “không”,

Mỗi khi xuân đến vẫn gửi lòng trong trăm hoa.

Ngày nay đã khám phá được bộ mặt chúa xuân,

Ngồi trên nệm cỏ giữa tấm phản nhà chùa ngắm cánh hoa rụng.

 

Đây là phân tích

 

Bản dịch lục bát của Vũ Khánh

Trẻ trung nào biết “sắc, không”,

Mỗi khi xuân đến gửi lòng cho hoa.

Chúa Xuân rõ mặt bây giờ,

Bồ đoàn ngồi ngắm sân chùa hoa bay.

 

Bản dịch lục bát của Yên Liên

Trẻ người có sá “sắc không”

Những khi xuân đến gửi lòng trăm hoa.

Nay xuân sắc đã ngộ ra,

Đệm chùa ngồi ngắm cánh tà tà rơi.

Yên Liên

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: