Hoài thượng dữ hữu nhân biệt – Trịnh Cốc

淮上与友人别
扬子江头杨柳春,
杨花愁杀渡江人。
数声风笛离亭晚,
君向潇湘我向秦。
Hoài thượng dữ hữu nhân biệt (1)
Dương Tử giang đầu dương liễu xuân, (2)
Dương hoa sầu sát độ giang nhân. (3)
Sổ thanh phong địch ly đình vãn (4)
Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần. (5)
  1. Hoài thượng: Dương Châu; Hoài: Hoài Thủy – sông Hoài.
  2. Dương tử giang: Các nhánh chính của Trường Giang ở một dải Trấn Giang Giang Tô, Dương Châu, cổ gọi là Dương Tử giang. Dương liễu, chữ liễu – 柳 – liǔ và chữ lưu – 留 – liú âm giống nhau, biểu thị ý muốn níu kéo giữ lại.
  3. Dương hoa: liễu nhứ – bông liễu. Sầu sát: mối sầu đầy trong lòng. Sát: hình dung mức độ buồn đau rất sâu.
  4. Phong địch: tiếng sáo truyền lại từ trong gió. Ly đình: dịch đình – đình trạm. Đình  ngày xưa đặt cạnh đường để mọi người nghỉ ngơi, mọi người thường đến đây để tiễn biệt, nên gọi là ly đình.[Chữ 数 có nhiều cách đọc, cũng có nhiều phiên âm Hán Việt (sổ, số, sác…), ý nghĩa gần như nhau, mà cho vào đây thế nào cũng ổn :-). Nên không biết chọn phiên âm nào là chuẩn nhất.]
  5. Tiêu Tương: chỉ một dải Hồ Nam ngày nay. Tần: chỉ kinh đô thành Trường An lúc bấy giờ. Nay thuộc Thiểm Tây.

Dịch nghĩa (đợi con chim làm hộ)

 

Hàn

Advertisements

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.5

孟懿子(1)问孝,子曰:“无违。(2)”樊迟(3)御(4),子告之曰:“孟孙(5)问孝于我, 我对曰无违。”樊迟曰:“何谓也。”子曰:“生,事之以礼;死,葬之以礼,祭之以礼。”

Mèng yì zǐ wèn xiào, Zǐ yuē: “wú wéi”.

Fán chí yù, zǐ gào zhī yuē: “mèng sūn wèn xiào yú wǒ, wǒ duì yuē wú wéi.”

Fán chí yuē: “héwèi yě.” Zǐ yuē: “sheng, shì zhī yǐ lǐ; sǐ, zàng zhī yǐ lǐ, jì zhī yǐ lǐ.”

Mạnh Ý tử (1) vấn hiếu, Tử viết: “Vô vi (2).”

Phàn Trì (3) ngự (4), Tử cáo chi viết: “Mạnh Tôn (5) vấn hiếu ư ngã, ngã đối viết vô vi.”

Phàn Trì viết: “Hà vị dã.” Tử viết: “sinh, sự chi dĩ lễ; tử, táng chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ.”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. Mạnh Ý tử: Đại phu nước Lỗ, thuộc một trong “tam gia” – ba họ tộc lớn (chỉ ba khanh đại phu nước Lỗ họ Quý Tôn, Thúc Tôn, Mạnh Tôn), họ Trọng Tôn, tên Hà Kỵ, “Ý” là thụy hiệu. Phụ thân của ông trước lúc lâm chung yêu cầu ông theo Khổng tử học lễ.
  2. 无违 – vô vi: không nên vi phạm, làm trái.
  3. 樊迟 – Phàn Trì: Họ Phàn tên Tu, tự Tử Trì. Là đệ tử của Khổng tử, nhỏ hơn Khổng tử 46 tuổi. Ông từng cùng Nhiễm Cầu giúp Quý Khang Tử tiến hành cách tân.
  4. 御 – ngự: điều khiển xe ngựa
  5. 孟孙 – Mạnh Tôn: chỉ Mạnh Ý tử.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn ]

Mạnh Ý tử hỏi hiếu là gì, Khổng tử nói: “Hiếu chính là không nên vi phạm, làm trái lễ.” Sau đó Phàn Trì đánh xe ngựa cho Khổng tử, Khổng tử nói với Phàn Trì: “Mạnh Tôn hỏi ta hiếu là gì, ta trả lời là không nên làm trái lễ.” Phàn Trì nói: “không nên làm trái lễ là có nghĩa như thế nào?.” Khổng tử nói: “Khi cha mẹ còn sống, cần theo lễ mà chăm sóc phụng hầu; sau khi cha mẹ mất, cần theo lễ mà mai táng, tế tự.”

[Bình luận – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử cực kỳ xem trọng hiếu, yêu cầu mọi người tận hiếu đạo đối với bố mẹ của mình, vô luận họ còn sống hay đã mất, đều nên như vậy. Nhưng chỗ trọng yếu ở đây là, lúc tận hiếu không nên làm trái với quy định của lễ, nếu không thì không phải là hiếu chân chính. Có thể thấy, hiếu không phải là chung chung mơ hồ, tùy ý, mà phải theo quy định của lễ, theo lễ mà làm mới là hiếu.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Mạnh Ý tử: Đại phu nước Lỗ, thuộc một trong “tam gia,” họ Trọng Tôn, tên Hà Kỵ. Cha của ông Hy Tử có di mệnh bảo ông học lễ với Khổng tử, là học sinh thời kỳ đầu của Khổng tử. Sau Khổng tử làm chức Tư Khấu ở Lỗ, chủ trương phá thủ phủ của tam gia, Hà Kỵ dẫn đầu kháng lệnh. Người đời sau không liệt Hà Kỵ vào trong các đệ tử của Khổng môn.

无违 – vô vi: Hy tử hiền mà thích lễ, Ý tử chắc rằng không thể tuân thủ cẩn thận sự dạy bảo của phụ thân. Khổng tử dạy theo vô vi – không làm trái, đại loại kỳ vọng [Ý tử] thực hành tốt lệnh của cha, rốt cuộc có thể hoàn thành chí hướng của cha.

樊迟御: Phàn Trì đánh xe cho Khổng tử, Khổng tử đem lời nói với Ý tử nói lại cho Phàn Trì. Không làm trái với lệnh của cha là hiếu, lời này là đặt biệt nói cho Ý tử. Không phải người cha nào cũng hiền, tòng phụ chưa chắc đã  là hiếu. Khổng tử nói lại cho Phàn Trì, đại loại kỳ vọng Phàn Trì có câu hỏi, để có thể giải thích ý nghĩa chưa tận của câu trước.

何谓也 – hà vị dã: Phàn Trì quả nhiên không hiểu rõ mà hỏi lại. Khổng tử liền nói vô vi, [là] không vi phạm vào lễ, có khả năng lấy lễ phụng sự phụ mẫu, đây là hiếu. Cha mẹ có chỗ không hợp lễ, con cái thuận theo sự sai trái của họ là không thỏa đáng, nhất định phải dựa vào sự hợp lễ mà phụng sự phụ mẫu, thì đối với cha mẹ mới là tôn kính hết mức, đây mới là hiếu. Nếu như thuận theo sự phi lễ của cha mẹ, là để cho cha mẹ không đủ tốt, lại tự để bản thân rơi vào phi lễ, đây là nghịch lại cha mẹ vô cùng. Cho nên dạy “vô vi” – không vi phạm lời cha dạy là hiếu, là lời giành riêng cho Ý tử. Không vi phạm lễ là hiếu, là lời giành cho mọi người trong thiên hạ nói chung. Nếu người cha quả thật là hiền, con không vi phạm ý cha, cũng chính là không vi phạm lễ. Khổng tử nói hai lần, ý nghĩa tương thông. Hoặc có thuyết, ở vào thời ba họ tộc lớn tiếm lễ, cho nên Khổng tử đem việc không vi phạm lễ để nhắc nhở Ý tử, hy vọng Phàn Trì truyền đạt lại. Nhưng Khổng tử tại sao lại không nói trực tiếp, mà nhất định phải đợi Phàn Trì hỏi lại mởi chuyển lời truyền đạt? Việc này thường được cắt nghĩa sai đi. Nếu Ý tử có thể không vi phạm lời cha dặn là phải học lễ, thì đã nằm trong số những người cảnh báo việc ba họ lớn tiếm quyền, không phải phiền đến Phàn Trì truyền đạt lại.

Mạnh Ý tử hỏi: “Hiếu đạo là như thế nào?.” Tiên sinh nói: “Không được vi nghịch.” Một ngày, Phàn Trì đánh xe cho tiên sinh, Tiên sinh kể cho Phàn Trì: “Mạnh Tôn hỏi ta về hiếu đạo, ta trả lời là không được vi nghịch.” Phàn trì nói: “Như thế ý là gì?” Tiên sinh nói: “Lúc cha mẹ còn sống, theo lễ mà phụng sự cha mẹ. Lúc cha mẹ mất đi, theo lễ để mai táng, theo lễ để tế tự.”  

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]   

Như phần này, chúng ta không cần theo phân chia của Tống Nho như thế này, mà đem bỏ đi cho rồi. Đây là hậu nhân phân chia ra , là không đúng, trên chia ra 1 lần, dưới lại chia ra thêm 1 lần nữa, kết quả biến thành giáo điều. Kỳ thực là ở đây là đoạn nối liền thông suốt, cũng chính là phát triển ý của “vi chính dĩ đức” ở phía trước, đem tinh thần đạo hiếu của văn hóa Trung Quốc, mở rộng ra lĩnh vực đối nhân xử thế, Trung Quốc từ cổ đến nay, các nhà đại chính trị trong nhà ngoài ngõ đều giữ một lòng không cẩu thả, chính là từ xuất phát điểm này mà bồi dưỡng nên.

Trước hết chúng ta giải thích câu chữ. Mạnh Ý Tử không nhất định là học trò của Khổng tử, mà là mối quan hệ ở giữa học trò và bạn bè, ông là đại phu nước Lỗ. “Đại phu” lúc đương thời, là một cấp bậc quan tương đối cao. Miễn cưỡng so sánh, như cấp thành viên nội các hiện nay, đều gọi là “đại phu.” Đại phu là cấp (bậc)  quan, không phải chức quan. Các loại cấp bậc chức vụ quan của Trung Quốc, qua các thời đều có biến động. Nếu chúng ta muốn hiểu các biến đổi hình thái chính trị qua các thời đại, cần đọc “Thập Thông” hoặc “Tam Thông” – thông chí, thông hiến, thông khảo. Nội dung không chỉ bao quát các diễn biến chế độ chính trị, quan chức, và mọi diễn biến khác của Trung Quốc, thậm chí nghiên cứu tư tưởng chủ nghĩa tam dân hiện đại, quốc phụ [Tôn Trung Sơn] tại sao lại chọn dùng chế độ ngũ quyền phân lập, đều có mối quan hệ sâu sắc với văn hóa “Tam Thông”, “Thập Thông.” Ở đây đang nói về chức vụ địa vị của Mạnh Ý tử, thuận tiện kể ra.

Nếu Mạnh Ý tử đã là nhân vật như vậy, theo lập trường lúc bấy giờ của Khổng tử mà nói, đoạn hội thoại này, rốt cuộc là Khổng tử trước khi làm Tư Khấu của nước Lỗ, hay sau khi làm nói, rất khó để khảo chứng. Địa vị của Khổng tử lúc đương thời ở trường quốc tế – tức là giữa các chư hầu, rất đặc thù, là một nhân vật kiệt xuất. Cho nên Mạnh Ý tử đến hỏi Khổng tứ hiếu là gì, Khổng tử chỉ nói  “không được vi phạm làm trái.” Nếu như theo câu này mà xem xét, Khổng tử nói lời vô cùng giảo hoạt không thành thật. Không được vi phạm làm trái cái gì? Không có phần tiếp theo. Đây là một lời đáp rất kỳ lạ, tiếp phía sau, lại là một màn đối thoại hình thức ngắn gọn. Chúng ta đọc Luận ngữ, đi sâu vào, rất thú vị, như đọc tiểu thuyết, không nhất thiết phải dùng thái độ nghiêm trọng để đọc.

“Phàn Trì ngự” – Phàn Trì là học trò của Khổng tử, tên là Phàn Tu, tự Tử Trì, nhỏ hơn Khổng tử 36 tuổi, là lứa thanh niên. “Ngự” là điều khiển xe. Mạnh Ý tử vừa mới đến bái phỏng Khổng tử, thỉnh giáo vấn đề đạo hiếu là gì, Khổng tử nói “không được vi phạm làm trái,” chỉ có mộ một câu như vậy. Qua một lúc Khổng tử đi ra ngoài […], do học trò trẻ là Phàn Trì đánh xe [bỏ mấy câu dông dài].

“Tử cáo chi viết” là miêu tả Khổng tử ở trên xe đặc biệt kể cho Phàn Trì một việc: “Mạnh Tôn hỏi ta về hiếu, ta trả lời: không vi phạm.” Mạnh Tôn là hiệu của Mạnh Ý tử, do ông là người có địa vị tương đối cao trong triều đình, nên trong chính giới đương thời mà nói, cũng tính là một nhân vật vai vế, do đó Khổng tử đối với ông tương đối tôn kính, nên chỉ gọi ông bằng tên hiệu. Khổng tử nói, Mạnh Tôn hỏi ta hiếu là gì, ta trả lời là “vô vi – không được vi phạm làm trái.” [Lại bỏ một phần dông dài và không quan trọng lắm].

Không được vi phạm làm trái, ý nghĩa rất đơn giản. “Sinh, sự chi dĩ lễ.” Chữ “sự” là cổ nhân dùng khi người dưới nói về người trên. Khổng tử nói, khi cha mẹ còn sống, chúng ta cần phải hiếu kính họ. Làm việc dĩ lễ là như thế nào? Rất khó nói, lễ này không phải là gặp bố mẹ liền hành lễ là hiếu. Lễ này là bao quát mọi yêu thương, chăm sóc trong đời sống. (Đạo lý này, về sau chúng ta sẽ có cơ hội nói riêng về lễ, ở đây tạm không nói đến.) Lại nói: “tử, táng chi dĩ lễ.” Do đó lễ là một khái niệm cơ bản vô cùng quan trọng trong văn hóa Trung Quốc, thấy chữ lễ này, tuyệt không thể dùng nghĩa hẹp là lễ mạo để giải thích. Sau khi mất lại phải “tế chi dĩ lễ.” Chúng ta nghiên cứu đoạn này, dường như không có gì đáng ngạc nhiên, nhưng ghi lại đoạn hội thoại này vào trong Luận ngữ, đến cuối cùng là có ý nghĩa gì? Đối với Vi chính có quan hệ như thế nào?

Chúng ta trước hết hãy đặt các vấn đề này sang một bên, xem tiếp đến đoạn sau, về sau mới tổng hợp lại để nghiên cứu.

Hàn

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.4

子曰:“吾十有(1)五而志于学,三十而立(2),四十而不惑(3),五十而知天命(4),六十而耳顺(5),七十而从心所欲, 不逾矩(6)。”

Zǐ yuē: wú shí yǒu wǔ ér zhì yú xué, sānshí érlì, sìshí ér bù huò, wǔshí ér zhī tiān mìng, liùshí ér ěr shun, qīshí ér cóng xīn suǒ yù bù yú jǔ.

Tử viết: “Ngô thập hữu (1) ngũ nhi chí ư học, tam thập nhi lập (2), tứ thập nhi bất hoặc (3), ngũ thập nhi tri thiên mệnh (4), lục thập nhi nhĩ thuận (5), thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ (6).”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 有 – yǒu – hữu: giống又 – yòu – hựu, cộng thêm.
  2. 立 – lì – lập: ý là đứng vững.
  3. 不惑 – bù huò – bất hoặc: nắm chắc kiến thức, không bị sự vật ngoại cảnh gây mê hoặc.
  4. 天命 – tiān mìng – thiên mệnh: chỉ sự tình mà sức người không thể chi phối.
  5. 耳顺 – ěr shun – nhĩ thuận: có nhiều cách giải thích. Nhưng nói chung, chỉ việc đối với những ý kiến bất lợi cho bản thân cũng có thể đối đãi đúng/xác đáng.
  6. 从心所欲, 不逾矩 – cóng xīn suǒ yù bù yú jǔ – tòng tâm sở dục, bất du củ: tòng- thuận theo; du- vượt qua; củ- quy củ.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Ta mười lăm tuổi lập chí học tập; ba mươi tuổi có thể tự lập; bốn mươi tuổi có thể không bị sự vật ngoại cảnh mê hoặc; năm mươi tuổi hiểu được thiên mệnh; sáu mươi tuổi có thể đối đãi xác đáng với mọi loại ngôn luận, không cảm thấy có gì là không thuận [quy luật]; bảy mươi tuổi có thể tùy theo lòng mình mà không vượt qua quy củ.”

[Bình luận – Dương Bá Tuấn]

Trong chương này, Khổng tử tự thuật lại quá trình học tập và tu dưỡng của bản thân. Quá trình này, là một quá trình cảnh giới tư tưởng dần dần nâng cao, theo sự tăng tiến của độ tuổi. Về cảnh giới tư tưởng, toàn bộ quá trình phân thành ba giai đoạn: mười lăm tuổi đến bốn mươi tuổi là giai đoạn học tập lĩnh hội; năm mươi, sáu mươi tuổi là giai đoạn an tâm lập mệnh, cũng là giai đoạn không chịu sự tác động của hoàn cảnh; bảy mươi tuổi là giai đoạn ý thức chủ quan và quy tắc làm người dung hợp làm một. Trong giai đoạn này, tu dưỡng đạo đức đạt đến cảnh giới cao nhất. Quá trình tu dưỡng đạo đức của Khổng tử, có nhân tố hợp lý: một là, ông đã thấy được tu dưỡng đạo đức không phải việc một sớm một chiều, không thể hoàn thành ngay, không thể có đột phá, cần phải trải qua quá trình rèn luyện học tập lâu dài, cần phải có một quá trình tuần tự tiệm tiến. Hai là, cảnh giới cao nhất của đạo đức là tư tưởng và ngôn hành dung hợp, tự giác tôn thủ quy phạm đạo đức, mà không phải là miễn cưỡng làm. Hai điểm này đối với bất kỳ người nào, đều có thể đem ra áp dụng được.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

志於学 – chí ư học: người có chí, tất cả mọi ý nguyện trong lòng, đều một lòng hướng đến mục tiêu này. Vốn có chí tất có học, chí và học tương sinh mà phát triển. Cái chí cái học của Khổng tử, thông qua đọc chương này có thể thấy được, càng thông qua đọc toàn bộ Luận ngữ mà có thể hiểu cặn kẽ. Có thể có chí như cái chí của Khổng tử, học như cái học của Khổng tử, là tôn chỉ lớn nhất của việc đọc Luận ngữ.

而立 – nhi lập: lập, nghĩa là thành lập (trưởng thành đến mức có thể tự lập). Có thể có khả năng tự lập một cách vững chãi, không suy giảm không chuyển đổi, tức là chí đã đạt được thành tựu, có được phẩm cách. Đây là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình học tập của Khổng tử.

不惑 – bất hoặc: con người và sự việc có dị đồng (điểm khác nhau/tương đồng), có  nghịch thuận, dù cho có chí, có khả năng tự lập, nếu với ngoại cảnh có sự đối nghịch, thì lòng dễ nảy sinh hoài nghi mê hoặc. Nếu có thể đối với mọi loại ngôn luận, sự việc biến hóa thuộc ngoại cảnh, hiểu đến chỗ thâm sâu, chỗ tận cùng, với mọi thứ liên quan đều thông suốt, mà không có gì phải hoài nghi, thì không những có khả năng tự lập giữ phẩm cách, còn có thể biết chỗ sáng mà ở vào chỗ an, là giai đoạn thứ hai trong tiến trình học tập của Khổng tử.

知天命 – tri thiên mệnh: tuy đối với đạo lý của mọi sự đều không còn nghi hoặc, nhưng việc thực hành chí hướng vẫn có chỗ gian khổ. Chí càng tiến, việc làm càng tiến, càng gặp phải việc gian khổ gây nghi hoặc. Cho nên đã có thể tự lập không còn gì nghi hoặc, càng ngày càng phải tri thiên mệnh (hiểu mệnh trời). Thiên mệnh chỉ các loại đạo nghĩa và chức trách đương nhiên của nhân sinh. Đạo nghĩa chức trách có vẻ không khó biết, song vẫn có việc dù “thủ đạo tận chức” (giữ đạo, tận lực với chức phận) mà vẫn gặp phải cảnh khốn cùng, không thuận lợi. Việc đương nhiên mà lại vẫn không thể thuận lợi thông suốt, có thể không được thuận lợi mà vẫn là đương nhiên, nghĩa lý này rất khó để hiểu. Để đạt đến cảnh giới này, cần phải học “tri thiên mệnh.” Khổng tử nói: “trời sinh ta có đức tính thiện, Hoàn Đồi có thể làm gì ta?” (i), lại nói “Văn Vương đã mất,  lễ nhạc văn hóa không phải đều ở tại chỗ của ta sao? Trời nếu như muốn tiêu diệt văn hóa này, người sau (ta) đã không thể có được văn hóa này. Trời nếu như không tiêu diệt văn hóa này, người Khuông có thể làm gì ta?” (ii). Khổng tử theo đuổi việc học, đạt đến cùng cực của “bất hoặc,” lòng tự tin cực chân thực cực vững chắc, dường như đã lên đến cảnh giới người không thể hiểu, duy trời có thể hiểu. Như thế đạo và thiên đã hợp làm một, do đâu đến cuối cùng không thể thực hành, đến đây buộc phải tiến đến cảnh giới tri thiên mệnh. Cho nên tri thiên mệnh, là tiến thêm một bước so với “bất hoặc,” là cảnh giới cao hơn, là giai đoạn thứ ba trong tiến trình học tập của Khổng tử.

Khổng tử không phải là người đứng đầu một tôn giáo, nhưng Khổng tử lại có một tín ngưỡng cao vô thượng, loại tín ngưỡng này, như đã cao hơn của các giáo chủ tôn giáo trên thế giới. Khổng tử do học mà sinh tín (niềm tin/lòng tin), chứ không phải là có tín trước mới học sau. Cho nên Khổng tử dạy mọi người, cũng là lấy việc học làm trọng. Tử cống nói: “Phu tử [giảng] về các loại học vấn văn hiến, chúng ta nghe có thể hiểu được; phu tử [giảng] về các loại thiên tính thiên đạo, chúng ta nghe không hiểu” (iii). Đại khái là Khổng tử dựa vào sở học mà dạy người, không dựa vào tín mà dạy người. Khổng tử có ý, dường như không học đến cảnh giới này, tất không dễ có niềm tin này, do đó không lấy tín để dạy. Đây là điểm khác biệt giữa Khổng tử với các vị đứng đầu tôn giáo khác. Cho nên học cái học của Khổng tử, không nên cẩu thả nói tri thiên mệnh, nhưng đồng thời nên biết trong lòng của Khổng tử thực chất có cảnh giới này. Khổng tử đã chỉ ra cảnh giới này, thứ gọi là “Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hàng hành chỉ, tuy bất năng chí, tâm hướng vãn chi”- [đức hạnh như] núi cao khiến [người] ngưỡng vọng, hành vi [chính đại quang minh] như con đường rộng, tuy không thể đạt đến trình độ này, nhưng lòng luôn hướng về đó (iv). Người học cũng nên đặt cảnh giới này trong tâm, mà mỗi ngày đều hướng về.

耳顺 – nhĩ thuận: đối với tất cả các loại ý kiến hoặc ngôn luận khác biệt, tất cả các loại phản ứng hoặc kích động trái nghịch bất thuận ở bên ngoài, khi đã đạt tới khả năng tự lập bất hoặc, lại tri thiên mệnh, có thể lấy đó để xử lý, không vì những thứ bên ngoài mà bị dao động mê hoặc, là càng tiến thêm một bước mà đạt đến cảnh giới “nhĩ thuận.” Người nhĩ thuận, tất cả đều nghe vào tai, không còn cảm thấy cái gì là có chỗ không thuận với bản thân, không thuận với đạo. Trong khi biết ngoại cảnh tất cả đều đối lập khác biệt nhau, trái nghịch bất thuận, tuy nhiên không cái gì là không có lý do của nó. Có thể hiểu được tất cả những lý do này, tất không chỉ hiểu bản thân, lại còn hiểu được người. Không chỉ hiểu một việc từ đâu là phải, mà còn hiểu từ đâu là không phải. Bên phản bên chính, bên nó bên ta, tất cả là theo ý trời. Lại không ở bất kỳ chỗ nào mà không thấy có thiên mệnh, do đó nói nhĩ thuận, là giai đoạn thứ tư của tiến trình học tập của Khổng tử.

Sự vật khi đi vào trong tâm của ta, chỗ trọng yếu nhất, là ở tại tai và mắt. Chương này đặc biệt nêu nhĩ thuận, thực chất là nêu cái này có thể bao gồm cả cái kia. Thêm vào đó mắt nhìn do ta hướng ra bên ngoài, tai nghe do bên ngoài rót vào ta, nói về mức độ tự chủ, hơi có sự khác biệt. Nhìn bằng mắt hướng đến hình dáng vật thể, nghe qua tai thâm nhập vào tâm ý. Mắt chỉ nhìn thấy ở gần mà tai nghe được ở xa, tức là lời nói hành động của cổ nhân, cũng có thể đi vào tai như vậy. Do đó nói về tai có thể bao quát cả mắt. Học đến mức tri thiên mệnh, tất xa gần chính phản, cổ kim thuận nghịch, những gì gặp được đều là đạo, đều ở trong thiên mệnh. (Nhờ đó) sẽ càng trung (dốc lòng) đến mức tận mọi sức lực, sẽ càng thứ (đặt mình vào vị trí của người khác mà suy nghĩ) mà đối đãi vật. Đối với những gì bản thân coi trọng xem xét để biết đâu là chỗ [ta cho là] đương nhiên; đối với việc người khác coi trọng xem xét để hiểu lý do tại sao. Hiểu rõ lý do tại sao tất nhĩ thuận, với mọi thứ đều không cảm thấy có gì trái nghịch,  từ đó mà có thể thi hành giáo hóa, có thể vi chính, có thể dựa vào “lập kỷ” mà “lập nhân,” “đạt kỷ” mà “đạt nhân” (bản thân có thể tự lập, đứng vững mà giúp người người tự lập; bản thân đã thông hiểu mà giúp người người khác thông hiểu – nd). Như thế chỗ cùng cực của thiên mệnh, chẳng phải luôn là việc hành đạo (đi theo con đường) này sao? Cội nguồn đạo của cổ nhân, cốt yếu ở chỗ có khả năng “phản cầu chư kỉ” –   trách bản thân chứ không phải trách người khác (v). Chỗ cùng cực của trung thứ (vi), tức là chỗ cùng cực của minh thành (明诚 – minh triết, chân thành), trời và người cùng một lẽ mà thông suốt, mà việc phát dương đạo xuất phát bản thân.

从心所欲不踰矩 – tòng tâm sở dục bất du củ: tòng, nghĩa là tuân theo, thuận theo. Hoặc có thuyết: chữ tòng đọc giống như túng (纵), nghĩa là “phóng nhiệm” (放任) – không có ước thúc, để mọi việc diễn ra tự nhiên, không can thiệp.  Củ- thước kẻ góc vuông. Quy-viên quy – thước để vẽ đường tròn. Quy củ vô cùng vuông, tròn, dùng để nói về luật lệ chuẩn tắc của các loại ngôn hành. Ở đây nói đến củ mà không nói đến quy, càng thấy lời nói cẩn trọng. Thánh nhân đến cảnh giới này, đều mặc theo lòng mình, có thể phóng tâm đến mức cùng cực, không kiểm điểm quản thúc (đạo đức ngôn hành của bản thân), mà bản thân lại không có gì là không theo quy củ luật lệ. Do đó nội tâm của thánh nhân vô cùng tự do, cùng với các loại luật lệ quy củ đương nhiên ở bên ngoài tự nhiên tương hợp. Học vấn đạt đến cảnh giới này, tâm cũng chính là đạo nghĩa, nội ngoại hợp nhất. Mọi việc làm của bản thân, không gì là không phải các khuôn phép cao nhất của thiên mệnh. Trời không dụng tâm đối với bất kỳ cái gì (vii) mà không có gì là không phải, trời không chịu bất kỳ ước thúc nào nhưng là chuẩn tắc cho tất cả mọi thứ. Sự học của thánh nhân, đến cảnh giới này, nhân cách  cao thượng vĩ đại sánh với trời, mà việc học cũng không thể tiến thêm nữa. Chương này của Khổng tử, chỉ là tự nói về quá trình đạt được trong học vấn của bản thân, chưa từng tự sánh với trời. Song đệ tử của Khổng tử đã ví nhân cách của Khổng tử sánh với trời mà (người khác) không thể bắc thang lên được vậy. Như ở trên đã cho thấy rõ, cũng không thấy có gì là quá cả.

Chương này là Khổng tử tự thuật về những thứ bản thân đạt được trong một đời học tập, các bậc thang tiến bộ qua các năm như thế nào. Người học kiên trì noi theo nỗ lực này, ngày qua ngày đều tiến bộ (viii), hy vọng xuất sắc mà tiến vào lãnh địa của thánh nhân.  Nhưng người học cố gắng theo khả năng của mình, cũng thường ở ba cấp bậc là “chí học,” “lập” hay “bất hoặc.” Còn từ tri thiên mệnh trở lên, nếu không nỗ lực hết sức, không nên hy vọng có thành tích hy hữu. Biết có cảnh giới này, mà vẫn canh cánh trong lòng cho rằng có thể đạt được, nếu tùy tiện đem bản thân đi bắt chước, chỉ là vọng tưởng tu dưỡng được đến cảnh giới tối cao, nhưng lại trở thành ngụy quân tử, thành tiểu nhân không biết sợ cái gì, mà không tự biết mình vậy. Người học thử nghiền ngẫm chương đầuchương cuối của thiên Học nhi, dần dần tự cố gắng, hy vọng dần có thể nhìn ra chỗ thâm thúy của chương này. Vì hai chương đầu và cuối của thiên Học nhi, từ chỗ dễ hiểu nhất chân thực nhất mà chỉ cho người ta (con đường) lĩnh hội, người học có thể từ đây mà noi theo. Chương này tuy là Khổng tử tự nói về bản thân, không có lời nào là không chân thực, ở bên trong lại có rất nhiều chỗ thâm sâu ảo diệu. Không dựa trên cái gì mà vọng cầu đột nhiên đạt được, thì biến thành nói hão không đáng tin, không phải là chủ ý lúc bình thường dạy học sinh của Khổng tử.

Khổng tử lại nói: “bất oán thiên, bất vưu nhân, hạ học nhi thượng đạt, tri ngã giả kì thiên hồ” – không oán trời, không trách người, dưới học mà trên suốt mọi sự lý/thiên mệnh, hiểu được ta chỉ có trời chăng? (ix), ý nghĩa của câu cùng với chương này tương thông. Từ chí học, nhi lập, nhi bất hoặc, đều là “hạ học.” Sau đó trở lên, là thượng đạt vậy. Tri thiên mệnh nên không oán thiên, nhĩ thuận nên không trách người. Tấm lòng này đạt đến cái đức của trời, nên có thể tòng tâm sở dục bất du củ, mà hiểu ta chỉ có trời. Tri mệnh nhĩ thuận, vốn không phải là thứ dễ dàng đạt được của người học, nhưng không oán không trách, chính là nỗ lực nên có của người học. Hành viễn tự nhĩ, đăng cao tự ti – đi đường xa bắt đầu từ bước gần nhất, leo núi cao bắt đầu từ chỗ thấp nhất (x), thiên lý chi hành, khởi ư túc hạ – đường xa ngàn dặm, bắt đầu từ từ việc đi bước đầu tiên (xi), người học theo khả năng có thể làm mà nỗ lực làm, cũng không phải lo lắng nghĩ đến chỗ khó khăn của việc học đến cấp bậc của thánh nhân.

Tiên sinh nói: Ta lúc mười lăm tuổi, bắt đầu có chí học tập. Đến ba mươi tuổi, có thể kiên định tự lập. Đến bốn mươi, ta đối với mọi loại đạo lý, có thể thông đạt không còn nghi hoặc. Đến năm mươi, ta có thể biết cái gì là thiên mệnh. Đến sáu mươi, tất cả những gì ta nghe được, đều có thể thông hiểu minh bạch hoàn toàn, không còn cảm thấy trong lòng có gì là trái ngược. Đến bảy mươi, ta chỉ mặc cho lòng tự nhiên không còn gì ước thúc, mà cũng sẽ không có chỗ nào là vượt qua quy củ pháp độ.

(i) “天生德於予,桓魋其如予何?”- thiên sinh đức ư dư, Hoàn Đồi kì như dư hà? – trời sinh ta có đức tính thiện, Hoàn Đồi có thể làm gì ta? (Hoàn Đồi là tư mã nước Tống, từng muốn giết hại Khổng tử). Đây cũng là câu trong Luận ngữ.

(ii) 文王既没,文不在兹乎?天之将丧斯文也,后死者不得与於斯文也。天之未丧斯文也,匡人其如予何?”- “Văn Vương kí một, văn bất tại tư hồ? Thiên chi tương táng tư văn dã, hậu tử giả bất đắc dữ ư tư văn dã. Thiên chi vị táng tư văn dã, Khuông nhân kì như dữ hà?” – Vua Văn Vương đã mất,  lễ nhạc văn hóa không phải đều ở tại chỗ của ta sao? Trời nếu như muốn tiêu diệt văn hóa này, người sau đã không thể có được văn hóa này. Trời nếu như không tiêu diệt văn hóa này, người Khuông có thể làm gì ta? Đây cũng là một câu trong Luận ngữ.

(iii) 子贡曰:“夫子之文章,可得而闻也。夫子之言性与天道,不可得而闻也。”- Tử cống viết: “Phu tử chi văn chương, khả đắc nhi văn dã. Phu tử chi ngôn tính dữ thiên đạo, bất khả đắc nhi văn dã.”

(iv) “高山仰止,景行行止,虽不能至,心向往之”- “Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hàng hành chỉ, tuy bất năng chí, tâm hướng vãn chi” – cao sơn: núi cao; cảnh hàng: con đường lớn (đại lộ); chữ “chỉ” là trợ từ cuối câu để nhấn mạnh; đức hạnh như núi cao khiến mọi người ngưỡng vọng, hành vi quang minh chính đại như con đường lớn, tuy không thể đạt đến trình độ này, nhưng tâm luôn hướng về điều đó. Haiz, thật lằng nhằng. Đầu tiên, 2 câu đầu là từ một bài trong Kinh Thi, Tiểu Nhã. Sau đại ca Tư Mã Thiên khi viết Sử ký, Khổng tử thế gia đã mượn hai câu này mà viết ra 4 câu trên.

(v) Phản cầu chư kỉ – 反求诸己 fǎn qiú zhūjǐ: Câu trong Lễ ký, nhìn nhận lỗi của bản thân, từ đó sửa cho đúng, chứ không trách người khác. Tiếng Anh: to seek the cause in oneself rather than sb else.

(vi) Nguyên văn là chữ này: 忠恕 – trung có nghĩa là tận tâm kiệt lực, dốc lòng, hết lòng; thứ là dùng tâm ý của mình mà suy ra tâm ý của người khác, đặt mình vào vị trí của người khác mà suy nghĩ.

(vii) Nguyên văn: 无所用心 – wú suǒ yòng xīn – vô sở dụng tâm.

(viii) Nguyên văn: 日就月将 – rì jiù yuè jiāng – nhật tựu nguyệt tương: câu xuất xứ từ Kinh Thi, mỗi ngày đều tiến đến gần hơn một tý, hình dung tinh tiến không ngừng.

(ix) Nguyên văn: 不怨天,不尤人,下学而上达,知我者其天乎 – bất oán thiên, bất vưu nhân, hạ học nhi thượng đạt, tri ngã giả kì thiên hồ – không oán trời, không trách người, dưới học mà trên suốt mọi sự lý/thiên mệnh, hiểu được ta chỉ có trời chăng?. Đây cũng là một câu trong Luận ngữ.

(x) Nguyên văn: 行远自迩,登高自卑 – xíng yuǎn zì ěr, dēng gāo zì bēi – Hành viễn tự nhĩ, đăng cao tự ti. Đi đường xa bắt đầu từ bước gần nhất, leo núi cao bắt đầu từ chỗ thấp nhất. Ví dụ với việc để đạt được mục tiêu cao xa, cần phải bắt đầu từ bước gần nhất. Câu trong Trung dung.

(xi) Nguyên văn: 千里之行,起于足下 – Qiān lĭ zhī xíng, shĭ yú zú xià – thiên lý chi hành, khởi ư túc hạ. Đi xa ngàn dặm, bắt đầu bằng việc hạ chân xuống. Câu của Lão tử.

[Luận ngữ biệt tài – Nam hoài Cẩn]

Đây là Khổng tử tự bạch, tại sao Khổng tử đang nói đến vi chính, lại phải tự bạch như vậy? Khổng tử 72 tuổi mất. Ông dùng mấy câu đơn giản, nói về trải nghiệm một đời của bản thân, tinh thần gian khó phấn đấu. Thân thế của ông rất đáng thương, lúc phụ thân qua đời, ông hãy còn một người anh bán tàn phế và một người chị, đối với gia đình, ông phải gánh trách nhiệm này, tránh nhiệm của ông rất nặng. Ông nói lúc 15 tuổi, lập chí học tập, qua 15 năm, dựa theo kinh nghiệm phong phú của ông, cũng như tôi luyện của cuộc đời, đến 30 tuổi mới “lập.” “Lập” chính là “bất động,” đạo lý làm người, hành xử, xử thế đã bất biến không thay đổi, đã xác định rồi, trong cuộc đời này không đi theo con đường này không được. Nhưng đến lúc này hãy còn hoài nghi, hãy còn hiện tượng dao động, “tứ thập nhi bất hoặc,” đến 40 tuổi, mới không hoài nghi, nhưng đây là lời nói đối với học vấn nhân sinh thuộc phạm trù hình nhi hạ. Vẫn cần thêm 10 năm nữa, đến 50 tuổi, mới “ngũ thập nhi tri thiên mệnh.” Thiên mệnh là lai nguyên của vũ trụ, đây là phạm vi bản thể tư tưởng hình nhi thượng.

Đến “lục thập nhi nhĩ thuận,” ở đây lại có vấn đề, Khổng tử trước 60 tai có vấn đề gì không thuận, khoang tai phát nóng? Câu này rất khó giải thích, có khả năng là thời đó khắc thiếu chữ. Có khả năng là sau “lục thập nhi” có một nửa câu nữa. Nếu theo giảng giải của ngày xưa, đạo lý của “nhĩ thuận” là nói, từ 15 tuổi bắt đầu tu dưỡng học vấn, làm người xử thế, đến 60 tuổi, lời tốt lời xấu bất kể người khác nói gì, bản thân đều nghe được mà tuyệt không động tâm, không tức giận, người khác mắng chửi, cũng nghe được, trong tâm bình tĩnh. Chú ý! Tâm lý bình tĩnh  không phải là tử khí tối sầm, mà là rất hoạt bát có sinh khí, rất hiểu thị phi thiện ác, đối với người tốt cảm thấy đáng yêu đáng quý, đối với người xấu, cảm thấy cần giúp đỡ sửa thành người tốt, để có loại bình tĩnh này, loại học vấn này rất khó vậy. Sau đó lại thêm 10 năm nữa, mới “tòng tâm sở dục.” Văn hóa của Tây phương là tự do, nhưng phía sau còn một lời rất quan trọng nữa, “bất du củ.” Chúng ta ra đường mà xem, bánh bao nhà kia làm rất ngon, liền cầm ăn, “tòng tâm sở dục.” Như thế có được không? Cần “bất du củ.” Giữa người với người cần có 1 giới hạn. “Tòng tâm sở dục” – tự do nhưng không thể vượt qua giới hạn này, do đó “bất du củ,” đồng thời câu này cũng đạt tới đạo lý hình nhi thượng.

Nói đến đây, chúng ta cần nghiên cứu Khổng tử tại sao lại đem kinh nghiệm làm người, hành xử, học tập mấy chục năm đặt vào trong thiên “Vi chính.” Kinh nghiệm này vô cùng quan trọng, nguyên lai Vi chính chính là kinh nghiệm cuộc đời cần có.

Trên thế giới có hai thứ không có cách nào thực nghiệm được, chính là chính trị và quân sự. hai thứ này, bao la vạn tượng, biến động không ngừng. Nhìn từ lịch sử, chính trị của cổ kim đông tây, chuyên chế, quân chủ, dân chủ, tập thể, rốt cuộc như thế nào là tốt? Ai dám đưa ra kết luận? Đặc biệt là Trung Quốc hiện đại, vài chục năm gần đây, các loại văn hóa tư tưởng Tây phương, đều đến qua vũ đài Trung Quốc, nhưng tư tưởng Tây phương là từ văn hóa Tây phương, kết quả như thế nào? Do đó người vi chính cần hiểu nhân sinh, cần có kinh nghiệm, cần biết cách thấu hiểu. Do đó Khổng tử nói về kinh nghiệm của bản thân, tập hợp thành thiên Vi chính này, chính là nhắn nhủ những người liên quan đến chính trị, từ tu dưỡng của bản thân cho đến các gian nan của việc làm người, làm việc, đều không hề đơn giản, cần theo gương tinh thần này của ông, trong công việc cần hiểu rõ việc, mới đem đoạn này đưa vào thiên Vi chính.

Từ các đoạn ở trên, chúng ta đi đến một kết luận: bất kể là vi chính hay làm việc gì, cần dựa vào tích lũy kinh nghiệm cuộc sống. Nhưng tích lũy kinh nghiệm cuộc sống thành cái gì? Đơn giản 4 chữ: “nhân tình thế cố” (i).

Nói đến nhân tình thế cố, người Trung Quốc hiện tại đem danh từ này dùng ngược lại, đây là việc rất không hay. Ví dụ nói “tên này quá thế cố,” là đang mắng người. Đặc biệt khi người ngoại quốc phê bình người Trung Quốc, mấy năm trước trong Trung ương Nhật báo tôi đã thấy bài viết kiểu này, nói người Trung Quốc cái gì cũng tốt, nhưng quá trọng nhân tình. Phản ứng của thanh niên nói chung đều như nhau, cho rằng người ngoại quốc này viết văn phi thường thấu triệt, tôi nói các bạn không cần cho rằng người ngoại quốc ở Trung Quốc học hai ba năm, có thể hiểu văn hóa Trung Quốc, vậy thì các bạn đang làm cái gì? Vài chục năm ăn cơm đều là ăn không. Văn hóa Trung Quốc luôn nói về nhân tình, thứ gọi là “nhân tình,” không phải là đến dịp lễ tết, đem một cây thịt muối, đầu đường biếu đến cuối ngõ, nhà trái biếu đến nhà phải, ở ngoài biếu đi biếu lại truyền tay đến cả tháng, không chừng lại vật quy nguyên chủ. Đây chỉ là tượng trưng của tình lễ, “nhân tình” mà văn hóa Trung Quốc nói đến là chỉ “tính tình” (tư tưởng, cảm tình) giữa người với người. Nhân tình hai chữ này, bây giờ giải thích ra, bao gồm cả xã hội học, chính trị học, tâm lý học, khoa học hành vi các loại, cũng là cảm tình dung hợp của con người với nhau.

“Thế cố” chính là thấu triệt hiểu rõ sự vật, hiểu được quá khứ, hiện tại, tương lai. “Cố” là sự tình, “thế cố” là các loại sự tình trên thế giới, cần phải hiểu về người, hiểu về sự tình, mới gọi là đạt được “nhân tình thế cố.” Nhưng hiện tại sau khi dùng theo nghĩa ngược lại, những thứ gì mà tên này quá “thế cố,” trở thành tên khác của giảo hoạt, không thành thật; “Nhân tình” biến thành từ dùng để chỉ vỗ mông ngựa (nịnh nọt). Như thế này đã làm hoàn toàn làm sai đi văn hóa Trung Quốc, đặc biệt người ngoại quốc viết càng không đúng.

Vi chính lấy “đức” làm gốc, lại dùng học để bồi dưỡng giáo dục tinh thần đôn hậu ôn nhã của “thi,” đây không phải là đã chuẩn bị đầy đủ điều kiện cho vi chính sao? Không phải. Mà là giống như một người quân nhân, các loại lý luận tư tưởng quân sự cổ kim đông tây đều học kỹ càng, nhưng đến súng bắn thế nào cũng không biết, binh nhất binh nhì là thế nào cũng không hiểu, loại người này cùng lắm chỉ có thể làm tham mưu, tuyệt đối không thể dẫn binh ra chiến trường được. Do đó phong thái hành văn của “Luận ngữ,” nhẹ nhàng chuyển, đem lời tự bạch giản lược của Khổng tử cho vào đây. Cũng là nói với chúng ta, đạo lý của vi chính chính là cần thấu hiểu một cách chân chính về nhân tình thế cố.

Tôi từng nói qua, các loại tư tưởng chính trị trên thế giới tổng kết lại, bất kể là của Trung Quốc hay thế giới, điểm trọng yếu nhất, ở bốn chữ “an cư lạc nghiệp.” Bất kỳ tư tưởng, lý luận chính trị nào, đều chưa vượt qua phạm vi của bốn chữ này; đều không có ngoại lệ mà hướng đến làm sao để khiến con người có thể an cư, có thể lạc nghiệp. Đồng thời chúng ta ở nông thôn đến đâu cũng có thể thấy câu “phong điều vũ thuận, quốc thái dân an.” Tám chữ này, theo cách nhìn của người ngày nay, thấy vô cùng cổ. Nhưng trong lịch sử cổ kim đông tây, nếu thật sự có thể đạt đến cảnh giới 8 chữ này, đối với bất kỳ quốc gia nào, dân tộc nào, thời đại nào mà nói, vô luận là lý tưởng chính trị gì thì cũng là cũng đạt được rồi. Mà mấy câu cổ này, chính là đã thấu triệt tư tưởng triết học chính trị do nhân tình thế cố sinh ra.

(i) Nhân tình thế cố -人情世故 – rén qíng shì gù (lại là 1 câu của Văn thiên Tường; cố có nghĩa là việc; đây là chỉ kinh nghiệm, đạo lý, phương pháp xử thế làm người).

[Lời bàn của YL]

Hihi, đúng là “thiên mệnh” là danh từ con người đặt cho những thứ mình không đạt được, nhưng giới hạn của thiên mệnh là gì, không ai nói được. Vì thế để tri thiên mệnh, chắc là việc không tưởng.

Đùa vậy thôi, theo cách hiểu cụ Tiền Mưu, có vẻ cái gì cũng là thiên mệnh. Thiên mệnh ở khắp mọi nơi (hơi giống với khái niệm Đạo trong Đạo học). Thiên mệnh là giới hạn, là đạo, là đạo nghĩa. Như thế càng trừu tượng nữa, khác gì bảo cái gì cũng biện chứng :-P.

Các nhà Nho, có vẻ cũng tránh bàn sâu về thiên mệnh (hoặc là vì bàn không ra được, mà ai cũng không muốn tỏ ra nói nhiều, cái văn hóa đề cao chữ “ngộ” nó khổ thế :-P).

Cụ Tiền Mưu đúng là đặt Luận ngữ lên bàn thờ mà thờ, chết chết, lại cho là Khổng tử/Nho giáo cao hơn các loại tôn giáo khác.

Nho học thiên về dạy đạo đức, luân lý, nhưng lại bỏ qua các vấn đề triết học cơ bản, ví dụ như bàn cãi cho ra nhẽ thiên mệnh là gì và vị trí của thiên mệnh trong mối quan hệ với các khái niệm khác. Mà tác động của việc thiếu đào sâu phân tích, thiếu tranh luận “cho ra nhẽ,” dẫn đến cái gì cũng mơ mơ hồ hồ (hay còn gọi là trừu tượng??? cao siêu???), thiếu lập luận chặt chẽ. Ngay như cụ Tiền Mưu mỗi chỗ cũng quan niệm thiên mệnh một khác, tổng hợp lại cứ thấy tù mù, ý tứ đá nhau chan chát….

 

Khách chí – Đỗ Phủ

Thấy bài này hay, nên chép lại đây. Thích nhất là câu thứ 3+4. Nguồn: thivien.net

Không biết có ai rỗi, khi nào đó check lại phần dịch hộ mình không??? 🙂

客至

舍南舍北皆春水,
但見群鷗日日來。
花徑不曾緣客掃,
蓬門今始為君開。
盤飧市遠無兼味,
樽酒家貧只舊醅。
肯與鄰翁相對飲,
隔籬呼取盡餘杯。

Bản giản thể

舍南舍北皆春水,
但见群鸥日日来。
花径不曾缘客扫,
蓬门今始为君开。
盘飧市远无兼味,
樽酒家贫只旧醅。
肯与邻翁相对饮,
隔篱呼取尽杯。

Khách chí

Xá nam xá bắc giai xuân thuỷ,
Ðãn kiến quần âu nhật nhật lai.
Hoa kiến bất tằng duyên khách tảo,
Bồng môn kim thuỷ vị quân khai.
Bàn tôn thị viễn vô kiêm vị,
Tôn tửu gia bần chỉ cựu phôi.
Khẳng dữ lăng ông tương đối ẩm,
Cách ly hô thủ tận dư bôi.

Dịch nghĩa

Phía nam, phía bắc nhà toàn là nước xuân,
Chỉ thấy những con chim âu ngày ngày bay tới.
Trước đây chưa từng có vì khách nào mà quét đường hoa,
Bây giờ mới vì bạn mà mở cửa cỏ bồng.
Mâm cơm chiều, vì chợ xa nên không có hai món trở lên,
Chén rượu, vì nhà nghèo nên chỉ có rượu cũ chưa lọc.
Thôi đành đối ẩm với lão hàng xóm,
Cách rào, gọi mang ra hết chén rượu còn lại.

Bản dịch của YL

Bên nam bên bắc nước xuân vầy

Chỉ thấy bầy cò vẫn lượn bay

Vắng khách ngõ hoa nào biết quét

Đợi ai cổng cỏ mở hôm nay.

Mâm chiều xa chợ không nhiều món

Ly rượu nhà nghèo chút vị cay

Cùng lão láng giềng vui đối ẩm

Cách rào gọi lấy chén ra bày.

Hàn

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.3

2.3. 子曰:“道之以政,齐之以刑,民免而无耻,道之以德,齐之以礼,有耻且格。”

Zǐ yuē: dào zhī yǐ zhèng, qí zhī yǐ xíng, mín miǎn ér wúchǐ, dào zhī yǐ dé, qí zhī yǐ lǐ, yǒu chǐ qiě gé.

Tử viết: đạo (1) chi dĩ chính, tề (2) chi dĩ hình, dân miễn (3) nhi vô sỉ (4), đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách (5).

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 道 – dào – đạo: có hai cách giải thích: một là “dẫn đạo” – dẫn dắt lãnh đạo; hai là “trị lý” – cai trị xử lý. Ý đầu so ra thỏa đáng hơn.
  2. 齐 – qí – tề: chỉnh tề, ước thúc, quản thúc.
  3. 免 – miǎn – miễn: tránh khỏi.
  4. 耻 – chǐ – sỉ: lòng hổ thẹn.
  5. 格 – gé – cách: có hai cách giải thích: một là “chí” –đạt đến, rất; hai là “chính.”

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Dùng pháp chế cấm lệnh để dẫn dắt bách tính, dùng hình pháp để quản thúc họ, bách tính chỉ mong tránh phạm tội chịu trừng phạt, nhưng mất đi lòng liêm sỉ; dùng đạo đức giáo hóa dẫn dắt bách tính, dùng lễ chế để thống nhất ngôn ngữ hành vi của bách tính, bách tính không những có lòng liêm sỉ, mà còn giữ gìn quy củ.”

[Bình luận- Dương Bá Tuấn]

Trong chương này, Khổng tử nêu ra hai hai phương kế trị quốc khác nhau rành rành. Khổng tử cho rằng, hình phạt chỉ có thể khiến con người tránh phạm tội, không thể khiến họ hiểu được đạo lý là phạm tội đáng hổ thẹn thế nào, mà đạo đức giáo hóa so với hình phạt cao minh hơn nhiều, có thể khiến họ tuân thủ pháp luật quy củ, lại có thể khiến họ có lòng biết được thế nào là hổ thẹn. Điều này phản ảnh điểm đặc biệt của đạo đức trong việc trị lý quốc gia so với pháp chế. Nhưng cũng nên chỉ ra rằng: tư tưởng “vi chính dĩ đức” của Khổng tử, xem trọng đạo đức là cần thiết, nhưng lại xem nhẹ tác dụng của hình chính, pháp chế trong trị quốc.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu] 

道之以政- Đạo chi dĩ chính: chi – chữ chỉ người dân; đạo – nghĩa là lãnh đạo, dẫn dắt. Lấy chính sự mà lãnh đạo dân chúng, chính là cư thượng lâm hạ (ở trên cao nhìn xuống), pháp chế cấm lệnh, không thể thâm nhập vào lòng người.

齐之以刑- Tề chi dĩ hình: lãnh đạo mà nhân dân không theo, dùng hình phạt để khiến họ quy củ, dân biết là (lãnh đạo) có uy, nhưng lòng không được cảm hóa.

民免而无耻- Dân miễn nhi vô sỉ: miễn: muốn miễn bị phạt. Sỉ, lòng “sỉ” có điều bất cập (không tốt).  Chỉ nhanh tìm cách miễn bị hình phạt, lòng không có chút xấu hổ, không cảm giác gì mà tự thay đổi.

道之以德 – đạo chi dĩ đức: đức, là nhân cách và tâm địa của bản thân của người ở phía trên, dùng những phẩm chất này để lãnh đạo, mà người với người, tâm với tâm tương cảm tương thông, khác xa với việc ở trên cao mà nhìn xuống.

齐之以礼- tề chi dĩ lễ: lễ, là chế độ/hệ thống phẩm cách. Người người đều tuân thủ theo hệ thống phẩm cách, cũng đem lại hiệu quả là dân đi vào quy củ. Nhưng theo lễ, khác với dùng hình. Bản chất của lễ là ở chỗ hai bên tình ý tương thông, do tình cảm mà ra, không phải do sợ hãi.

有耻且格- hữu sỉ thả cách: cách, nghĩa là rất, (đạt đến) cùng cực. Người ở trên  dùng đức cảm hóa quần chúng, lại có thể lấy lễ để dân đi vào quy củ, người ở dưới tự biết đến lòng hổ thẹn, mà muốn đạt được như người trên. Cách còn có nghĩa là “chính” (đúng, thích đáng, hợp lẽ) như trong cách thức, quy cách. Người ở dưới có điều hổ thẹn, tất cố gắng đạt được tiêu chuẩn mà người ở trên định ra. Hai nghĩa tương thông với nhau.

Lý tưởng chính trị của Khổng môn, chủ về đức hóa, lễ trị. Chương này phát huy sâu sắc ý nghĩa của nó. Đại khái nhân đạo (đạo của con người) là ăn ở với nhau hòa bình, bình đẳng, đạo lý tương thông. Điều chủ chốt của nhân đạo này là ở tại tâm. Giáo dục chính trị, đạo của nó là nhất quán, sự việc có thể khác nhau nhưng đều theo một hướng chúng. Đây cũng là ý nghĩa xuyên suốt của Khổng môn, tuy cổ kim thời đại khác nhau, nhưng đạo này không thể vi phạm.

Khổng tử nói: ‘Dùng chính trị để lãnh đạo dân, dùng hình pháp để đưa dân vào trật tự, dân chỉ muốn tránh hình phạt là được, không cảm thấy việc không phục tùng lãnh đạo là đáng hổ thẹn. Nếu đem đức để lãnh đạo dân, đem lễ để đưa dân đi vào trật tự, trong lòng ai cũng cảm thấy vi phạm lãnh đạo là điều hổ thẹn, tự có thể đạt được một cách chính xác những gì người ở trên muốn lãnh đạo họ để đạt tới.’ 

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Tử viết: đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ, đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách.

“Đạo” này là đạo trong lãnh đạo. Ở phần trước chúng ta vừa mới chỉ ra, Khổng tử bàn luận về vi chính, không phải là nói về chính trị, dùng quan niệm hiện đại miễn cưỡng mà nói, Khổng tử bàn luận là về triết học chính trị, hoặc là nguyên lý của chính trị. Khổng tử nói lãnh đạo một quốc gia, một xã hội, nếu như dùng chính trị thể chế để lãnh đạo, lại dùng pháp chế để quản lý, “tề chi dĩ hình,” khiến cho mọi người không phạm pháp, phạm pháp liền bị phạt. Nhưng dùng pháp chế để quản lý nhân dân, một mặt “dân miễn” (dân tìm cách để miễn bị tội), ai cũng sẽ trốn tránh, tìm lỗ hổng của luật pháp, hơn nữa họ trốn tránh được trách nhiệm, pháp luật và xử phạt, còn tự đắc ý (i), cho rằng anh chẳng làm gì được họ, không có chút lòng hổ thẹn nào. Điều này cùng với lời giảng của Lão tử của Đạo gia về “法令滋彰,盗贼多有” – “pháp lệnh tư chương, đạo tặc đa hữu – pháp luật càng dày đặc, đạo tặc càng nhiều – đạo lý như nhau.

Do đó Khổng tử lại nói: “đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách.” Giả dụ dùng đạo đức để lãnh đạo, mỗi người dân đều có hàm dưỡng đạo đức, “tề chi dĩ lễ,” lấy lễ giáo hóa. Đây là nói đến tinh thần lễ nghĩa, mọi người đều tự động tự phát, nếu như làm sai, có lòng hổ thẹn, như thế khiến người người  đều có liêm sỉ, không dám làm việc thiếu đạo đức, không cần đợi đến pháp luật chế tài, tự bản thân đã thấy vô cùng khó chịu, đây chính là có liêm sỉ. Đạt đến cảnh giới này, tất “thả cách,” chính là đạt được mục tiêu của chính trị. Do đó Khổng tử chủ trương dùng chính trị đạo đức, cảm hóa đạo đức, đây chính là chỗ bất đồng giữa tinh thần Nho gia và Pháp gia. Tuy nhiên, chính trị Trung Quốc, trước nay vẫn luôn là Đạo gia, Nho gia, Pháp gia kết hợp với nhau.

(i) Nguyên văn: Tự minh đắc ý -自鳴得意 – zì míng dé yì (tự cho mình là hay, biểu hiện đắc ý; hình dung tự tán thưởng bản thân)

[Lời bàn của YL]   

Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức vốn là rất hay nhưng cũng rất phức tạp, tiếc là các nhà bình luận về Luận ngữ không đi sâu vào. Có lẽ phải đọc các sách mang tính tổng kết và phân tích, hoặc các sách so sánh đối chiếu giữa Nho gia và Pháp gia, hoặc các sách đi sâu vào từng khái niệm cụ thể như đạo đức, pháp luật, lễ, hình? Nhìn từ góc nhìn kiến tạo, đạo đức phần nhiều được thể hiện trong pháp luật, mà pháp luật cũng góp phần xây dựng nên các chuẩn mực đạo đức, hai phạm trù này không nhất thiết nằm trong mối quan hệ đối lập nhau như cách nhấn mạnh ở đây. Tất nhiên, cần lưu ý rằng, Nho gia có khái niệm “lễ” đi kèm với đạo đức, mà ý nghĩa bao hàm cả luật pháp, như một chương nào đó trong thiên Học nhi đã đề cập đến, mỗi tội “lễ” có vẻ thiếu đi sự răn đe của “hình.”

Hàn

Ghi lại đôi dòng nhân Kỷ niệm 6 năm thành lập blog

Blog này được dựng lên khi các chủ nhà mỗi người một phương trời, đeo đuổi một số thứ phù phiếm và hại não. Vì cái hoàn cảnh éo le đấy, mà những lần kỷ niệm blog lần thứ nhất, thứ hai, thứ ba, đã diễn ra trong không khí vô cùng hoài niệm và trang nhã, ví dụ như dịch 1 bài thơ, viết một bài bình để kỷ niệm (ở hậu trường thì cũng có hò hét, ép uổng, nhắc nhở, giở quẻ. Haiz, in defence các công tác hậu trường, ai bảo một vị chủ nhà này là 1 con vẹt họ Hứa làm chi).

Đến năm nay, trong không khí tưng bừng của kế hoạch nghỉ lễ 30/4- 1/5 ở quê nhà, trong tâm trạng phấn khởi vì blog ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, bất chấp 6 năm sóng gió điên đảo, chịu đựng cảnh khi vồ vập khi ghẻ lạnh, khi ôm ấp khi hững hờ của các chủ nhà mắc chứng bipolar disorder, multi-personality disorder  vân vân và vân vân… các chủ nhà đã có một buổi kỷ niệm vô cùng nhiệt huyết, vô cùng hào hứng, và vô cùng xôi thịt ở quán cơm gà Hải Nam-  một món ăn mà theo phân tích process-tracing của một vị là có nguồn gốc từ đảo Hải Nam TQ, được truyền sang và thành phổ biến ở Malay, nhưng thế quái nào lại về tay các bạn Sing.

Nhân dịp 6 năm, mặc dù vẫn hoan nghênh tinh thần Hứa, Hứa nữa, Hứa mãi của Hứa thị nhưng cũng hy vọng là những ai kia sẽ thực hiện lời hứa hihihi.

Hàn

Cô Nhạn – Thôi Đồ

Lâu lắm mới vào viết post, thấy ngay cái avatar đã bị thay thành 1 bó hoa tập tàng >_< hix dạo này lại có người yêu hoa cuồng nhiệt T_T
Thực hiện lời hứa, cho xứng với cái tên của mình, hôm nay Hứa mỗ đặc biệt mở Đường Thi 300 Thủ ra ngắm nghía. Xem qua xem lại toàn những bài nghe rõ là đau thương não nề. Thế là đành nhắm mắt giở đại, trúng bài nào thì trúng… Hix xong ra cái bài nghe não kinh người – thê thảm quá mức. Đành phải post lên vậy (mặc dù thực ra là muốn bốc trúng bài nào hớn hở hơn 1 chút).
Bài này tên là Cô Nhạn, của 1 ông tên là Thôi Đồ, cụ thể như sau:
孤雁
几行归塞尽
念尔独何之  
暮雨相呼失
寒塘欲下迟。
渚云低暗度
关月冷相随
未必逢矰缴
孤飞自可疑。
Phiên âm:
Kỷ hàng quy tái tận,
Niệm nhĩ độc hà chi
Mộ vũ tương hô thất,
Hàn đường dục hạ trì.
Chử vân đê ám độ,
Quan nguyệt lãnh tương tuỳ.
Vị tất phùng tăng chước,
Cô phi tự khả nghi.
Dịch nghĩa:
Con Ngỗng trời Cô độc
Mấy hàng đã bay xa khỏi biên tái (biên giới)
Tại sao ngươi lại còn một mình làm gì thế
Trong mưa chiều kêu gọi đồng bạn
Muốn chậm chạp đáp xuống hồ nước lạnh ngắt
Tầng mây trên bãi cạn là là bay qua
(Nhưng) chỉ có vầng trăng lạnh nơi biên quan là cùng với ngươi.
Chưa chắc là sẽ gặp phải cung tên
Nhưng bay một mình khó tránh làm cho lòng người nghi ngại (giùm)./.
Bài thơ này được đánh giá khá cao về mặt nghệ thuật, bởi vì cả bài toát lên được tình cảnh đơn côi của một con ngỗng trời đơn độc (cô nhạn) nhưng chỉ dùng 1 chữ “độc” câu đầu và 1 chữ “cô” ở câu cuối. Những câu còn lại ko trực tiếp miêu tả con ngỗng, nhưng đều toát lên sự đơn độc của nó (đọc thấy tội nghiệp quá trời 😥 )
Bài thơ có thể là một ẩn dụ, từ sự quan tâm trắc ẩn của tác giả đối với tình thế cô độc của con ngỗng, với một tương lai khá mịt mờ, nguy hiểm, người ta có thể liên tưởng tới đây là tác giả đang tự thương cảm cho tình cảnh của chính mình.
Thôi Đồ, thời Mạt Đường, thân thế không ghi chép lại được gì nhiều, chỉ biết là đã từng đỗ tiến sỹ. Tác phẩm để lại ko được mấy, nổi tiếng nhất là bài Trừ Dạ Hữu Hoài aka Ba Sơn Đạo Trung Trừ Dạ Thư Hoài (Hoài cảm Đêm Trừ tịch trên Đường đi Ba Sơn) – khiếp bài này cũng toát lên cái không khí cô độc lẻ loi y hệt cái bài Cô Nhạn ở trên. Có lẽ ông này đã từng là một đồng thanh đồng khí đồng chí antisocial với 1 số người nhất định 😛
巴山道中除夜书怀
迢递三巴路,
羁危万里身。
乱山残雪夜,
孤烛异乡春 (có bản chép là 人)
渐与骨肉远,
转于僮仆亲。
那堪正漂泊,
明日岁华新。
Ba San Đạo trung Trừ Dạ Thư Hoài
Điều đệ Tam Ba lộ,
Ki nguy vạn lí thân。
Loạn san tàn tuyết dạ,
Cô chúc dị hương xuân (nhân)。(*)
Tiệm dữ cốt nhục viễn,
Chuyển vu đồng phó thân。
Na kham chánh phiêu bạc,
Minh nhật tuế hoa tân.
Dịch nghĩa
Tam Ba đường sá xa xôi quá chừng (**)
Thân tôi phải đi trên vạn dặm hiểm nghèo
Trên những ngọn núi ngổn ngang ban đêm tuyết đọng lại phát ánh sáng
Ngọn nến đơn độc đêm xuân nơi đất khách (người nơi đất khách)
Càng đi xa cách người thân cốt nhục
Càng chuyển qua dần thân thiết với đứa hầu nhỏ
Không chịu được cảnh phiêu bạc nữa
Hôm sau là năm mới (hy vọng là hết cảnh phiêu bạt này)./.
Giải thích
(*) Haizzz cái này nhờ người đồng chí check lại jup 😛
(**) (Tam Ba, Ba San, Ba Thục aka Tứ Xuyên ngày nay)
———
Cách giải nghĩa của 2 bài này chủ yếu dựa trên baidu (hehe, ko bảo đảm chính cmn xác nhé, nhưng lười check nhiều nguồn khác quá)
Bài Trừ tịch hữu hoài rất nổi thì phải, có nhiều tiền bối đã dịch, có thể xem tại đây.
Hix đọc xong mấy bài mà rầu rĩ.
Chờ bản dịch.
……………
Hứa
[Bản dịch ngũ ngôn của YL]
Cô nhạn
Mấy đàn xa cuối ải
Sao lẻ ngươi nơi này
Lạc giọng chiều mưa xối
Bên đê lạnh gượng bay
Mây là trên bãi cạn
Trăng quạnh giữa đêm dày
Tên bắn chắc đâu gặp

Một thân đáng ngại thay.

Hàn
followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Rie's Bento & Cooking

in healthy way with Love

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: