Tử đằng thụ – Lý Bạch

Hoa tử đằng

紫藤树

紫藤挂云木,
花蔓宜阳春。
密叶隐歌鸟,
香风留美人。

Hán Việt:
Tử đằng quải vân mộc
Hoa mạn nghi dương xuân
Mật diệp ẩn ca điểu
Hương phong lưu mỹ nhân.

Dịch nghĩa:
Tử đằng quấn quanh cây cao đến mây
Hoa nở lan ra trong ngày xuân ấm vô cùng đẹp
Giữa đám lá dày có chim ca hát
Gió đưa hương làm mỹ nhân lưu luyến.

Hàn

Advertisements

Phim review: Như Ý Truyện

Vốn không có định xem phim cung đấu, nhất là thời Thanh, mà dạo này cũng chan chán phim dài tập lê thê… Nhưng chắc do tính háo thắng nên quyết phải xem (và phải bênh) Như Ý Truyện, vì thấy thiên hạ tung hê Diên hy công lược gì đó quá xá.

(Ngoài lề: Về Diên hy công lược, xem dc đâu tầm chục tập lúc mới chiếu, vừa xem vừa kéo, mới đầu ko thấy ghét gì, nhưng xem 1 lát thì thấy nhàm chán, và đúng kiểu phong cách phim thím Vu: trang phục qua quít, ngày xưa thì màu mè mù mắt người ta, giờ thì giả vờ đơn sơ trang nhã, nhưng nhìn rẻ quá nên ko ưng; lại thêm vụ filter xam xám cho nó nghiêm túc mới ghê; nội dung thì k bàn, vì ko xem, nhưng thấy buff hoàng hậu như thiên thần (các loại slow motion, đặc tả này nọ lung linh cả lên), buff em nô tì như chiến thần (bạ ai cũng đấu, bạ ai cũng cãi nhem nhẽm, ko biết sợ là gì, hỗn hào kinh lên được!!!!)… thấy điêu điêu. Mà nghe nói còn đạo cốt truyện của Như Ý (và cải biên ngược lại) nên càng ko quan tâm; về nhan sắc, trừ mỗi bà hoàng hậu thì thấy còn ok, còn thì xấu cả dàn – nhất là em quý phi, em nữ chính, và chị Xa thi mạn, nhìn như thái hậu…; diễn xuất thì có 1 từ thôi, gọi là over-act, nói chung là phong cách phim hành động, mọi thứ đều mạnh bạo (hehe trừ chị hoàng hậu thiên thần, giơ tay nhấc chân đều như slow motion 😛 )

Nói đến Như Ý Truyện, thú thực là ta cũng tò mò nó từ ngày nó mới lên form, chọn danh sách diễn viên, cũng quan tâm các đợt tung posters này nọ…

Xong là chiếu dc vài tập thì bị anti chê rầm trời, nào là lòe loẹt, nào là Châu Tấn già như bà nội, nào là diễn biến chậm chạp nhàm chán…  Thế nên quyết định xem thử…

Xem tập 1: ok, c Tấn nhìn hơi botox 1 tẹo, nhưng cũng ko già lắm, nét mặt xinh… mấy chị em nữ phụ xinh

Tâp 2 tập 3 gì đó: cảnh đám cưới: lúc này mới thấy nổi trội cái sự già của c Tấn – cái màn váy đỏ động phòng, èo ơi, k biết ai làm phục trang makeup mà xấu điên người + cái giọng trầm như bà cố nội của c Tấn thỏ thẻ trong đêm, tụt mood kinh khủng. Nhất là trong bối cảnh chị Đổng Khiết già nhưng ko quá lộ, vì nét khá xinh, và em họ Cao bản sao Chương Tử Di xinh lung linh, đẹp số 1 số 2 của phim luôn, cái sự già của c Tấn nó lại càng nổi bần bật…

Cố xem thêm một vài tập nữa… hihi lạ lùng là, dần dần mấy tập sau lại thấy c Tấn xinh ra (ko biết là do c ấy xinh hơn thật, hay là do ảo giác tự kỷ ám thị), nhất là những khi chị ấy makeup nhẹ nhàng đơn giản, giọng nói cũng ko chướng tai, nghe bình thường lại. Chị Tấn diễn xuất thì đúng là quá hay luôn, tự nhiên tự tại, diễn mà như không diễn. Thôi nói thế thui, ai hứng thú thì xem để cảm nhận.

Điểm gút mắc nhất của phim là nhan sắc và giọng nói của chị Tấn cuối cùng ta cũng vượt qua được… Cẩn thận xem kỹ cái phim này, quả thực quá nhiều điều để khen luôn, cảm thấy phim này bị thiệt khi Diên Hy chiếu trước, giành 1 lượng fan lớn nên rất nhiều khán giả tự động có cái nhìn không thiện cảm với Như Ý Truyện (chưa kể các techniq anti dìm hàng của thím Vu hehe, làm phim đấu đá hậu cung riết hồi quen luôn mấy tiểu xảo đấu đá nhau). Mặc dù hiện tại ta đã phải ngừng ở tập 20, chỉ xem ảnh và review, để giành nó dài dài rùi xem 1 thể, chứ không lại bị lên cơn nghiện giữa chừng mà k có thuốc thì lại dễ đứt T_T.

Ở đây xin điểm qua một vài điểm tâm đắc của cái phim này:

  • Về nội dung: chưa xem, chưa đọc truyện nên k biết như nào, nhưng với việc tác giả kịch bản/tiểu thuyết chính là của Chân Hoàn đình đám một thời + nội dung rất tốt trong mấy chục tập đầu => ta có lòng tin rất lớn về nội dung của truyện cả về tính hấp dẫn và tính logic.
  • Về trang phục và đạo cụ: phải nói là các anti đã làm quá tốt công tác dìm hàng – chửi phim dành nhiều tiền trả cat-sê và làm công tác đạo cụ sơ sài, dẫn đến 1 loạt các lời chê từ người xem. Hơi buồn một chút, những người chê, thực tình, đều có thể xếp vào loại không xem nhưng cứ chê cho sướng miệng, hoặc có xem nhưng dễ bị dao động, thấy ngta chê thì mình đành tặc lưỡi chê. Ta đã cất công đi mò ảnh ọt, xem lại các phim khác của thời thanh, từ các loại “chính kịch” hoặc được đầu tư xịn như Chân Hoàn, Bộ Bộ, hoặc các phim màu mè của Vu Chính (Cung series), các phim thời cũ đình đám, thậm chí các phim 3 xu, thì thấy quả thực càng ngày người ta làm trang phục phim thời Thanh càng đẹp. Diên Hy làm khá độc đáo (chỉ phải cái hơi đơn sơ nghèo nàn, vài bộ thấy hơi rẻ tiền, fake), Bộ Bộ đẹp trang nhã, Chân Hoàn đẹp sáng sủa (nhưng hơi màu mè). Sang đến Như Ý, quả thực hơi màu mè nhưng ko bằng Chân Hoàn, có nhã nhặn nhưng không bằng Bộ Bộ, có điều hơn cả 2 bộ phim này ở mức độ chỉn chu: áo quần, thêu thùa, các loại trang sức đội đầu, các style ăn mặc… tất cả đều cho thấy sự nghiên cứu công phu và đầu tư nghiêm chỉnh. Tất nhiên là chắc chắn là trang phục của phim sẽ không giống hệt lịch sử rồi, vì thời nay làm thì sure là đẹp hơn, tinh xảo hơn… cho nên cả phim toát lên cái sự giàu có xa xỉ của triều đình 😛 (ko biết có khoa trương quá không, hồi ý có giàu sang ghê gớm như thế ko, mà thôi kệ, đẹp là xem thôi)… Người làm trang phục là 1 sư phụ kêu là Trương Thúc Bình, ông này làm bao phim, bao đẹp, chê ông này nữa thì ko biết là còn khen ai bây giờ!!!
  • Đấy, đạo cụ còn chưa nói đến, mọi thứ đều rất tinh xảo, nhìn là thấy tốn kém!!! . Cảnh trong nhà, cảnh ngoài trời đều tinh vi, chỉn chu, hoặc hoành tráng đúng tầm, hợp cảnh hợp tình. Hix, thấy họ đầu tư thế, mà nếu flop cũng thấy tội, mà flop vì nội dung phim dở thì còn ok, chứ bị chê vì phim thiếu đầu tư thì đúng là nhắm mắt chê bừa. (Trong bối cảnh này, xin có lời chia buồn với phim Hoàng Quyền – định xem mà lười nên chưa xem, xem ảnh và các đoạn trích thì thấy đây cũng là một phim đầu tư chỉn chu đến từng chi tiết, mà nghe nói nội dung cũng rất hóc búa, hix hix thế mà lại bị flop dập mặt… haizzz quả thực thời nay, dân số trẻ trâu chiếm đa số, chắc là khán giả chỉ muốn xem phim ngôn tình yêu đương là chính, mấy cái phim nghiêm túc, khó nhằn này hơi kén ngwoif xem)
  • Về diễn xuất: về cơ bản là ko cảm giác bị sạn, bị khó chịu. Cả dàn diễn viên diễn mượt mà, đều đặn. Đặc biệt không có tình trạng bị overact như một số phim (ví dụ Diên Hy có em nữ chính, em Cao, em Hoàng hậu, và cả ông vua, đóng đôi khi cứ làm quá mọi thứ lên, xem thấy mệt mệt).

Phim này có anh Hoắc bị chê là đơ 😛 hihi anh này hình như phim nào cũng bị chê là đơ thì phải (mặc dù ta ít khi xem ảnh đóng, tại thấy k đẹp ý). Đến nay thì vẫn thấy tạm ổn, chấp nhận dc, thậm chí là khá hợp vai, vì mặt anh này toát lên cái sự gian xảo và bạc tình 😛 rất phù hợp với nhân vật Càn Long ở trong phim này. Đúng kiểu gặp em nào cũng thị tẩm được, ko có kén chọn, mà thực ra lại ko yêu em nào cả 😛Lác mắt với phục trang cầu kỳ của NhÆ° Ý truyện: Những ai chê Châu Tấn - Hoắc Kiến Hoa mặc xấu phải nghÄ© lại!  - Ảnh 5.

  • Chị Chân Hoàn thì đúng là toát lên cái sự cục súc, nhỏ nhen và xấu tính hahaha ko biết trong phim cũ thì như nào nữa, nhưng phim này c ấy xấu tính quá (đúng kiểu xuất thân từ nhà thường dân hay sao ý, tính tình hay so đo nhỏ nhặt kinh khủng). Chị Chân Hoàn hút thuốc phiện 😛

Đừng tìm Chân Hoàn trong Như Ý Truyện nữa, vì Chân Hoàn ngày xưa chết rồi! - Ảnh 1.

Chị Như Ý: xinh (mặc dù đôi khi mặt hơi botox và bị lộ sự già huhuhu, nhất là hai tập đầu lại nhìn già nhất, nên đã đuổi đi một cơ số lớn người xem 😛 ), diễn hay,  tính cách nhân vật ổn (ý là phù hợp với xuất thân và thời đại của chị ấy), trước mắt chưa có gì chê, mà giang hồ cũng chỉ chê dc cái sự già của chị ấy, chứ cũng k chê dc gì hơn. Nói đến đây mới thấy hài – chị Xa Thi mạn thì ko ai chê một chữ, trong khi nhìn chị Xa như lớp thái hậu thái phi trong dàn phi tần!!! Chính ra chị Tấn tuy thấy nếp nhăn nhưng nét mặt lại nhỏ, nhìn ko bị thô như chị Xa.

Ảnh chị Tấn cropped trong phim, đại khái nó hơi bụp bụp thế, trang điểm nhạt thì xinh hơn (lên poster thường là pts nhẵn rùi)

Như Ý - Châu Tấn đụng độ Chân Hoàn: Cặp mẹ chồng - con dâu ghê gớm ai cũng chào thua  - Ảnh 8.

Image result for châu tấn như ý

Chị Xa Thi Mạn trong Diên hy, nhìn như mẹ của các phi tần luôn (lên phim còn filter đi rồi)

Image result for xa thi mạn diên hy

Related image

Image result for xa thi mạn diên hy

  • Một điểm đặc biệt đáng yêu của phim là thế quái nào mà hầu như các nhân vật “ác” đều đáng yêu 😛 (mà chị Tấn sau này cũng “ác” thì phải). Ko nói tới em Hải Lan (“ác” của phe chị Tấn nên tự động được đặc cách là “chính diện”), em Tuệ phi mang danh sủng phi, đẹp hoàn hảo không góc chết (nhìn như Chương tử di lúc trẻ), phong cách xa hoa, tính tình lanh chanh kiêu căng nhưng lại rất cute và ngu ngơ (được chiều quá nên tính tình giản đơn) (ẻm chết làm bao nhiêu fan sùi sụt); em Gia phi đến từ Triều Tiên cũng gần không góc chết (chọn 1 chị nhìn rất Hàn xẻng), vừa đẹp, vừa có cái điệu diễn xuất “điêu” ơi là điêu, nhìn mấy ẻm làm ác mà cứ thấy cute cute, ko thể ghét được. Chị hoàng hậu Đổng Khiết thì đúng kiểu khẩu phật tâm xà, mặt mày tròn trịa đúng bậc mẫu nghi, hành vi thì lơ đãng toát lên sự nhỏ nhen, nhưng đoạn con chết diễn hay 😛 Mấy chị em trong hậu cung mỗi người một vẻ, một tính cách đặc biệt của mình… Dĩ nhiên là có mấy em sẽ khiến ng xem ác cảm, đóng rất đạt, em A Rùa, em Mai tần… em Lệnh phi sau này sẽ do 1 em chuyên trị vai phản diện đóng, cho nên ko thể ko mong đợi.

 

Làm nhiều điều ác, vì sao Cao Quý phi của Như Ý Truyện và Diên Hi Công Lược vẫn được khán giả yêu mến? - Ảnh 4.

Đỏ mặt với màn nhảy múa quyến rũ Hoắc Kiến Hoa của chị gái bán sâm - mỹ nữ đẹp nhất Tử Cấm Thành  - Ảnh 1.

Lệnh Phi Ngụy Yến Uyển à, nàng sống thế nào mà hết Phú Sát Lang Hoa hành hạ rồi đến Gia Phi cho ăn hành như này chứ? - Ảnh 1.

Phim cũng khắc họa cuộc sống khá cute trong phim, hằng ngày đi vấn an cấp trên tiện thể chửi nhau rôm rả, vấn an xong thì chia phe tụm 5 tụm 3 đi về từng hang ổ, cắn hạt dưa hoặc ăn vặt, thanh cao hơn thì vẽ vời thư pháp đồ, vừa ăn/vẽ vừa tính kế âm mưu dương mưu…

Về cái theme của bộ phim, thú thực là cũng chưa đọc truyện nên cũng ko biết như nào, cơ mà đọc tóm tắt thì thấy có vẻ phim cũng như Chân Hoàn, nói về hoàn cảnh và cuộc sống phái nữ thời phong kiến, ko có tình yêu, hoặc có thì cũng sớm muộn bị hiện thực làm cho sáng mắt, chỉ có đấu tranh, quyền lực, tính kế cho đến giây phút cuối cùng, thậm chí lấy cái chết để mà tính kế đối thủ. Phim không có couple, nên anh Hoàng thượng xấu bụng diễn đơ cũng ko ai tiếc, nữ chính không happy ending với nam chính mọi người cũng không hụt hẫng.

Nói chung, đây là một phim tốt xem để luyện trí óc, ngắm nghía các thành tựu văn hóa, ghi nhận thêm 1 vài giả thiết đối với lịch sử lúc đó, hoặc ai trình cao hơn, suy ngẫm này nọ về nữ quyền về nhân quyền thì cũng khá ổn.

Trước mắt thấy ưng, đánh giá 8.5/10 điểm hihihi. Hy vọng ko bị đầu voi đuôi chuột 😛

 

Anh ca

 

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.11

子曰:“温故而知新(1),可以为师矣。”

Zǐ yuē:  “wēn gù ér zhī xīn, kěyǐ wéi shī yǐ.”

Tử viết: “Ôn cố nhi tri tân (1), khả dĩ vi sư hĩ.”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 温故而知新 – wēn gù ér zhī xīn – ôn cố nhi tri tân: cố, đã qua rồi; tân, tri thức vừa mới học được.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “lúc ôn tập kiến thức cũ, có thể có lĩnh hội mới, phát hiện mới, thì có thể làm thầy giáo được vậy.”

[Bình giải – Không rõ của ai]

“Ôn cố nhi tri tân” là một trong những cống hiến trọng đại của Khổng tử đối với nền giáo dục học nước ta, ông cho rằng, không ngừng ôn tập kiến thức đã học được, từ đó có thể có được kiến thức mới. Phương pháp học tập này không những trong thời kỳ phong kiến có giá trị, mà hiện nay cũng có tính thích ứng không thể phủ nhận. Kiến thức mới, học vấn mới của con người thường là dựa trên nền tảng kiến thức đã học mà phát triển lên. Vì vậy, ôn cố nhi tri tân là một phương pháp học tập hoàn toàn có thể sử dụng được.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

温故而知新 – ôn cố nhi tri tân: ôn, nghĩa là hâm (thức ăn) cho nóng lại. Người hâm đồ dựa vào lửa để nấu chín vật. Người sau phân ra lửa mạnh gọi là 煮- chử- nấu, thổi; lửa chậm gọi là 温 – ôn – hâm nóng, ôn (hâm nóng) giống như tập (học đi học lại, tập đi tập lại) vậy. Căn cứ vào chữ có hai cách giải thích: Một là, những gì nghe được biết được trước đây là cố, những gì mới có được, hiểu được hiện nay là tân. Một cách giải thích khác là: cố như cố sự, điển cố. “Lục kinh” đều thuật lại các chuyện trước đây, nhắc đến tiên vương. Tri tân là thông hiểu các đạo nghĩa lớn trong đó, thông qua xem những thứ do hậu thế viết ra, như của các nhà nho thời Hán.

可以为师 – khảdĩ vi sư: theo giải thích ở trên, luôn ôn tập kiến thứ cũ mà đạt được hiểu biết mới, đây là tâm đắc(i) của người học. Có tâm đắc, những gì học được là của ta, có thể học tức là có thể dạy, xưa gọi là khả dĩ vi sư. Nếu chia ôn cố tri tân thành hai việc riêng nhau, cố là thứ đạt được ở bên ngoài, tân vẫn là thứ đạt được ở bên ngoài, tóm lại là kiểu học thuộc lòng để trả lời câu hỏi. Cái học được bên ngoài, dù kiến thức vô cùng, học thuộc tuy phong phú, nhưng không phải tâm đắc, đã không thể học, thì không thể dạy. Chỉ thành mua rẻ bán đắt để có chút lời, sao đủ để làm thầy? Song tâm đắc cũng không phải là không dựa vào cái gì mà tự sáng tạo ra, mà là từ những kiến thức đã có mà ngộ ra thứ mới, đem trong ngoài mới cũ hợp lại thành một, chỉ như vậy mới có thể được gọi là học. Theo lời giải thích thứ hai, sự vật biến hóa vô cùng, cái gọi là tân, đều là ngày trước chưa trải qua, người thầy nếu không truyền lại (kiến thức cũ), hoặc chỉ ôn cố mà không thể tri tân, thì hẳn sẽ ưu lo vì sự học bị kiệt tận mà đạo bị mất đi. Cho nên duy ôn cố mới có khả năng tri tân, mới có thể đủ điều kiện để làm thầy. Hai cách giải thích này, lời khác nhau nhưng nghĩa là một, người học cẩn thận tham khảo.

Chương này tân và cố hợp nhất, dạy và học hợp nhất, ôn cố cần phải có lòng cầu tri tân, có thể học sau đó có thể dạy, nếu chỉ muốn ghi nhớ, thuộc lòng, không thể biết đến cái mới, thì không đủ để đảm đương việc giảng dạy. Ý nghĩa rất sâu xa thâm thúy.

Tiên sinh nói: “có thể từ ôn tập tri thức cũ mà khai mở, ngộ ra kiến thức mới, là có thể làm thầy vậy.”

(i) Nguyên văn: 心得. Từ tâm đắc này khác với nghĩa tâm đắc người VN hay dùng. Tâm đắc có nghĩa là tri thức lĩnh hội được; trong tim lĩnh hội mà có được.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Câu này, chúng ta đều rất quen thuộc.

Từ văn tự giải thích, mọi người đều biết, ý nghĩa chính là ôn tập quá khứ, hiểu biết hiện tại, thì có thể làm thầy giáo của người khác. Theo giải thích câu chữ bề ngoài, chỉ là như thế thôi, còn trên thực tế chúng ta phải hiểu một bước sâu hơn. “Ôn cố”- nói đến quá khứ chúng ta cần biết, ví dụ như nói về lịch sử TQ, trên dưới năm ngàn năm, 25 bộ sử lớn, rất không dễ dàng, nếu như học lịch sử, mục đích không phải là ở chỗ có được học vị,  thì là vì cái gì? Vì “ôn cố tri tân,” nhận thức được về quá khứ, thì biết được vị lai, như thế, “khả dĩ vi sư hĩ,” quá khứ chính là thầy giáo của ta, “tiền sự bất vong, hậu sự chi sư dã”(i). Ôn cố mà tri tân chính là ý nghĩa này. Đây là đạo lý gì vậy? Bởi vì thành công hay thất bại trước mắt, của một người cũng thế, của một quốc gia cũng thế, như thế nào mà thành công, như thế nào mà thất bại, lịch sử nói cho chúng ta rất nhiều điều. (Tôi) Vừa mới nói chuyện với người khác, có đề cập đến, thế hệ thanh niên hiện đại học hành thật khó, không những phải biết gốc rễ truyền thống văn hóa TQ của bản thân – quá khứ, lại còn phải biết các tri thức mới của xã hội hiện tại, không những là việc trong nước, việc ngoài nước cũng phải nắm rõ, cổ kim trong ngoài đều cần hiểu, do vậy người vi chính, càng phải chú ý đến việc này, vi chính đến cùng là cần có học vấn, do vậy “ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hĩ.” Như thế này mới chân chính có khả năng tiếp thu lịch sử đã qua, phán đoán chiều hướng phát triển của tương lai.

(i) Nguyên văn: 前事不忘,后事之师 – qián shì bú wàng,hòu shì zhī shī – tiền sự bất vong, hậu sự chi sư. Câu để cảnh tỉnh mọi người không được quên các giáo huấn trong quá khứ, lấy đó làm gương về sau. Xuất xứ: Chiến Quốc sách.

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.10

子曰:“视其所以(1),观其所由(2),察其所安(3),人焉廋(4)哉?人焉廋哉?”

Zǐ yuē:  “shì qí suǒyǐ, guān qí suǒ yóu, chá qí suǒ ān, rén yān sōu zāi? rén yān sōu zāi?”

Tử viết: “thị kì sở dĩ (1), quan kì sở do (2), sát kì sở an (3), nhân yên sưu (4) tai? Nhân yên sưu tai?”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn ]

  1. 所以 – suǒyǐ – sở dĩ: việc làm ra.
  2. 所由 – suǒ yóu – sở do: con đường đi qua.
  3. 所安 – suǒ ān – sở an: tâm tính quen như thế nào.
  4. 廋 – sōu – sưu: ẩn tàng, ẩn giấu

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “(để hiểu một người), phải xem động cơ ngôn hành (lời nói hành động) của anh ta, quan sát con đường anh ta chọn đi, khảo sát anh ta để tâm làm cái gì, như thế, con người này làm sao có thể ẩn giấu được đây? Con người này làm sao có thể ẩn giấu được đây?”

[Bình giải – Chưa rõ là ai]

Đoạn văn này nói đến vấn đề làm sao để hiểu người khác. Khổng tử cho rằng, đối với người khác phải nghe anh ta nói gì, xem anh ta hành động như thế nào(i), vẫn còn cần xem tâm tính của anh ta lúc làm việc, từ ngôn luận, hành động của anh ta đến nội tâm của anh ta, hiểu cách toàn diện quan sát một người, như vậy người này không có gì ẩn giấu được.

(i) Nguyên văn: 听其言而观其行 – tīng qí yán ér guān qí xíng – thính kì ngôn nhi quan kì hành: không những nghe nói gì mà còn phải xem hành động thực tế như thế nào. Cũng là câu trong Luận ngữ.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

所以 – sỡ dĩ: dĩ, nghĩa là nguyên nhân. Vì nguyên nhân nào mà làm việc này, ở đây chỉ động cơ và dụng tâm của hành vi một người. Hoặc có thuyết: dĩ, nghĩa là 为 – “vi” (làm việc gì). Nhìn việc làm của một người, có thể biết người đó.

所由 – sở do: do, nghĩa là 经由- “kinh do,” thông qua, kinh qua (con đường nào). Cùng một việc, chọn các đường lối khác nhau, hoặc thích con đường nhanh chóng, hoặc đường mạo hiểm, hoặc đường lớn bằng phẳng. Ở đây nói về xu hướng và tâm thuật, tính toán trong lòng về hành vi một người.

所安 – sở an: an, nghĩa là an định an lạc. Miễn cưỡng làm gì, tất sẽ không an không lạc, dễ sinh ra thay đổi. Ngược lại, vui sẽ không mệt mỏi, an ổn sẽ không biến đổi. Ở đây nói về tâm thái hoặc hứng thú đối với hành vi.

视,观,察: thị, quan, sát: ba từ này có thứ tự nông sâu. Thị xem vào một việc, quan xem từ tổng thể, sát xem từ chỗ nhỏ nhất trở đi.

人焉廋哉 – nhân yên sưu tai: sưu, nghĩa là tàng ẩn, ẩn giấu. Do cách nhìn người mà được miêu tả ở trên, không người nào có thể ẩn giấu. Nhắc lại, do vậy khẳng định không gì có thể giấu diếm.

Chương này Khổng tử dạy phương pháp quan sát người khác, tất phải quan sát từ nhiều phía, nhân cách và tâm địa của một người, sẽ không thể ẩn giấu được. Do vậy người học cũng có thể dựa vào đây mà “tự tỉnh” – tự kiểm điểm bản thân, khiến cho việc làm người của bản thân, như được nhìn thấu qua, mà không tự lừa dối chính mình. Nếu không như vậy, lại để cho bản thân giấu diếm bản thân, thì làm sao còn có thể quan sát người khác?

Hoặc nói, quan sát người khác tất phải từ những thứ dễ thấy, giả sử mỗi việc đều phải xem ý nghĩa của nó là từ đâu mà ra, đến mức chưa chi đã hoài nghi người khác là giả trá, suy đoán người khác là không thành thật, luận việc, trách phạt dựa trên động cơ chứ không phải sự việc, là không nên vậy.  Do vậy chương này là từ dấu tích cụ thể mà quan sát tâm, từ sự việc mà xem ý, người học cần kỹ càng mà làm cho rõ.

Tiên sinh nói: “Cần quan sát anh ta tại sao lại làm việc này, lại quan sát anh ta làm theo kiểu nào, lại quan sát lúc anh ta làm việc này tâm tình như thế nào, an ổn hay không an ổn. Theo như thế này mà quan sát, người nào có thể ẩn giấu vào chỗ nào được! Người nào có thể ẩn giấu vào chỗ nào được!”

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Từ đây trở đi, văn chương liền chuyển, chính thức nói đến đạo lý Vi chính.

Tử viết: “thị kì sở dĩ, quan kì sở do, sát kì sở an, nhân yên sưu tai? Nhân yên sưu tai?”

Đây là đạo lý quan sát người khác của Khổng tử.

Nói đến đạo lý quan sát người khác, chúng ta đều biết việc xem tướng tính mệnh, đặc biệt hiện nay rất thịnh hành. Hai việc này, ở Trung Quốc đã có lịch sử vài ngàn năm, ở các quốc gia khác trên thế giới, cũng có phương pháp xem tướng Italia, Nhật Bản vân vân. Từ đây có thể thấy ở bất kỳ quốc gia dân tộc nào, đều rất thịnh hành. Nói đến lịch sử xem tướng của người Trung Quốc, có từ rất sớm. Thời Xuân thu Chiến quốc đã có rất nhiều, nói chung, người Trung Quốc xem tướng, có kỹ năng riêng, bao gồm các loại lưu hành trên thị trường hiện nay, Ma Y, Liễu Trang, Thiết Quan Đao(i), cho đến các loại xem tay, xem chỉ tay do người Italia, Nhật Bản hiện đại nghiên cứu ra, rất nhiều thứ mới đều thêm vào, nhưng cũng không ra khỏi phạm vi phương pháp xem tướng Trung Quốc. Nhưng người TQ hãy còn một kiểu xem tướng khác, gọi là “thần tướng” hoặc “tâm tướng,” rất thâm sâu khó hiểu.

“Thần tướng,” không phải là dựa trên “hình thái” (dáng vẻ thái độ bên ngoài) để xem, là là xem “thần thái” (tinh thần thể hiện ra); hãy còn một loại “tâm tướng,” là dựa trên cơ sở lập trường văn hóa TQ, tuyệt đối duy tâm (không phải là duy tâm trong triết học phương Tây), do đó có mấy câu danh ngôn: “hữu tâm vô tướng, tướng do tâm biến. Hữu tướng vô tâm, tướng tùy tâm chuyển”(ii) – một người tư tưởng chuyển biến, hình thái cũng sẽ chuyển biến, ví như chúng ta nói một người chuẩn bị nổi nóng, làm thế nào để biết? Bởi vì từ tướng của anh ta có thể nhìn ra được, tâm lý anh ta nổi nóng, thần kinh sẽ khẩn trương, dáng vẻ sẽ thay đổi. Do vậy, xem tướng là khoa học. Có người nói, người có ấn đường rất hẹp thì lòng độ lượng nhất định ít, ấn đường – cự ly giữa hai đầu lông mày – rất rộng thì lòng độ lượng lớn, đây là lý lẽ thế nào? Có người tính cách trời sinh, gặp chút chuyện không như ý, liền chau mày, dần dần da ở ấn đường sẽ nhăn lại, đây là lý lẽ đương nhiên. Còn có người nói người lộ răng cửa thường đoản mệnh, do anh ta lộ răng, khi ngủ miệng không khép được, khi hô hấp các thứ bẩn đều vào cơ thể, đương nhiên sức khỏe sẽ có vấn đề. Còn rất nhiều lý lẽ cùng dạng như thế này, nhưng người xưa xem tướng, chỉ biết đến biểu hiện bên ngoài của sự vật mà không biết đến bản chất nguyên nhân phát sinh ở bên trong(iii). Hỏi họ nguyên nhân là gì, họ nói: là trong sách nói vậy. Trên thực tế, những thứ này là từ kinh nghiệm mà ra.

Có người nói, danh thần Tăng Quốc Phiên thời Thanh trung hưng có mười ba môn học vấn, lưu truyền lại còn mỗi một môn – Tăng Quốc Phiên gia thư, còn lại đều không còn, kỳ thực truyền lại còn hai môn, một môn khác là học vấn xem tướng Tăng Quốc Phiên – bộ sách “Băng Giám.” Bộ này bao gồm cả lý luận xem tướng, không giống với các sách tướng số khác. Tăng Quốc Phiên nói: “功名看器宇” – công danh khán khí vũ, nói đến khí vũ (khí độ, dáng vẻ), rất rắc rối phiền phức. Đây lại nói đến triết học TQ, ở đây liên quan đến văn học, chữ “khí” giải thích thế nào? Chính là các loại sự vật. “Vũ” là đại biểu cho thiên thể (vũ trong vũ trụ – nd). Cái gì gọi là “khí vũ”? Chính là hình thái cấu tạo thiên thể. Miễn cưỡng có thể giải thích như vậy. Sự vật ở TQ, chính là khiến người ta chán ghét như vậy, như người TQ nói: người này phong độ không tồi. Thổi qua là “phong” (gió-nd), đo rộng bao nhiêu dài bao nhiêu là “độ.” Còn về “phong độ” của một người thì không nói cụ thể được, đây là một từ hình dung có tính trừu tượng, nhưng cũng rất khoa học, ví dụ như ở chỗ đông người, mà trong đó có một người, khiến mọi người đều chú ý, người này không nhất định xinh đẹp, biểu hiện bề ngoài cũng không có gì đặc biệt, nhưng anh ta làm cho tâm lý mọi người cảm thấy anh ta không giống với những người khác, đây gọi là “phong độ.”

“功名看器宇” – “Công danh khán khí vũ,” chính là người này có công danh hay không, cần phải xem phong độ của anh ta.

“事业看精神” – “Sự nghiệp khán tinh thần,” điều này là tất nhiên, một người tinh thần không tốt, làm chút việc liền mệt, thì có thể có sự nghiệp tiền đồ gì?

“穷通看指甲” – “Cùng thông khán chỉ giáp,” muốn biết một người có tiền đồ hay không thì xem móng tay, móng tay với tiền đồ của con người có quan hệ như thế nào? Tuyệt đối có quan hệ. Theo sinh lí học, móng tay có thành phần chủ yếu là canxi, canxi không đủ, chính là thể lực kém, thể lực kém thì không có tinh thần cạnh tranh. Có một số người móng tay không như hình viên ngói mà mỏng mỏng, thì biết loại người này thể chất vô cùng yếu, nhiều bệnh.

“寿夭看脚踵” – “Thọ yểu khán cước chủng,” mệnh dài hay ngắn, xem gót chân của anh ta lúc đi lại. Tôi từng có một học sinh, lúc đi lại gót chân không chạm đất, anh ta quả nhiên đoản mệnh. Loại người này một là đoản mệnh, hai là thông minh nóng nảy, việc giao cho anh ta, anh ta làm rất nhanh, nhưng không thiết thực.

“如要看条理,只在言语中”- “Như yếu khán điều lí, chỉ tại ngôn ngữ trung,” một người tư tưởng như thế nào, thì xem anh ta nói năng có mạch lạc không, loại phương pháp xem này rất khoa học.

Loại học vấn này ở Trung Quốc cũng gọi là “hình danh chi học,” từ thời Ngụy Tấn đã lưu hành. Có một bộ sách, “Nhân vật chí,” mọi người có thể thử đọc, sẽ có chỗ hữu ích, do Lưu Thiệu thời Ngụy soạn, Lưu Bỉnh thời Bắc Ngụy chú giải, chuyên bàn luận về con người, nói cách khác là khoa học về “người.” Gần đây lưu hành loại khoa học quản lý nhân sự, phân loại chức nghiệp, các loại này đều xuất phát từ ngoại quốc. Mà “Nhân vật chí” của chúng ta, còn hay hơn,  là “quản lý nhân sự,” “phân loại chức nghiệp” chân chính, chỉ ra những người nào thuộc loại nào. Có những người thuộc loại theo sự nghiệp, có những người tuyệt đối không phải loại theo sự nghiệp, không nên sắp xếp sai, có người có học vấn, không nhất định có tài năng, có người có tài năng không nhất định có phẩm đức, người có học vấn lại có tài năng lại có phẩm đức, là người hạng nhất, loại người này lại không có nhiều.

Trước đây có một người bạn già, đọc sách không nhiều, nhưng từ kinh nghiệm nhân sinh, có được mấy câu, rất có ý nghĩa, ông nói: “người thượng đẳng, có bản sự không có tính nóng; người trung đẳng, có bản sự lại cũng có tính nóng; người mạt đẳng, không có bản sự nhưng tính nóng nhiều.” Đây có thể gọi là danh ngôn, cũng là học vấn của ông. Do vậy mọi người lập thân xử thế, cần biết có người có học vấn, trong nhiều trường hợp sẽ có tính nóng, cần phải bao dung nhẫn nại đối với họ, dùng sở trưởng của họ – học vấn, không tính toán với sở đoản của họ – tính nóng. Anh ta nổi nóng không phải là có ác ý với bạn, mà là bản thân anh ta có tật, vốn là chỗ khiếm khuyết của anh ta, với bạn có quan hệ gì?  Bạn muốn nói về đạo hiếu,  trong đạo quân (đạo làm vua) bạn cần yêu thương anh ta, tôn trọng anh ta […].

Bộ sách thứ hai cần nghiên cứu là bộ nào? Chính là “素书”-“Tố Thư” do Hoàng Thạch Công truyền cho Trương Lương. Bộ sách này rất khó nói có phải là sách làm giả hay không, nhưng  chính xác là kết tinh văn hóa TQ. Đối với đạo lý làm người xử thế nhìn nhận người khác, có rất nhiều kiến giải triết học rất thâm thúy, cũng có thể nói là sách xem tướng, sách này không hề nói về lông mày dài sẽ như thế nào, sống mũi dài sẽ thế nào, sách này không có mấy loại như thế, mà là phương pháp xem tướng chân chính. Lông mày, mũi, mắt, đều không xem, đại khái chỉ xem một người xử thế có thái độ và phương thức thế nào. Mạnh tử cũng thích xem tướng, chẳng qua ông không treo biển hành nghề, ông chú ý vào nhãn thần (thần thái ánh mắt) của người ta, người quang minh chính đại nhãn thần nhất định rất đoan chính; thích hướng lên trên nhất định rất kiêu ngạo; thích nhìn xuống sẽ động tâm tư; thích nhìn xéo, ít nhất là tâm lý có vấn đề. Đây là nhãn thần trong xem tướng, là phương pháp xem tướng của Mạnh tử, cũng có thể gọi là “nhãn khoa” trong xem tướng.

Khổng tử quan sát người khác, giảng về nguyên tắc. “Thị kì sở dĩ” – xem mục đích của anh ta là gì? “Quan kì sở do” – biết nguyên lai, động cơ của anh ta[bỏ một đoạn kể chuyện, nêu ví dụ], xem cả quá trình hành động của anh ta. “Sát kì sở an,” lại xem xem anh ta bình thường an vui quen thuộc với cái gì? Có khả năng an ổn hài lòng với hiện thực không. Ví dụ có một số người rất khó an vui, có một người bạn hơn bảy mươi tuổi, đã đầu tóc đã bạc hết, là người đọc sách, học vấn rất nhiều. Vừa mới nghỉ hưu, vợ mất, trong đời sống hàng ngày đánh mạt chược thì không có hứng thú, thư pháp tốt nhưng không có hứng thú viết chữ, người đọc sách vốn có thế đọc sách, nhưng cầm đến quyển sách, thì muốn ngủ, nằm xuống lại ngủ không được – nói đến đây, mong các bạn trẻ chú ý, người có tuổi rất đáng thương, có mấy việc tương phản: ngồi thì muốn ngủ, nằm xuống thì ngủ không được. Khóc thì không có nước mắt, cười lên lại cười ra nước mắt. Nói chuyện hiện tại, vừa nói vừa quên, đối với chuyện quá khứ, đến chuyện lúc bé cũng nhớ ra. Nói lời hay với họ thì không nghe thấy, mắng thì lập tức nghe thấy. Đây là thảm trạng của người có tuổi – bởi vì ông ấy quá quạnh hưu tịch mịch, việc gì cũng không có hứng thú, tốt nhất là kết bạn với một người bạn nữ, tôi khuyên ông không nhất thiết phải kết hôn. Hoàn cảnh như của ông, chính là người có tuổi mà không có chỗ an, tâm không thể an, đây là người già, nhưng người trẻ cũng như vậy. Đây là vấn đề tâm lý, một người tiến hành tu dưỡng học vấn, nếu bình thường không có một chỗ an ổn, thì rất có vấn đề. Có một số người lúc có việc làm, tinh thần rất tốt; lúc không có việc làm, thì tâm không thể an, có thể thấy để an được tâm là rất khó.

Khổng tử dựa vào ba điều này để quan sát người khác, do vậy ông nói “nhân yên sưu tai! Nhân yên sưu tai!” “Sưu” này là có ý nghĩa trốn tránh. Lấy “thị kì sở dĩ, quan kì sở do, sát kì sở an” ba phương diện trọng yếu này ra quan sát người khác, thì không gì có thể trốn tránh được. Xem bất kỳ người nào làm người xử thế, mục đích của anh ta là gì? phương pháp làm của anh ta như thế nào? (ý trước là thuộc phương diện tư tưởng, ý sau là thuộc phương diện hành vi). Ngoài ra, lại xem hàm dưỡng của anh ta lúc bình thường, anh ta an vui với cái gì? Có người quen tầm lạc, có người quen với cảnh nghèo khó, có người quen với bình đạm. Khó nhất là bình đạm, người an vui với bình đạm, sự nghiệp gì cũng có thể làm. Do anh ta sẽ không bị sự nghiệp vây khốn, câu này là như thế nào? Người an vui với bình đạm, hôm nay phát tài, sẽ không cảm giác bản thân có nhiều tiền khiến cho ngủ không nổi; nếu nghèo, cũng sẽ không cảm giác nghèo, sẽ không cảm thấy tiền đối với anh ta có gì uy hiếp. Do vậy an tâm là khó nhất. Đem ba phương diện quan sát người khác này, đặt trong thiên Vi chính, liền biết trọng điểm của việc khích lệ hay phẩm bình người khác là nằm ở ở đâu.

(i) Tên các loại phương pháp/trường phái xem tướng. Có các sách Ma Y tướng pháp (người đời sau truyền tác giả là Ma Y Đạo giả thời Tống – Ma y có nghĩa là áo gai), Liễu Trang thần tướng (tác giả là Viên Liễu Trang thời Minh), thần tướng Thiết Quan Đao (tác giả khuyết danh, sách từ thời Minh/Thanh).

(ii) Kiểm tra trên mạng, thấy câu chính xác là như này: 有心无相,相随心生;有相无心,相随心灭: hữu tâm vô tướng, tướng tùy tâm sinh; hữu tướng vô tâm, tướng tùy tâm diệt. Mạng giới thiệu là thuật ngữ thường dùng trong Phật giáo, nhưng có nguồn gốc sâu xa từ Quỷ Cốc tử thời Xuân Thu.

(iii) Nguyên văn: 知其然而不知其所以然 – zhī qí rán ér bù zhī qí suǒ yǐ rán – tri kì nhiên nhi bất tri kì sở dĩ nhiên. Câu từ đời Đường.

 

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.9

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2018!!!

 

子曰:“吾与回(1)言,终日不违(2),如愚。退而省其私(3),亦足以发,回也不愚。”

Zǐ yuē: “Wú yǔ Huí yán, zhōng rì bù wéi, rú yú. Tuì ér shěng qí sī, yì zú yǐ fā, Huí yě bù yú.”

Tử viết: “Ngô dữ Hồi(1) ngôn, chung nhật bất vi(2), như ngu. Thoái nhi tỉnh kì tư(3), diệc túc dĩ phát, Hồi dã bất ngu.”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 回 – Huí – Hồi: Họ Nhan tên Hồi, tự Tử Uyên, sinh năm 521 trước công nguyên, nhỏ hơn Khổng tử 30 tuổi, người nước Lỗ, là môn sinh đắc ý của Khổng tử.
  2. 不违 – bù wéi – bất vi: không nêu lên ý kiến hoặc vấn đề tương phản, trái ngược lại.
  3. 退而省其私 – Tuì ér shěng qí sī – thoái nhi tỉnh kì tư: coi xét, quan sát ngôn hành của Nhan Hồi lúc riêng tư thảo luận học vấn với các học sinh khác.

[Diễn dịch câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Ta cả ngày giảng học cho Nhan Hồi, anh ta chưa từng đưa ra ý kiến phản đối hoặc vấn đề nghi vấn nào, giống như người ngu xuẩn. Đợi sau khi anh ta lui ra ngoài, ta xem xét quan sát ngôn luận của anh ta lúc riêng tư, phát hiện anh ta đều đem các nội dung mà ta dạy ra phát huy, có thể thấy Nhan Hồi kì thực không ngu xuẩn chút nào.”

[Bình luận – Chưa rõ là ai]

Chương này nói về tư tưởng và phương pháp giáo dục của Khổng tử. Ông không hài lòng với loại học sinh “chung nhật bất vi,” trước giờ không đưa ra ý kiến hoặc vấn đề tương phản, hy vọng lúc học sinh tiếp thu giáo dục, cần động não, suy xét vấn đề, đối với vấn đề thầy giáo giảng nên có phát huy. Vì vậy, ông cho rằng người không suy xét vấn đề, không đưa ra ý kiến bất đồng, là người ngu xuẩn.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

回 – Hồi: Nhan Hồi, tự Uyên, học sinh từ thời đầu của Khổng tử, rất được Khổng tử thương yêu.

不违如愚 – Bất vi như ngu: Bất vi, ý là bất tương phản, không (làm gì) ngược lại. Có lắng nghe, không biện luận đặt câu hỏi. Như người ngu dốt, là “mặc nhi thức chi”–lặng yên ghi nhớ các kiến thức học được(i).

退而省其私 – Thoái nhi tỉnh kì tư: thoái, rời khỏi chỗ của thầy. Tư, ngôn ngữ hành vi của Nhan tử lúc rời khỏi chỗ của thầy. Có giải thích tư là lúc nhàn cư một mình, có vẻ không thích hợp.

亦足以发 – diệc túc dĩ phát: phát, phát minh (tìm ra được cái mới), phát huy, mở mang trí thức. Từ những lời thầy giảng tìm ra được cái mới nào đó, có thể từ đây cùng với lời của thầy giảng mà phát huy.

回也不愚 – Hồi dã bất ngu: Khổng tử nói không ngu, chính là vô cùng tán thưởng sự thông tuệ của Nhan Hồi.

Chương này chắc là lúc Nhan tử bắt đầu theo học Khổng tử, nên Khổng tử khen ngợi như vậy. Nếu là lúc đã ở cùng lâu rồi, chắc không vì điều này mà khen ngợi.

Tiên sinh nói: “Ta cùng Nhan Hồi đàm luận, cả ngày anh ta không hỏi lại câu nào, như một người ngu dốt đần độn. Đợi lúc anh ta rời đi, ta khảo sát ngôn hành của anh ta lúc không theo ta học, đối với lời ta nói, có thể phát huy rất nhiều. Hồi, thật không hề ngu vậy.”

(i) Nguyên văn: 默而识之 – mo er zhi zhi – mặc nhi thức chi: lặng yên ghi nhớ các kiến thức học được (đây cũng là câu trong Luận ngữ).

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Chúng ta biết, học sinh đắc ký nhất của Khổng tử chính là Nhan Hồi, cũng gọi là Nhan Uyên, bất luận trong lĩnh vực đạo đức hay học tập, đều là nhân vật xuất sắc hàng đầu của Khổng môn(i), do vậy Khổng tử rất hay nhắc đến Nhan Hồi.

[…] Đoạn hội thoại này, đề cập Nhan Hồi. Khổng tử nói, ta cùng Nhan Hồi nói chuyện, có lúc nói cả một ngày, anh ta chưa từng có ý phản đối ta, xem ra như ngốc vậy, nhưng lúc anh ta lui ra ngoài, không ở trước mặt ta, làm người, làm việc đều tự biết kiểm điểm bản thân, kết quả là không những hiểu được ý của ta, mà còn tiến thêm một bước phát huy ý của ta, từ đó có thể thấy Nhan Hồi không hề ngốc.

Vấn đề bây giờ là tại sao lại biên tập đoạn như thế này vào đây? Chính là nói đến thiên Vi chính này, vấn đề hiếu ở hai đoạn trên, đoạn thứ nhất là “kính,” đoạn thứ hai là “sắc nan,” đối với thần đạo, quân đạo (đạo làm tôi, đạo làm vua) đều liên quan. Nay dùng thái độ của Nhan Hồi để nói về đạo làm tôi, trước mặt nói gì đều đáp là “vâng,” đều chỉ là tiếp thu, phục tùng. Nhưng chỉ toàn tiếp thu, phục tùng, có lúc ngược lại có vấn đề, không nhất định là đúng, do đó ngoài tu dưỡng tiếp thu, phục tùng, vẫn còn cần “thoái nhi tỉnh kì tư, diệc túc dĩ phát.” Có thể phát huy thêm, mở rộng phạm vi, làm giàu nội dung(ii), đây mới là cán bộ tốt trong công việc, nhân tài vi chính. Vì vậy đem đoạn về tu dưỡng làm người của Nhan Hồi đặt vào thiên Vi chính này.

(i) Nguyên văn: 首屈一指 – shǒu qū yī zhǐ – thủ khuất nhất chỉ: đứng thứ nhất, hạng nhất, giỏi nhất.

(ii) Nguyên văn: 扩而充之- kuò ér chōng zhī – khoách nhi sung chi: mở rộng phạm vi, làm phong phú nội dung. Câu trong Mạnh tử.

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.8

子夏问孝,子曰:“色难(1)。有事,弟子服其劳(2);有酒食,先生(3)馔(4),曾是以为孝乎?”

Zǐ Xià wèn xiào, Zǐ yuē: “Sè nán. Yǒu shì, dìzǐ fù qí láo; yǒu jiǔ shí, xiānshēng zhuàn, zēng shì yǐwéi xiào hū?.”

Tử Hạ vấn hiếu, Tử viết: “Sắc nan (1). Hữu sự, đệ tử phục kỳ lao (2); hữu tửu thực, tiên sinh (3) soạn (4), tằng thị dĩ vi hiếu hồ?.”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 色难- Sè nán – Sắc nan: Sắc, sắc mặt. Nan, ý là không dễ dàng tùy tiện.
  2. 服劳 – fù láo – phục lao: phục, làm việc, gánh vác phụ trách. Phục lao tức là phục thị – phục vụ chiếu cố quan tâm.
  3. 先生 – xiānshēng – tiên sinh: tiên sinh chỉ trưởng bối hoặc cha mẹ, trước đó nói đệ tử, là chỉ vãn bối, con cái vân vân.
  4. 馔 – zhuàn – soạn: ý là ẩm thực, ăn uống.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Tử Hạ hỏi hiếu là gì, Khổng tử nói: “(làm con cái cần tận hiếu), không dễ dàng nhất là đối với cha mẹ nét mặt hòa nhã vui vẻ (i), còn là khi có việc, con cái muốn thay cha mẹ làm, có đồ ăn đồ uống, mời cha mẹ ăn, lẽ nào cho rằng như thế thì có thể tính là hiếu ư?.”

(i) Nguyên văn: 和颜悦色 – hé yán yuè sè – hòa nhan duyệt sắc. Câu này trong Luận ngữ.

[Bình giải – Chưa rõ là ai]

Chương 5, 6, 7, 8 của thiên này, đều là Khổng tử bàn luận các vấn đề liên quan đến hiếu.  Hiếu mà Khổng tử đề xướng, thể hiện ở mọi phương diện và tầng nấc, phản ảnh nhu cầu của chế độ tông pháp, thích ứng với nhu cầu của xã hội đương thời. Tư tưởng chung là, không chỉ cần theo hình thức, tuân theo nguyên tắc của Chu lễ mà phụng dưỡng cha mẹ, mà còn cần từ đáy lòng chân chính tôn kính cha mẹ.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

色难 – sè nán – sắc nan: có hai cách giải thích. Một cách là, khó ở chỗ dự liệu được sắc mặt của cha mẹ. “Tiểu Đái Ký” (cách gọi khác của Lễ Ký) – “Khúc lễ” có câu: “视於无形,听於无声” – “thị ư vô hình, thính ư vô thanh” – nhìn chỗ vô hình, nghe chỗ vô thanh. Có thể từ chỗ vô hình, vô thanh mà hiểu được ý tứ của cha mẹ, đây là hiếu. Một cách khác là, người con có hiếu phụng sự cha mẹ, khó ở chỗ có thể hòa ngôn duyệt sắc (lời nói hòa nhã nhan sắc vui vẻ). “Tiểu Đái Ký” – “Tế nghĩa” có câu: “孝子之有深爱者,必有和气。有和气者,必有愉色。有愉色者,必有婉容” –  “hiếu tử chi hữu thâm ái giả, tất hữu hòa khí. Hữu hòa khí giả, tất hữu du sắc. Hữu du sắc giả, tất hữu uyển dung” – người có hiếu có tình cảm sâu sắc, tất có hòa khí. Người có hòa khí, tất có sắc mặt hòa nhã vui tươi. Người có sắc mặc hòa nhã vui tươi, tất có diện mạo tốt đẹp. Sắc mặc của con người, là do tình cảm chân thực ở trong nội tâm lộ ra, sắc không tốt chính là do trong lòng không tốt. Cách giải thích đầu là chỉ sắc mặt của cha mẹ, cách sau chỉ sắc mặt của người con có hiếu. Do ở đây là hỏi về hiếu, nên là nói về người con. Nay theo cách giải thích thứ hai.

服其劳 – fù qí láo – phục kỳ lao: phục, làm, thi hành, chấp hành

先生馔 – xiānshēng zhuàn – tiên sinh soạn: tiên sinh hoặc là chỉ phụ huynh, hoặc chỉ trưởng bối, người hơn tuổi. Ở phía trước nói “đệ tử,” không nói “tử đệ,” ở đây chắc là chỉ trưởng bối. Soạn, là ẩm thực, ăn uống. Hoặc có thuyết: soạn, nghĩa là bày, xếp. Có rượu có thức ăn, trước hết bày ra cho trưởng bối. Hai cách giải thích nghĩa tương đương nhau, theo ngữ pháp câu, theo cách giải thích đầu. Đệ tử làm việc cho người lớn tuổi hơn, có lòng tôn kính là được. Tử đệ làm việc cho huynh trưởng, thì kính còn từ lòng yêu thương nữa.

曾是以为孝乎 – zēng shì yǐwéi xiào hū – tằng thị dĩ vi hiếu hồ: tằng, giống “là.” Cho là chỉ như vậy thì có thể nói là hiếu ư?

Bốn chương trên đều hỏi về hiếu, mà Khổng tử trả lời không đáp án nào giống đáp án nào. Hoặc có vẻ là Khổng tử vì giáo dục mọi người, tập trung vào chỗ còn thiếu sót và khuyết điểm của từng người hỏi. Vì vậy có thể là Tử Du có khả năng “dưỡng” nhưng mất đi lòng tôn kính, Tử Hạ thiếu nét mặt ôn hòa đối với cha mẹ, đây đều là suy đoán. Luận ngữ văn từ giản ước, hoặc lúc đó cách hỏi có chỗ không giống nhau, Khổng tử theo từng câu hỏi mà trả lời khác nhau, người ghi chép tường thuật lại lời của Khổng tử, nhưng lại lược câu hỏi của người hỏi, vì vậy mà có vẻ như hỏi giống nhau mà trả lời khác nhau. Người học theo lời văn và suy ra ý nghĩa, biết Khổng tử dạy hiếu đạo có những cách giải thích như thế này, đều có thể được vậy, không phải tìm kiếm thêm ở đâu nữa.

Tử Hạ hỏi: “đạo hiếu là như thế nào?.” Tiên sinh nói: “Chỗ khó là ở sắc mặt của con cái. Nếu gặp lúc có việc, do người trẻ tuổi gánh vác, có đồ ăn đồ uống, để người lớn tuổi ăn trước, đây có phải là hiếu không?”

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Tử Hạ đến hỏi về hiếu, Khổng tử nói “sắc nan.” Cái gì gọi là “sắc nan”? Vấn đề thái độ, câu ở trên nói bất kính mà có thể hiếu thảo, chính là rất khó ở chỗ thái độ. Khổng tử nói: “hữu sự, đệ tử phục kỳ lao.” Lúc có việc, như chúng ta là lớp hậu bối, thấy cha mẹ quét sân, thì nhận lấy chổi tự mình làm. “Hữu tửu thực, tiên sinh soạn.” (tiên sinh là xưng hô chung thời nay, thời cổ đại là cách xưng hô tôn trọng đối với người hơn tuổi.) Có thứ ăn ngon, đưa cho cha mẹ trưởng bối ăn. “Tăng thị dĩ vi hiếu hồ?” (“tăng thị” là có ý giả định), anh cho rằng như thế này thì là hiếu ư? Thay trưởng bối làm việc, mời trưởng bối ăn ngon, không nhất định là hiếu, tại sao vậy? “Sắc nan.” Thái độ rất quan trọng, giống như chúng ta kết thúc giờ làm việc đi về nhà, cảm thấy mệt muốn chết, mà ông bố nằm trên giường, sai rót chén trà để ông uống. Làm con cái, trà thì rót, nhưng lúc bưng qua, mặt nặng xuống, đem chén trà đặt mạnh xuống bàn ở trước giường, dùng ngữ điệu lạnh lùng cứng ngắc nói: “uống đi.” Trước thái độ này của con cái, tâm lý của người làm cha mẹ, so với chết còn khó chịu hơn, điều này là tuyệt không thể được. Vì vậy hiếu đạo đầu tiên là cần tôn kính, đây là thuộc nội tâm; thứ hai là thái độ, sắc diện bên ngoài.

Tại sao hai chương này (chương 2.7 và 2.8) lại đặt ở đây? Đây là bao quát cả đạo quân, đạo thần. Một loại là làm quan trên của người khác, lãnh đạo người khác, một loại là làm người dưới của người khác, phối hợp với người khác. Do vậy chúng ta nói về đạo vi chính, cũng là “sắc nan,” cũng là “bất kính, hà dĩ biệt hồ?.” Chúng ta yêu thương che chở cấp dưới, rất khó ở chỗ thái độ. Vị hoàng đế nổi tiếng trong lịch sử Đường Thái Tông, bản chất rất uy nghiêm, có một ngày ông hỏi Ngụy Trưng, tại sao mấy đại thần này, lúc trước mặt ông đều không nói gì. Ngụy Trưng liền nói cho ông biết – cũng chỉ có mỗi Ngụy Trưng dám như vậy – bệ hạ tự mình không biết, do bệ hạ rất uy nghiêm, chúng đại thần sau khi gặp ngài, tâm lý liền sợ hãi, vì vậy nói ra không nổi. Đường Thái Tông nghe xong lời này, liền đến trước gương học cười, gặp người liền cười, dần dần khiến thái độ của bản thân trở nên hòa ái hơn. Do vậy đạo vi chính, cũng là “sắc nan.” [bỏ một đoạn] Làm lãnh đạo người khác, hay làm cấp dưới người khác, đều “sắc nan”– thái độ không dễ dàng đạt được hòa nhã. Trong nội tâm càng khó hơn. “Kính” – thương yêu người khác thật lòng, không dễ dàng làm được. Do vậy đem hai câu về hiếu đạo này đặt trong thiên Vi chính,  cũng chính là tu dưỡng và thái độ của việc tòng chính (tham dự vào chính trị, làm quan), đây là học vấn chân chính. Anh nói anh đối với cấp dưới yêu thương che chở hết mức, nhưng anh đối với họ cứ mở miệng là mắng, đem bao nhiêu nóng bực đều trút lên người họ, sau khi nổi nóng xong, đối với họ tốt bao nhiêu cũng chẳng có tác dụng gì.

Chương tiếp theo sẽ là hội thoại giữa Khổng tử và Nhan Hồi, bao quát cả phần Tử Du và Tử Hạ hỏi về hiếu đạo ở trên, liên kết với việc đặt vào thiên Vi chính này, là đạo lý của đạo làm thần và đạo làm quân.

Hàn

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.7

子游(1)问孝,子曰:“今之孝者,是谓能养。至于犬马,皆能有养(2),不敬,何以别乎?”

Zǐ Yóu wèn xiào, Zǐ yuē:  “Jīn zhī xiào zhě, shì wèi néng yang. Zhì yú quǎn mǎ, jiē néng yǒu yang, bù jìng, hé yǐ biè hū?”

Tử Du (1) vấn hiếu, Tử viết: “Kim chi hiếu giả, thị vị năng dưỡng. Chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng (2), bất kính, hà dĩ biệt hồ?”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. Tử Du: họ Ngôn tên Yển, tự Tử Du, người Ngô, kém Khổng tử 45 tuổi.
  2. 养, đọc là yàng.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Tử Du hỏi hiếu là gì, Khổng tử nói: “Như hiện nay thứ gọi là hiếu, chỉ là nói có thể nuôi dưỡng cha mẹ đầy đủ là đủ rồi. Nhưng, đến chó ngựa cũng có thể nuôi dưỡng đầy đủ. Nếu không có lòng hiếu kính cha mẹ, như vậy nuôi dưỡng cha mẹ với nuôi dưỡng chó ngựa có gì khác biệt?”

[Bình giải – Chưa rõ là ai]

Thiên này vẫn là bàn luận về vấn đề hiếu. Đối với câu “chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng,” cho đến nay cũng có vài cách giải thích không giống nhau. Có giải thích là chó giữ cửa, ngựa kéo xe các loại con vật chở đồ, cũng có thể hầu hạ chăm sóc con người. Giải thích thứ hai là chó ngựa cũng có thể được con người nuôi dưỡng. Ở đây dùng cách giải thích thứ hai, vì so ra thỏa đáng hơn.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Tử Du: Tên Ngôn Yển tự Tử Du, đệ tử lúc vãn niên của Khổng tử.

是谓能养 – thị vị năng dưỡng: Khổng tử nói thế tục đều cho rằng có thể (nuôi) dưỡng là hiếu.

犬马皆能有养 – câu này có hai cách giải thích: chó giữ nhà, ngựa thay người lao động, đều có khả năng săn sóc phục dịch hầu hạ con người, là khuyển mã cũng có thể phụng dưỡng con người. Cách giải thích khác: Mạnh tử từng nói: “食而弗爱,豕交之也,爱而不敬,兽蓄之也” – “thực nhi phất ái, thỉ giao chi dã, ái nhi bất kính, thú súc chi dã” – nuôi mà không yêu, giống như nuôi heo vậy, yêu mà không kính, như chăm vật nuôi vậy. Là chó, ngựa sẽ được người nuôi dưỡng, có thể thấy chỉ nuôi dưỡng ăn ở vật chất chưa đủ được coi là hiếu. Giải thích đầu dùng từ “dưỡng” kiêm hai nghĩa là ẩm thực (ăn uống), phục thị (hầu hạ), e là đã giải thích không đúng. Chó ngựa do người sai khiến sử dụng, không tự phục vụ hầu hạ con người. Nếu thật là chó ngựa có thể nuôi dưỡng người, có thể trực tiếp viết “khuyển mã giai năng dưỡng”- chó ngựa đều có thể nuôi dưỡng là được rồi, cần gì phải thêm một chữ “hữu” nữa. “Giai năng hữu dưỡng,” chính là đều có thể được con người nuôi dưỡng. Hoặc nghi việc đem quan hệ thân thích so sánh với khuyển mã là không thỏa đáng, thì ở đây chính là có thể thấy rõ mối quan hệ đó không thể đạt được mức hiếu. Mạnh tử đã nói rõ súc vật vật nuôi, giải thích của Mạnh tử về “Luận ngữ” trực tiếp đáng tin. Nay theo cách giải thích thứ hai.

不敬何以別乎 – bất kính hà dĩ biệt hồ: nếu như chỉ biết dưỡng mà không tôn kính, thì không khác gì nuôi dưỡng chó ngựa. Sao có thể nói đến hiếu?

Tử Du hỏi: “Đạo hiếu là như thế nào?.” Tiên sinh nói: “Hiện nay mọi người cho rằng chỉ cần có thể nuôi dưỡng cha mẹ đã tính là hiếu rồi. Nhưng mà chó ngựa cũng có thể được người nuôi dưỡng như vậy. Không có một lòng tôn kính đối với cha mẹ, thì phân biệt ở chỗ nào!.”

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Tử Du là đệ tử của Khổng tử, họ Ngôn tên Yển, Tử Du là tên chữ, kém Khổng tử 45 tuổi. Tử Du hỏi về hiếu, Khổng tử giải thích rất rõ ràng, nói hiện nay mọi người không hiểu về hiếu, cho rằng chỉ cần nuôi dưỡng cha mẹ đầy đủ, có cơm cho họ ăn, giống như ngày nay, mỗi tháng gửi năm chục một trăm đô la Mỹ cho cha mẹ dùng, thì là hiếu rồi. Cũng còn rất nhiều người trẻ tuổi đến năm mươi nguyên cũng không gửi, gửi được đến nơi, lão bà lão ông tuy ở trong nhà cô cô độc độc, “流泪眼观流泪眼,断肠人对断肠人” – lưu lệ nhãn quan lưu lệ nhãn, đoạn trường nhân đối đoạn trường nhân – lệ rơi nhìn lệ rơi, đứt ruột cùng đứt ruột, nhưng khi nhìn thấy năm mươi nguyên liền hoan hoan hỉ hỉ. Do đó người hiện đại, cho rằng nuôi bố mẹ thì tính là hiếu rồi, nhưng “khuyển mã giai năng hữu dưỡng,” chăm nuôi một con chó, một con ngựa cũng cần cho chúng ăn, có người nuôi chó còn cần mua gan lợn cho chó ăn, cho nên loại tâm tình chỉ là có dưỡng mà không có yêu, thì không phải là hiếu chân chính. Hiếu không phải là hình thức, cũng không giống như nuôi chó nuôi mèo.

Ở đây chúng ta có thể thấy được, Khổng tử giảng đạo hiếu cho học sinh so với trả lời người trong chính trường hoàn toàn khác nhau, cho nên chúng ta chứng minh được là hai đoạn hội thoại trước của Khổng tử là có ẩn ý, là dùng ẩn ngữ vậy.

Hàn

Le Minh Khai's SEAsian History Blog

Always rethinking the Southeast Asian past

followmybrushmarks

exploring the ancient art of Chinese Brush Painting

Hoasinh_Anhca

Trì trung Hoa sinh hưởng lạc Chi thượng Anh ca mạn đề

Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên Cứu Lịch Sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

Thought Catalog

Thought Catalog is a digital youth culture magazine dedicated to your stories and ideas.

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Just another WordPress.com site

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: