Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.15

1.15 子贡曰:“贫而无谄,富而无骄,何如?”子曰:“可也。未若贫而乐,富而好礼者也。”子贡曰:《诗》云,‘如切如磋!如琢如磨’,其斯之谓与?”子曰:“赐也!始可与言《诗》已矣,告诸往而知来者。”

Zǐ Gòng yuē :“pín ér wú chǎn ,fù ér wú jiāo ,hé rú ?”

Zǐ yuē :“kě yě 。wèi ruò pín ér lè ,fù ér hǎo lǐ zhě yě 。” 

Zǐ Gòng yuē :“《shī 》yún :‘ rú qiē rú cuō ,rú zhuó rú mó ’,qí sī zhī wèi yǔ ?”

Zǐ yuē :“cì yě ,shǐ kě yǔ yán 《shī 》yǐ yǐ ,gào zhū wǎng ér zhī lái zhě 。”

 

Tử Cống viết: “Bần nhi vô siểm (1), phú nhi vô kiêu, hà như (2)?”

Tử viết: “Khả dã. Vị nhược bần nhi lạc (3), phú nhi hảo lễ giả dã.”

Tử Cống viết: ““Thi” vân, ‘như thiết như tha! như trác như ma (4),’ kì tư chi vị dư?”

Tử viết: “Tứ (5) dã! Thủy khả dữ ngôn “Thi” dĩ hĩ, cáo chư vãng nhi tri lai giả (6).”

 

[Chú thích – Dương bá Tuấn]

(1) 谄- chǎn- siểm: ý là xu phụ, phụng thừa.

(2) 何如 – hé rú – hà như: “Hà như” trong sách Luận ngữ, đều có thể diễn giải thành怎么样 – như thế nào.

(3) 贫而乐 – pín ér lè – bần nhi lạc: có bản viết “bần nhi lạc đạo.”

(4) 如切如磋,如琢如磨 – rú qiē rú cuō ,rú zhuó rú mó – như thiết như tha, như trác như ma: hai câu này trong “Thi Kinh. Vệ Phong. Kỳ áo.” Có 2 cách giải thích: một thuyết nói “thiết, tha, trác, ma” phân biệt chỉ bốn loại gia công đối với bốn nguyên vật liệu khác nhau là xương, ngà voi, ngọc và thạch, nếu không thì không làm thành vật dụng được; một thuyết nói gia công ngà voi và xương, thiết (cắt, khắc, E: cut) rồi vẫn cần tha (mài, E: polish), gia công ngọc, và đá, trác (mài giũa, E: cut [gems]) rồi vẫn cần ma (mài, E: rub, polish), có ý là đã tốt, hoàn mĩ, tinh xảo rồi còn cầu tốt hơn nữa. (Tinh ích cầu tinh – 精益求精 – jīng yì qiú jīng).

(5) 赐 – Tứ: tên của Tử Cống

(6) 告诸往而知来者- gào zhū wǎng ér zhī lái zhě – cáo chư vãng nhi tri lai giả: 诸, giống như chữ 之 – chi; 往 – vãng: sự tình trong quá khứ, sự tình đã qua; 来 – lai: sự tình trong tương lai, chưa đến.

 

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Tử Cống nói: Bần cùng nhưng không siểm nịnh ton hót, giàu có nhưng không kiêu ngạo tự đại, như thế thì thế nào? Khổng tử nói: Như thế cũng được. Nhưng vẫn không bằng người tuy bần cùng nhưng vui với đạo, tuy giàu có nhưng hiếu lễ (i).

Tử Cống nói: trong sách Thi nói, ‘cần giống như đối với các loại xương, sừng, ngà voi, ngọc thạch, cắt gọt nó, mài giũa nó,’ chính là nói ý này chăng?

Khổng tử nói: Tứ à, đệ tử có thể từ những lời giảng của thầy mà lĩnh hội được những ý tứ thầy chưa nói ra, cử nhất phản tam (ii), thầy có thể cùng đệ tử đàm luận “Thi” rồi.

(i) Chữ “hiếu” là chữ 好, động từ có nghĩa là yêu thích, giống như trong từ hiếu học, chứ không phải hiếu trong trung hiếu.

(ii) Cử nhất phản tam -举一反三 – jǔ yī fǎn sān: phản: dùng một thứ tương tự để giải thích hoặc suy luận ra thứ khác. Ở đây chỉ từ một việc mà suy rộng ra được các việc khác.

 

[Bình luận – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử hi vọng các đệ tử của mình cho đến bất kỳ ai, đều có thể đạt đến ‘bần nhi lạc đạo, phú nhi hiếu lễ’ cảnh giới lý tưởng này, do đó hàng ngày trong lúc giáo dục đệ tử, luôn đem tư tưởng này ra giảng cho họ. Bần nhi lạc đạo, phú nhi hiếu lễ, trong xã hội vô luận là nghèo hay giàu đều có thể yên ổn ở vị trí hoàn cảnh của mình, thì có thể bảo đảm ổn định xã hội. Khổng tử đối với Tử Cống khá hài lòng, trong đoạn hội thoại này có thể thấy điều đó, Tử Cống có khả năng tư duy độc lập, cử nhất phản tam – học một biết mười, do đó đạt được sự tán dương của Khổng tử. Đây là một đặc điểm rõ nét trong tư tưởng giáo dục của Khổng tử.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

无谄 – Vô siểm: người siểm thì nịnh nọt, bợ đỡ, khom lưng uốn gối đối với người khác.

无骄 – Vô kiêu: người kiêu thì khoe khoang, tùy tiện, ngạo mạn đối với người khác. Nghèo cầu nhiều thứ, nên dễ siểm nịnh. Giàu được người khác cậy nhờ vào, nên dễ kiêu ngạo.

可也: so ra là tốt, tốt nhưng vẫn có điểm chưa tốt hết.

未若贫而乐,富而好礼 – vịnhược bần nhi lạc, phú nhi hiếu lễ: có bản sau chữ “lạc” có chữ “đạo.” Nghèo mà có thể không siểm nịnh, giàu mà có thể không kiêu ngạo, đây đều là biết tự giữ bản tính của mình, [nhưng như vậy] vẫn chưa quên [sự phân biệt] giàu nghèo. Lạc đạo- vui với đạo thì sẽ quên sự nghèo túng của bản thân. Hiếu lễ – yêu thích lễ thì sẽ an với việc ăn ở thiện lương, vui với việc noi theo khuôn khép, trong lòng cũng quên đi sự giàu có của mình. Như thế mới càng đáng quý.

如切如磋,如琢如磨 – Như thiết như tha, như trác như ma: câu thơ này có hai giải thích. (Giống như chú thích (4) nên không chép lại ở đây). Theo giải thích của người xưa, thuyết thứ nhất thích hợp hơn.

其斯之谓与 – Kì tư chi vị dư: câu này theo các câu nêu ra phía trước, Tử Cống nghe Khổng tử giảng, biết vô siểm vô kiêu (không siểm nịnh không kiêu ngạo), có thể là do bản chất tốt đẹp tự nhiên từ lúc sinh ra; nhưng việc lạc đạo hiếu lễ (vui với đạo, ngôn hành tuân theo lễ), tất phải trải qua công phu học tập. Theo phần giảng giải ở sau, Tử Cống nghe Khổng tử giảng, vô siểm vô kiêu không bằng lạc đạo hiếu lễ, mà biết ý nghĩa của đạo là vô cùng, càng về sau càng thâm sâu, như sách Thi từng nói. Cái ngộ ra của Tử Cống, có lẽ là ngộ ra sự vô cùng của nghĩa lý (đạo lý). Xét đến nghĩa lý vô cùng, nên không thể bỏ đi học vấn.

告诸往而知来者 – Cáo chư vãng nhi tri lai giả: vãng: thứ đã xảy ra; lai: thứ chưa xảy ra. Theo câu trước mà giải thích, vô siểm vô kiêu không bằng lạc đạo hiếu lễ, là lời Khổng tử đã nói. Còn những lời trong kinh Thi về công phu học vấn, là lời Khổng tử chưa nói, Tử Cống đã ngộ ra đến đây, do đó Khổng tử khen ngợi là có thể cùng Tử Cống bàn về Thi. Theo câu sau mà giải thích, Khổng tử vừa nói vô siểm vô kiêu không bằng lạc đạo hiếu lễ, Tử Cống đã ngộ đến câu Thi này, để thấy tất cả mọi sự việc đều như vậy, không thể yên ổn, hài lòng với thành tựu nhỏ nhoi, mà không cố gắng để truy cầu sự tinh tiến. Cách giải thích đầu thỏa đáng dễ hiểu, cách giải thích sau quanh co phức tạp, nay chọn cách giải thích đầu.

Chương này có thể hiểu như sau: Tử Cống nói: “người nghèo có thể không siểm nịnh, người giàu có thể không kiêu ngạo, như thế có được không?” Khổng tử nói: “thế cũng tính là tốt, nhưng vẫn không bằng nghèo nhưng vẫn có thể vui với đạo, giàu nhưng vẫn biết hiếu lễ, như vậy sẽ càng tốt hơn.” Tử Cống nói: “Thi Kinh từng nói: giống như cắt, gọt, mài, giũa, không phải chính là ý tứ này chăng?” Khổng tử nói: Tứ à! Như thế này, có thể cũng con bàn luận Thi rồi. Nói với con điều này, con đã có thể hiểu đến điều khác.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Phần này nói đến Tử Cống. Chúng ta đặc biệt lưu tâm đến người này. Trước đây đã từng nhắc đến, Tử Cống trong số các đệ tử của Khổng tử, không những là nhà học vấn, mà còn là nhà ngoại giao, nhà chính trị, theo quan niệm hiện đại, còn là một cự tử (ông trùm) trong giới công thương.

Đọc Sử ký của Tư Mã Thiên, có thể thấy một thiên -货殖列传 – Hóa thực liệt truyện, bộ sách Sử ký này, trong lịch sử văn hóa Trung Quốc, có giá trị vô cùng. ‘Hóa thực liệt truyện’ nói về các nhà thương nghiệp, nói về tình hình phát triển kinh tế công thương xã hội. Văn hóa Trung Quốc trong quá khứ trước sau đều là khinh thường thương nghiệp, cái gọi là sĩ, nông, công, thương, đẳng cấp xã hội của thương nhân, ở hàng thấp kém nhất trong tứ dân, bị xã hội coi thường, mà Tư Mã Thiên đã đặc biệt đề cập đến thương nhân, viết ra chương sách này. Lịch sử Trung Quốc về sau đó, mới có tinh thần ‘Hóa thực liệt truyện,’ cũng ghi chép các việc của giới kinh thương. Tư Mã Thiên khi viết ‘Hóa thực liệt truyện,’ là đã nhận thấy sự phát triển của xã hội công thương liên quan đến huyết mạch chính trị quốc gia, không thể không chú ý, nhưng lúc đó không thể thúc đẩy một cách lộ liễu như vậy, cho nên ông đã viết ra ‘Hóa thực liệt truyện,’ ở trong bao gồm rất nhiều các ẩn ý ca ngợi.

[…]

Chúng ta nói đến Tử Cống, lại dẫn dắt đến Sử ký, Tư Mã thiên trong ‘Hóa thực liệt truyện,’ đặc biệt nhắc đến Tử Cống, phi thường giỏi giang, nếu nói cường điệu một chút, tư tưởng học thuyết của Khổng Tử, về sau có thể lưu truyền cho hậu thế, hoàn toàn dựa vào sức của Tử Cống.

Chương này rất đáng chú ý. Các chương trước chủ yếu giảng về học vấn, chương này miêu tả câu chuyện Tử Cống hỏi Khổng tử, như một đoạn phim vậy. Tử Cống nói, thầy ạ, một người rơi vào cảnh nghèo, thiếu may mắn, mà vẫn không nịnh nọt ton hót, không cúi đầu; một người giàu có đắc ý, mà vẫn có thể đối với người khác không kiêu ngạo, như thế nào? […]

Chúng ta thường nghe nói ‘đắc ý vong hình’ (i), nhưng theo kinh nghiệm cuộc sống vài chục năm của ta, cần có thêm một câu, “thất ý vong hình.” Có người vốn là khá tốt, khi anh ta phát tài, đắc ý, xử lý mọi việc đều rất hợp lý, đích đáng, gặp người khác cũng hòa nhã giữ lễ; nhưng một khi anh ta thất ý, đến người khác cũng ko muốn gặp, thể hiện ra một bộ dạng đáng ghét, cảm giác tự ti, các loại phiền não đều đến, con người hoàn toàn thay đổi – thất ý vong hình. Do đó ta mới lĩnh hội được một câu mà Mạnh tử nói: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất (ii). Một người có học vấn, chỉ cần làm được “bần tiện bất năng di” – có thể đạt tới sự thanh nhàn, bình thản, cái gọi là “duy đại anh hùng năng bản sắc”- chỉ có đại anh hùng mới có thể giữ được bản sắc (iii), vô luận đắc ý thế nào cũng vẫn giữ được như vậy, thất ý cũng vẫn như vậy, kể cả không có cơm ăn áo mặc cũng vẫn như vậy, đây gọi là tu dưỡng đến cảnh giới cao, đạt được tu dưỡng như thế này là rất khó.

Do đó câu Tử Cống nói “bần nhi vô siểm, phú nhi vô kiêu,” đích xác không dễ dàng, rất khó đạt được. Nhưng Khổng tử chỉ nói “cũng được” mà thôi. Ở đằng sau hãy còn “nhưng,” nhưng gì? “Vị nhược bần nhi lạc, phú nhi hiếu lễ giả dã.” Anh có thể đạt được đến mức là nghèo, thất ý nhưng không cúi đầu trước người khác, không nịnh nọt, tự cho bản thân như thế là to, không để người khác vào mắt, kì thực lại đầy sự yếu kém trong lòng, hoặc là anh cảm giác người khác tốt hơn, bản thân kém hơn, thế cũng là giữ một loại tâm lý so sánh, tâm lý thù nghịch, do đó tu dưỡng vẫn chưa đủ. Cùng một đạo lý như vậy, anh đạt được giàu có nhưng không kiêu, dùng lễ đối đãi với người khác, do anh cảm thấy bản thân có tiền có địa vị, không dùng thái độ này đối xử với người khác là không được, như thế cũng không đúng, vẫn là giữ cảm giác ưu việt hơn người khác. Do đó nếu đạt đến sự bình dị, thật sự không kiêu ngạo, tức là ở bất cứ vị trí nào, trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng đều có thể bình thường thành thực như vậy, như thế mới là đúng. Vì vậy Khổng tử nói với Tử Cống, như những gì con nói, mới gọi là đạt mà thôi, hãy nên tiến thêm một bước nữa, làm được “bần nhi lạc, phú nhi hiếu lễ.” An bần lạc đạo – An ổn trong cảnh nghèo mà vui với đạo. “An bần” là vô cùng khó, Khổng tử sau đó còn có câu “Quân tử, tố phú quý, hành hồ phú quý, tố bần tiện, hành hồ bần tiện” – quân tử, ở vào cảnh phú quý, nên làm việc người phú quý nên làm; ở vào cảnh nghèo khổ, làm việc người ở cảnh nghèo khổ nên làm (iv). Do đó, có một số người bạn rất xuất sắc, rất thanh cao, lúc nói chuyện phiếm thường hỏi: Anh xem tôi, con người như thế nào? Ta nói: Con người tôi không hoàn toàn đồng ý với anh, anh rất thanh cao, chẳng qua có một chút tùy tiện trong việc truy cầu sự thanh cao. Một người nên thanh cao, nhưng có người theo đuổi sự thanh cao một cách tùy tiện cẩu thả, hoặc vì thể hiện sự thanh cao của bản thân, mà nhẫn nhịn hy sinh. Như thế thật sự là không cần thiết, chính là không bình thường, không bình thường không phải tinh thần chân chính của việc hàm dưỡng, tu dưỡng bản thân. Do đó Khổng tử nói với Tử Cống, cần phải an bần lạc đạo, cần bình thường thành thực, Khổng tử nói nếu như đã đạt đến việc là không kiêu ngạo rồi, vẫn chưa tính là tốt, cần tiến thêm một bước nữa, hiếu lễ, tôn trọng người khác và yêu người khác.

Phú nhi hiếu lễ, chúng ta tiếp xúc với nhân sĩ giới công thương là có thể nhìn ra, những người có tiền trong xã hội, có người vô cùng đáng ghét, không có học vấn (v), mở miệng ra là dung tục không chịu nổi, do đó giàu có không nhất định là hiếu lễ. Hiếu lễ không nhất định là chỉ nói lễ mạo, mà là trong các phương diện học vấn, làm người, luôn luôn cầu tiến. Giả dụ một người thật sự giàu có, có thể không ngừng truy cầu học vấn, không ngừng chú ý đến đạo lý làm người, hành xử, như thế mới là tốt. Có người sau khi công thành danh toại, thường thoát ly dần quan hệ với người thân, bạn bè, đây là việc thật đáng tiếc.

Nói đến đây, lại thấy, biết Tử Cống đã phục thầy, Khổng tử vô cùng xuất sắc, do đó Tử Cống mới nói một câu: ‘Thi vân, ‘như thiết như tha! như trác như ma,’ kì tư chi vị dư!’ Thi này là thơ cổ, ai viết vậy? Là tiền bối cổ nhân viết, thời đó lưu truyền rất rộng. “Như thiết như tha, như trác như ma.” Tám chữ này là dẫn nguyên tác thơ cổ. Bài thơ này nói về phương pháp làm ngọc thạch, lúc mới đầu chỉ có một tảng đá có ngọc to bằng cái mặt bàn. Mua về, trước tiên cần cắt ra, ở trong có thể có hàng trăm mặt nhẫn, cũng có thể chỉ có chục cái. Bước đầu tiên làm vật dụng bằng ngọc, là dùng cưa để cưa tảng đá ra, gọi là thiết (bổ, cắt); tìm thấy ngọc, thì dùng giũa để giũa phần đá ra, là bước thứ hai gọi là tha (giũa); sau khi giũa ra được miếng ngọc, thì từ từ khắc, mài, mài thành hình nhẫn, hình kê tâm (tim gà), hình vòng tay, một hình hay vật dụng nào đó, đây là trác (mài); cuối cùng cần đánh cho bóng lên, khiến cho ngọc phát ra ánh sáng mĩ lệ thu hút, là ma (mài, cọ, xát). Thiết, tha, trác, ma, đây chính là ví dụ cho giáo dục. Một người sau khi sinh ra, cần tiếp thu giáo dục, cần từ kinh nghiệm cuộc sống, mà học hỏi dần, học vấn tăng một bước, công phu càng tinh thế, vượt qua được, học vấn càng khó, vì thế mới “như thiết như tha, như trác như ma, kì tư chi vị dư!.” Câu này đặc biệt đề cao tư tưởng của Khổng tử, như Tử Cống nói: Theo đuổi học vấn như việc chế tạo ngọc, thiết tha trác ma, con hiểu rồi. Sau đó Khổng tử mới trả lời Tử Cống: ‘Tứ dã! Thủy khả dữ ngôn “Thi” dĩ hĩ, cáo chư vãng nhi tri lai giả.’ Khổng tử nói Tử Cống hiểu được đạo lý này, giờ có thể bắt đầu đọc Thư, cũng có thể bắt đầu đọc Thi, vì ta vừa mới chỉ ra đạo lý này, con đã tự suy ra được đạo lý khác. […]

Nhưng câu này nghiên cứu sâu vào lại nảy sinh ra một vấn đề, là vấn đề về “thi” (thơ). Chúng ta biết văn hóa Trung Quốc, trong lĩnh vực văn học, có một quá trình phát triển, đại thể tình hình, từ cái gọi là Hán văn, Đường thi, Tống từ, Nguyên khúc, Minh tiểu thuyết, đến triều Tranh, ta cho là đối liễn, đặc biệt như danh tướng thời kỳ Trung Hưng là Tằng Quốc Phiên, Tả Tông Đường đã phát triển đối liễn đến trình độ cao. Diễn biến hình thái văn học vài nghìn năm của Trung Quốc, đại loại là như vậy.

Trưa hôm nay có một vị học giả, nói đến tác phẩm của rất nhiều người, ông ý nói đã xem qua một số tác phẩm, tùy tiện mà xem, không chú ý lắm. Hiện tại một số tác phẩm xem thật là khó. Ông ý nói là thật vậy. Có một số người có thiên tài văn học, thuận tiện viết vài câu, từ cách viết mà nhìn, liền biết ngay anh ta sẽ có thành tựu trong lĩnh vực văn học; cũng có những người có tài học một đời, nhưng cũng không thể biến thành nhà văn. Mặc dù viết văn có thể viết khá tốt, nhưng đến một trình độ nhất định nào đó, bỏ ra công phu như thế nào cũng không thể đột phá giới hạn của mình, văn chương của anh ta trước sau chỉ như văn chương của một nhà khoa học. […]

Cho đến thơ, trước đây chúng ta đọc sách, có không ít người từ tiểu học (không phải tiểu học ngày nay) đã bắt đầu học thơ. Người nào cũng biết làm thơ, mặc dù có phải nhà thơ hay không, lại là một vấn đề khác. Có người hỏi chúng ta coi trọng việc dạy thơ từ khi nào, đây là một vấn đề rất lớn. Thiên “Vi Chính” tiếp theo sẽ có một phần quan trọng, giải thích cho vấn đề này. Mọi người hay cho rằng, làm thơ chính là không có bệnh mà kêu rên (vi), biến thành thợ làm thơ. Hồi trước cũng có người giễu cợt loại thơ này, cái gọi là “quan môn bế hộ yểm sài phi” (vii) – đóng cổng, đóng cửa, đóng cửa phên, đóng cổng chính là đóng cửa, đóng cửa cũng là đóng cổng, đóng cửa phên cũng là đóng cổng. Bằng trắc rất đúng luật, vần cũng rất đúng, nhưng nếu tập hợp lại với nhau, chẳng có ý nghĩa gì. Đây chính là không có bệnh mà kêu rên, loại văn chương như thế này, thực tại có vấn đề, đã biến thành “quan môn bế hộ yểm sài phi.” […]

Ở đây lời Khổng tử nói với Tử Cống, đề cập đến đạo lý của “Thi” là gì, người làm thơ học thơ, không chỉ là để làm một nhà thơ […]. Mục đích của thơ, không phải là chuyên làm văn học, đạo lý ở trong vô cùng quan trọng. Liên quan đến văn hóa thơ, Khổng tử tiếp theo đã nói với Tử Cống, đọc thơ, không phải là để dạy con trở thành một con mọt sách chua chát, nhất định cần “cáo chư vãng nhi tri lai giả.” Nào phải chỉ làm thơ, chúng ta học lịch sử cũng như vậy, chúng ta tại sao phải học lịch sử? Hiện tại việc học và nghiên cứu lịch sử tại các viện nghiên cứu và khoa lịch sử của các trường đại học, mặc dù đạt được rất nhiều thành tựu, nhưng đối với việc làm người, hành xử, lại không có chút tác dụng nào. Trong quá khứ chúng ta học lịch sử, chủ trương “học dĩ trí dụng” – học là có thể dùng (viii), tinh thần chính là “cáo chư vãng nhi tri lai giả,” hiểu được quá khứ liền biết được tương lai, đây chính là tinh thần của thơ.

Đến cuối cùng, đây chính là kết luận của một thiên Luận ngữ. Mọi người có thể dễ dàng nhận thấy, mở đầu của Thiên thứ nhất “Học nhi” của Luận ngữ: “Học nhi thời tập chi bất diệc duyệt hồ? hữu bằng tự viễn phương lai bất diệc lạc hồ? Nhân bất tri nhi bất uấn bất diệc quân tử hồ?” Chúng ta xem Thiên này kết luận như thế nào?  Có thể thấy mở đầu kết luận liên kết đến nhau.

(i) Đắc ý vong hình -得意忘形 – dé yì wàng xíng (hình ở đây là hình thái; hình dung người đắc ý, cao hứng đến độ mất đi cả tư thế thường ngày. Câu trong Tấn thư, Nguyễn Tịch truyện).

(ii) Nguyên văn câu của Mạnh tử: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, thử chi vị đại trượng phu – 富贵不能淫,贫贱不能移,威武不能屈,此之谓大丈夫. Đây là ba tiêu chuẩn nam tử hán đại trượng phu do Mạnh tử đề xuất: vinh hoa phú quý không thể nhiễu loạn tâm trí được, nghèo khó bần cùng không thể khiến cho thay đổi ý chí được, cường quyền uy vũ không thể làm cho khuất phục được, chỉ khi đạt được 3 tiêu chuẩn này, mới có thể gọi là nam tử hán đại trượng phu chân chính.

(iii) Có một câu ghép từ thời Minh: Duy đại anh hùng năng bản sắc, Thị chân danh sĩ tự phong lưu -唯大英雄能本色,是真名士自风流.

(iv) Quân tử, tố phú quý, hành hồ phú quý; tố bần tiện, hành hồ bần tiện -君子,素富贵,行乎富贵;素贫贱,行乎贫贱 – quân tử, ở vào cảnh phú quý, nên làm việc người phú quý nên làm; ở vào cảnh nghèo khổ, làm việc người ở cảnh nghèo khổ nên làm. Câu này là ở trong Lễ Ký.

(v) Bất học vô thuật -不学无术 – bù xué wú shù (Câu trong Hán thư; nguyên chỉ không có học vấn do đó mà không có biện pháp, hiện chỉ không có học vấn, không có bản lĩnh, tài năng).

(vi) Vô bệnh thân ngâm – 无病呻吟 – wú bìng shēn yín (xuất từ một bài Lâm Giang tiên của Tân khí Tật thời Tống; không có bệnh mà kêu rên; dùng để hình dung không có việc gì ưu thương nhưng lại than thở cảm thương, cũng để hình dung tác phẩm nghệ thuật không có tình cảm thật sự, chỉ giả vờ mà làm thành).

(vii) Quan môn bế hộ yểm sài phi -关门闭户掩柴扉 – đóng cổng, đóng cửa, đóng cửa phên: nói chung để ám chỉ làm thơ lải nhải, trong thơ mỗi câu đều nhắc lại cùng một ý, một sự việc, chỉ là lắp ghép các từ khác nhau lại với nhau.

(viii) Học dĩ trí dụng – 学以致用 – xué yǐ zhì yòng (học được kiến thức là có thể sử dụng trong thực tế).

Hàn sinh

Mỗi ngày một kiến thức: Nguồn gốc chữ “Thị” trong họ tên

Trong một quyển sách tên là 取名宝典 – ‘Thủ danh bảo điển’ của  巨天中 – Cự Thiên Trung, Nhà xuất bản Nam Văn Bác Nhã, giải thích về chữ Thị – 氏 như sau:

Thị là một chi nhánh, ngành họ của Họ, chỉ tồn tại độc lập trong thời gian trước nhà Hán. Họ là tộc hiệu của một thị tộc, thành viên của thị tộc đều lấy tộc hiệu này làm Họ của bản thân. Nhưng về sau con cháu ngày càng đông đúc, phân thành rất nhiều chi, nhánh, dần dần phân tán ra sống ở các nơi, quan hệ cũng ngày càng xa, do vậy mỗi phân chi lại tự xác định cho mình thêm một danh xưng, danh xưng này gọi là Thị. Như vậy, mỗi một thành viên của một phân chi có một Họ, lại có thêm một Thị. Ví dụ như người tộc Thương họ là “Tử,” về sau lại phân thành các Thị “Ân,” “Thời,” “Lai,” “Tống,” vân vân, những người này đều là người tộc Thương, nhưng sống tại các địa điểm khác nhau.

Người xưa đặt Thị như thế nào? Do hạn chế của điều kiện văn hóa lịch sử lúc bấy giờ, rất nhiều bộ tộc khi lựa chọn Thị cho mình, đều xuất phát từ “vật tổ” (những thứ người xưa cho là linh thiêng, đại diện cho thần linh). Có bộ tộc lấy thực vật làm Thị của mình, có bộ tộc lấy động vật làm Thị của mình. [….] Thành viên của thị tộc mà có cùng “vật tổ” không được lấy nhau, vật tổ trở thành tiêu chí để giới hạn hôn nhân. Thị tộc thời kỳ đầu có: Lang Thị (sói), Hùng Thị (gấu), Quy Thị (rùa), Lộc Thị (hươu), Toại Nhân Thị, Hữu SàoThị (sào là tổ, ổ), Tây Lăng Thị, Thần Nông Thị, Thục Sơn thị, Kim Thiên Thị….

Sau thời đại Chiến Quốc, Họ và Thị cơ bản hợp thành một, hầu hết mọi người đều chỉ xưng Họ mà không xưng Thị, chữ “Thị” này liền mất đi ý nghĩa gốc, Thị dần dần đi liền sau họ, dùng để chỉ thành viên gia tộc của một Họ. Ví dụ “Trương thị huynh đệ,” “Vương thị huynh đệ,” “Lưu thị huynh đệ”… là chỉ anh em họ Trương, anh em họ Vương, anh em họ Lưu…

Và ở Việt Nam….?

Phía trên đây là nguồn gốc chữ Thị từ thời xa rất xa.

Ở Việt Nam, tên Nguyễn Thị A, Hoàng Thị B, khi viết bằng tiếng Hán, đều là chữ Thị này (chứ không phải như tưởng tượng phong phú của một số người, thị có nghĩa là chợ, thị có nghĩa là nhìn). Nếu giải thích ngheo nghĩa gốc, thì sẽ hiểu là người tên A của dòng họ Nguyễn, người tên B của dòng họ Hoàng.

Nhưng chưa tìm hiểu, tập tục “nam Văn nữ Thị” từ khi nào mà có?

HS

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.14

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.14

1.14 子曰:“君子食无求饱,居无求安,敏于事而慎于言,就有道而正焉,可谓好学也已。”

Zǐ yuē :“jūn zǐ shí wú qiú bǎo ,jū wú qiú ān ,mǐn yū shì ér shèn yū yán ,jiù yǒu dào ér zhèng yān ,kě wèi hào xué yě yǐ 。” 

Tử viết: “Quân tử thực vô cầu bão, cư vô cầu an, mẫn ư sự nhi thận ư ngôn, tựu (1) hữu đạo (2) nhi chính (3) yên, khả vị hiếu học dã dĩ.”

[Chú thích]

(1) 就 – jiù – tựu: tiếp cận, tiến gần đến, tiếp bước, noi theo

(2) 有道 – yǒu dào – hữu đạo: chỉ người có đạo đức.

(3) 正 – zhèng – chính: khuông chính, đoan chính – sửa chữa, sửa cho đúng lại.

[Giải nghĩa câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Quân tử, ăn uống không cầu no đủ, ở không cầu dễ chịu, đối với công việc cần lao mẫn tiệp, nói lời cẩn thận thận trọng, đến gần người có đạo đức mà tự sửa bản thân, như thế có thể nói là hiếu học vậy.”

[Bình luận – Dương Bá Tuấn]

Trọng điểm của chương này là đề ra yêu cầu đạo đức đối với quân tử. Khổng tử cho rằng, một người có đạo đức, không nên chú tâm quá mức về các vấn đề ăn uống ở của bản thân, mà trong công việc nên cần lao (siêng năng chịu khó) mẫn tiệp (nhanh nhẹn), cẩn thận, thận trọng, lại còn có thể thường xuyên kiểm điểm bản thân, nhờ người có đạo đức giúp mình sửa chữa ngôn hành cử chỉ. Làm nên quân tử cần khắc chế truy cầu các dục vọng thụ hưởng vật chất, mà đem lực chú ý vào bồi dưỡng phẩm chất đạo đức của bản thân, điều này mới đáng học hỏi.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Thực vô cầu bão, cư vô cầu an: không cầu ấm no, chí hướng ở tại việc học hành, không rảnh rỗi mà cầu chuyện ấm no. Một giỏ thức ăn, một bầu nước uống, ở nơi ngõ hẹp, mà vẫn vui trong hoàn cảnh của mình. Nếu như chí hướng ở tại việc cầu ấm no, rồi cả đời cũng sẽ bận rộn không có thời gian.

Mẫn ư sự nhi thận ư ngôn: mẫn: nhanh nhẹn, mau lẹ; thận: thận trọng. Đối với sự việc cố gắng hết sức của mình cũng không đủ, đối với lời nói không dám nói dư lời nào.

Tựu hữu đạo nhi chính yên: hữu đạo, là nói người có đạo đức hoặc học đạo; chính: hỏi mình đúng hay sai. Nếu có thể làm được như những điều kể trên, lại vừa tựu hữu đạo nhi chính (hướng đến người có đạo đức mà hỏi việc đúng sai), lúc đó có thể gọi là hiếu học.

Chương này có thể diễn giải như sau: quân tử, ăn không cầu no, ở không cầu an, làm việc nhanh nhẹn, nói lời thận trọng, lại có thể thường xuyên theo người có đạo mà tự nhận ra và sửa chữa việc đúng sai của bản thân, như thế có thể tính là hiếu học vậy.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Nói về đạo lý của học vấn, không chỉ là đọc sách “chết,” mà còn là chú trọng đến việc làm người xử thế trong hiện thực nhân sinh. Khổng tử nói sinh hoạt không cần quá xa xỉ, “thực vô cầu bão,” đặc biệt là trong hoàn cảnh khổ nạn khó khăn, không cần có yêu cầu quá mức, quá đầy đủ xa xỉ. Thái độ của Khổng tử đối với sinh hoạt đời sống của bản thân, tiêu chuẩn làm người được ghi trong thiên Hương đảng. “Cư vô cầu an,” nơi ở chỉ cần thỏa đáng, có thể an bần lạc đạo (i), không cần tham lam truy cầu sự an dật (yên vui an nhàn) quá độ, tham lam truy cầu sự thụ hưởng quá độ. Ý nghĩa của hai câu này, là không truy cầu hưởng thụ vật chất sinh hoạt, mà coi trọng sự thăng hoa của đời sống tinh thần. “Mẫn ư sự nhi thận ư ngôn,” bao gồm tất cả các loại trách nhiệm, các loại việc nên làm, cần mẫn tiệp – lập tức làm. “Thận ư ngôn,” không nên nói loạn. “Tựu hữu đạo nhi chính yên,” “đạo” này là chỉ học vấn, tu dưỡng. Thế thì nơi nào gọi là “hữu đạo”? Sách của người xưa, trong sách chính là “hữu đạo”, từ các đạo lý làm người xử thế trong sách mà tu thân sửa mình, như thế này gọi là hiếu học. Có thế thấy thiên Học nhi này, không hề nói đọc sách là học vấn, trước sau có rất nhiều chỗ, đều chứng minh như vậy.

(i) An bần lạc đạo – 安贫乐道 – ān pín lè dào (câu trong Hậu Hán Thư. An ổn với việc nghèo khó, lấy việc kiên trì với đạo của mình làm lạc – niềm vui. Đạo trước chỉ đạo đức, sau chỉ cả lý tưởng, niềm tin ).

Si

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.13

1.13 有子曰:“信近于义,言可复也;恭近于礼,远耻辱也;因不失其亲,亦可宗也。”

Yǒu zǐ yuē :“xìn jìn yū yì ,yán kě fù yě 。Gōng jìn yū lǐ ,yuàn chǐ rǔ yě 。Yīn bù shī qí qīn ,yì kě zōng yě 。”

Hữu tử viết: “Tín cận (1) ư nghĩa (2), ngôn khả phục (3) dã. Cung cận ư lễ, viễn (4) sỉ nhục dã; nhân (5) bất thất kì thân, diệc khả tông (6) dã.”

 [Chú giải]

(1) 近 – jìn – cận: Ý nghĩa là tiếp cận (kề cận, cách không xa, thân cận), phù hợp.

(2)义 – yì – nghĩa:Nghĩa là phạm trù luân lý của Nho gia. Là chỉ tư tưởng và hành vi phù hợp tiêu chuẩn nhất định. Tiêu chuẩn này là “Lễ.”

(3) 复 – fù – phục: Ý nghĩa là thực tiễn. Chu Hi “Tập chú” viết: 复,践言也 – phúc, là nói tiễn (thực hành, thi hành).

(4) 远 – yuàn – viễn:phiên âm là yuàn,động từ, sử dụng như động từ, ý nghĩa là viễn ly, cách xa, tránh xa, ở đây có thể giải thích là tránh.

(5) 因 – yīn – nhân:Dựa vào, ỷ vào. Có thuyết nói 因 nên viết là 姻- nhân (trong hôn nhân, chỉ quan hệ thân thuộc do hôn nhân mà thành), nhưng xét cả đoạn trên dưới thì thấy như thế có chỗ không thích hợp.

(6) 宗 – zōng – tông: Chủ (người lãnh đạo), có thể dựa vào được (reliable), thường được giải thích thành “tôn kính” cũng có chỗ không thích hợp.

[Giải nghĩa câu]

Hữu tử nói: ‘nói tín cần phù hợp với nghĩa, lời nói (phù hợp với nghĩa) mới có thể thực hành. Cung kính cần phù hợp với lễ, như vậy mới tránh xa được sỉ nhục. Những người mà dựa vào đều là người đáng tin cậy, mới xứng đáng tôn kính.’

[Bình luận – Dương Bá Tuấn]

Câu này của Hữu tử, thể hiện Khổng tử và các đệ tử cực kỳ coi trọng “信”- “tín” và “恭” -“cung” [cung trong cung kính, kính cẩn, kính trọng – YL]. “Tín” và “cung” đều cần lấy Chu lễ làm tiêu chuẩn, lời nói không phù hợp với lễ tuyệt không thể nói, nói ra là không phải thái độ của “tín”; việc không phù hợp với lễ tuyệt không thể làm, làm tức là không phải thái độ của “cung.” Ở đây là giảng về thái độ cơ bản của việc làm người xử thế.

 [Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Ngôn khả phục dã:  có ước hẹn với người khác mà cố giữ chữ tín, nhưng việc cố giữ ước hẹn này cần phải gần với nghĩa, mới có thể thực hành, giữ chữ tín được. Phục, phản phục, ở đây có nghĩa thực hành, tuân thủ lời nói.

Viễn sỉ nhục dã: cung kính cần phải hợp lễ, nếu không dễ tìm đến sự sỉ nhục.

Nhân bất thất kì thân, diệc khả tông dã: Nhân, giống như 依 – ỷ – dựa vào, tựa vào; Tông, giống như 主 – chủ – tông chủ, người lãnh đạo. Người mà dựa vào nhưng vẫn không mất đi khả năng thân cận (thân thiện gần gũi), thì khi cần được giúp đỡ có thể nương nhờ vào, cũng có thể thân cận như với bậc lãnh đạo. Hoặc nói: 因 – nhân là giản lược của 姻 – nhân (hôn nhân). Tông giả, thân như đồng tông (có chung tổ tông, họ hàng). Ngoại thân (người nhà vợ) không khác biệt mà như người thân [có chung tổ tông] của mình. Nay xét: giải thích đầu là thuyết thông dụng, giải thích sau là chuyên biệt. Nay theo thuyết đầu.

Chương này nói cùng người khác giao tế, cần cẩn thận ngay từ đầu, mà về sau có thể có được kết cục mĩ mãn. Có thể thấy được đạo có phân biệt trước sau cao thấp. Tín và cung đều là mỹ đức, như vậy cần hợp nghĩa hợp lễ.Có việc phải nương tựa vào người khác là điều không thể tránh khỏi, nhưng cần tìm người có thể thân.

Hữu tử nói: cùng với người khác ước hẹn mà muốn giữ chữ tín, trước hết cần giữ được nghĩa, rồi mới có thể tuân theo thi hành được. Cung kính với người khác, trước hết cần hợp lễ, rồi mới có thể tránh xa sự sỉ nhục. Gặp lúc cần phải dựa vào người khác, trước hết cần phải chọn người có thể thân, mới có thể dựa vào như người lãnh đạo vậy.

 [Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

“Tín cận ư nghĩa, ngôn khả phục dã.” Tại sao văn hóa Trung Quốc đề xướng “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”? “Tín” có chỗ nào tốt? Tại sao phải dạy con người ta xây dựng “tín”? Do “tín cận ư nghĩa” – tín gần với nghĩa, mà người có nghĩa/việc nghĩa thì tương thích,  hòa hợp với nhau. Chữ nghĩa này là một biểu hiện của sự bất đồng trong văn hóa Đông Tây. Chúng ta cần chú ý hai chữ “nhân nghĩa,” chữ “nhân,” tất cả bác ái, từ ái đều gọi là “nhân,” văn hóa các nước trên thế giới, đều có chữ đồng nghĩa với “nhân.”  Nhưng chữ “nghĩa” của Trung quốc, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, hay tiếng bất cứ nước nào đều không có từ đồng nghĩa. Chỉ có văn hóa Trung Quốc mới có. Chữ “nghĩa” này, có hai cách giải thích, giải thích của Nho gia Khổng môn là: 义者宜也” – “nghĩa giả nghi dã” – người nghĩa/việc nghĩa thì “nghi” – thích hợp, thích nghi, phù hợp. Vừa vặn, thích đáng, phù hợp, ở mức tốt đẹp, đem lại lợi ích gọi là nghi, đây cũng là tác dụng trung hòa của lễ, như “时宜” – thời nghi – hợp thời, hợp xu thế, cũng mang ý này. Cách giải thích khác, chính là tinh thần “hiệp nghĩa” của Mặc tử, cái gọi là “lộ kiến bất bình, bạt đao tương trợ” – trên đường gặp việc bất bình, rút đao giúp đỡ. Người Trung Quốc có tính cách này, có thể bán mạng vì bạn bè, loại tính cách này, có lúc so với ảnh hưởng của Nho gia còn lớn hơn, vì bạn bè, cho rằng tính mạng này có thể cho bạn, không có vấn đề gì hết, giúp bạn có thể cho luôn tính mạng, các dân tộc khác cũng có loại tinh thần này, nhưng không có loại định nghĩa này.

Chúng ta có loại văn hóa này, với lại trong quá khứ tồn tại phổ biển trong hạ tầng xã hội. Điều này rất quan trọng, đặc biệt là một quốc gia trong giai đoạn có nhiều biến loạn càng lộ rõ, trong thời kỳ kháng chiến có thể thấy, tinh thần hy sinh vì quốc gia dân tộc của bách tính, vô cùng vĩ đại, chính là biểu hiện của văn hóa Trung Quốc. Có người nói đây là ảnh hưởng của Nho gia Khổng Mạnh, hoàn toàn không phải như vậy, kì thực là do Tam Quốc diễn nghĩa các loại tiểu thuyết dạy mà ra. Do đó dân tộc Trung Hoa có tinh thần trung nghĩa, đây là đặc tính của dân tộc chúng ta, là sở trường đặc biệt, do đó những người phụ trách giáo dục như chúng ta, cần lưu ý đến vấn đề này.

Ở đây, “nghĩa” trong “tín cận ư nghĩa,” cùng với chữ “nghĩa” của Mặc tử, có điểm giống nhau. Con người tại sao phải thủ tín (giữ gìn/tuân thủ chữ tín )? Đã đáp ứng rồi, nhất định phải làm được. Vì thế chúng ta trong lịch sử có câu chuyện nổi tiếng “Quý Bố nhất nặc thiên kim” –  Quý Bố một lời nói ra đáng ngàn vàng (i). Trong Luận ngữ có Tử Lộ cũng là người như vậy. “Ngôn khả phục dã,” người thủ tín, không thể nói lời sáo rỗng, do “ngôn khả phục dã,” lời nói ra tất cần “khôi phục.” “恢复”- “khôi phục” – lấy lại được, hồi phục, thu phục là gì? Chính là lời nói ra cần thực hiện, biến thành sự thực.

“Cung cận ư lễ, viễn sỉ nhục dã.” Trong lúc thực hành lễ mạo cần cung kính. Cái gọi là cung, là đối với sự tình cẩn thận trang trọng từ trong nội tâm, chứ không phải là khi thấy người khác tỏ ra kính lễ là cung; mặc dù không kính lễ, nhưng lúc bạn bè gặp khó khăn, loại tinh thần quan tâm vô hạn, không cần nói ra cũng biết. Do đó con người cung kính hay không cung kính, mặc dù thái độ biểu hiện ra bên ngoài rất quan trọng, nhưng thứ trong nội tâm càng quan trọng hơn. Vì vậy cung kính chính là lễ. Giữa người và người tại sao cần cung kính? “Viễn sỉ nhục dã,” miễn đi việc chuốc lấy sự sỉ nhục vô vị.

“Nhân bất thất kì thân, diệc khả tông dã.” “Nhân” là động cơ, văn hóa Trung Quốc: thân ái với người thân, nhân ái với nhân dân, thương yêu quý mến vạn vật (ii). “Nhân bất thất kì thân,” ý nghĩa là con người không thể làm được việc là [làm người] tuyệt đối vô tư. (Vấn đề này sẽ được thảo luận sau, trong văn hóa Trung Quốc có 2 loại quan niệm từ Đạo gia mà ra, một là đại công vô tư (iii), một là tuyệt đối tự tư, hai loại tư tưởng cực đoan, đối với chúng ta mà nói đều là làm không được. Nho gia chủ trương tự tư có giới hạn.) Lấy một ví dụ, nếu ai cũng không có áo mặc, ta có được một tấm, trước hết phải để cho cha của ta mặc,  cha mặc rồi thì đến ta mặc, đợi đến khi có thêm một tấm khác, mới đưa cho người khác mặc. Tấm lòng và hành động giúp đỡ người khác, trước gần sau xa, dần dần rồi mới mở rộng ra cho mọi người. “Diệc khả tông,” được như vậy, mới có thể kính trọng.

(i) Quý Bố là tướng thời Hán Sở tranh hùng và đầu đời Hán.

(ii) 亲亲而仁民,仁民而爱物: thân thân nhi nhân dân, nhân dân nhi ái vật: thân với người thân mà nhân với người dân, nhân với người dân mà yêu vạn vật; câu trong sách Mạnh tử.

(iii) Đại công vô tư – 大公无私 – dà gōng wú sī (chỉ làm việc công chính, không có tư tâm – lòng riêng. Câu có từ đời Hán. Hiện chỉ làm việc xuất phát từ lợi ích của tập thể chứ không phải là tính toán riêng cho một người).

Si

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.12

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.12

Chương này thấy mỗi học giả chấm câu theo một kiểu. Ở đây là ta giữ chấm câu theo cách của Dương Bá Tuấn, bởi cho đến giờ vì dùng sách của Dương Bá Tuấn làm tài liệu cơ bản để học Luận ngữ. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là cách chấm câu của học giả này là đúng, còn của các học giả khác là sai. Ai hợp lý hơn, để người học tự xét.

 

1.12 有子曰:“礼之用,和为贵。先王之道,斯为美。小大由之, 有所不行。知和而和,不以礼节之,亦不可行也。”

Yǒu zǐ yuē :“Lǐ zhī yòng ,hé wéi guì 。Xiān wáng zhī dào ,sī wéi měi 。Xiǎo dà yóu zhī, yǒu suǒ bù xíng 。Zhī hé ér hé ,bù yǐ lǐ jié zhī ,yì bù kě xíng yě 。”

Hữu tử viết: “lễ (1) chi dụng, hòa (2) vi quý. Tiên vương chi đạo (3), tư (4) vi mỹ. Tiểu đại do chi, hữu sở bất hành. Tri hòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành dã.”

 

(1) 礼 – lǐ – lễ: ở thời Xuân Thu, “lễ” là chỉ chung chế độ điển chương và quy phạm đạo đức của xã hội nô lệ, phong kiến. “Lễ” của Khổng tử, là chỉ “Chu lễ,” lễ tiết, nghi thức, cũng chỉ quy phạm quy phạm đạo đức của con người.

(2) 和 – hé – hòa: điều hòa, hài hòa, hòa hợp, phối hợp hài hòa.

(3) Tiên vương chi đạo: chỉ đạo trị thế của Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ, Chu công, các bận đế vương cổ đại.

(4) 斯 – sī – tư: ý là đây, này. Ở đây chỉ “lễ,” cũng chỉ “hòa.”

 

[Giải nghĩa câu – Dương Bá Tuấn]

Hữu tử nói: Ứng dụng của lễ, là lấy hài hòa, hòa hợp làm quý. Phương pháp trị quốc của các bậc quân chủ thời cổ đại, điều đáng trân quý chính là ở chỗ này. Nhưng bất luận việc to việc nhỏ, chỉ theo biện pháp hài hòa mà làm, có lúc làm không thông. (Lý do ở đây là) vì (giữ) hài hòa mà hài hòa, không dùng lễ để tiết chế hài hòa, cũng là không khả thi vậy.

[Phân tích bình luận – Dương Bá Tuấn]

Hòa là luân lý (ethics), là nguyên tắc chính trị và xã hội do Nho gia đặc biệt đề xướng. Lễ ký – Trung dung viết: 喜怒哀乐之未发谓之中,发而皆中节谓之和 – ‘Hỉ, nộ, ai, lạc chi vị phát vị chi trung, phát nhi giai trung tiết vị chi hòa’ – hỉ, nộ, ai, lạc (mừng, giận, buồn, vui) trong lúc chưa phát tiết ra, trong quá trình phát ra đều được tiết chế gọi là hòa. Trong sách ‘Luận ngữ sơ chứng’ của Dương Ngộ Phu viết: ‘Trong mọi việc được tiết chế đều gọi là hòa, không chỉ trong những việc mà liên quan đến hỉ nộ ai lạc. Hòa là nói thích hợp, thích đáng, cư xử tốt đẹp.’ Khổng môn cho rằng, việc thi hành, ứng dụng lễ cần lấy hài hòa làm quý. Nhưng, nếu việc nào cũng nói đến hài hòa, hoặc là lấy mục tiêu hài hòa làm chính, hài hòa để mà hài hòa, không bị lễ tiết phép luật ước thúc, thì làm cũng không xong. Đây là nói, chỉ cần tuân thủ các khác biệt đẳng cấp do lễ quy định, trong đối đãi với nhau sẽ không xuất hiện bất hòa. Khổng tử trong chương này đề ra quan điểm này là có ý nghĩa của nó. Trong xã hội chủ nô phong kiến, phân biệt và đối lập giữa các đẳng cấp là vô cùng nghiêm khắc, giới tuyến [giữa các đẳng cấp] không dung bất kỳ nhiễu loạn nào. Người thuộc đẳng cấp trên, lấy lễ nghĩa nghi thức của bản thân để biểu hiện uy phong; Người thuộc đẳng cấp dưới, tất đem lòng sợ hãi mà duy mệnh thị tòng (i). Nhưng đến thời Xuân Thu, loại quan hệ xã hội này bắt đầu đổ vỡ, hiện tượng tôi giết vua, con giết cha đã thành thường xuyên. Đối với vấn đề này, đề xuất ‘hòa vi quý,’ mục đích là vì hòa hoãn sự đối lập giữa các đẳng cấp khác nhau, không để đổ vỡ quan hệ, để an định trật tự xã hội đương thời.

Nhưng nếu nhìn từ mặt lý luận, chúng ta sẽ cảm thấy, Khổng tử cường điệu việc vận dụng lễ lấy hòa làm quý, lại chỉ ra không thể vì hòa mà hòa, cần lấy lễ để tiết chế, có thể thấy hòa mà Khổng tử đề xướng không phải là điều hòa một cách vô nguyên tắc, mà ở đây có tính hợp lý của nó.

(i) Duy mệnh thị tòng – 唯命是从 – wéi mìng shì cóng (hoàn toàn tuân theo mệnh lệnh, câu trong Tả truyện)

[Luận ngữ tân giải- Tiền Mưu]

(Do cách châm câu khác nên chép lại ở đây)

有子曰:“礼之用,和为贵。先王之道,斯为美小大由之。有所不行。知和而和,不以礼节之,亦不可行也。”

Hòa vi quý: lễ chủ về kính (tôn kính, kính trọng, cung kính), ở giữa quần chúng nói chung có nhiều các loại lễ để phân biệt. Trên thực tế lễ lấy hòa làm quý, là ở giữa mọi người lấy các loại lễ nghĩa để điều hòa.

Tư vi mĩ: Tư chỉ lễ, cũng chỉ hòa. Đạo của tiên vương,  lấy lễ làm đức hạnh, làm điều tốt đẹp. Hòa ở trong lễ, nên cũng là lấy hòa làm điều tốt đẹp.

Tiểu đại do chi: sự việc bất kể to nhỏ, đều thuận theo lễ, cũng là đều thuận theo hòa.

Hữu sở bất hành: bốn từ này liền với vế sau. Nếu gặp chỗ không làm được, thì sẽ như sau.

Tri hòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành dã: tiết, có nghĩa là phạm vi quy định khác biệt. Giống như đốt tre, mặc dù thông với nhau, nhưng đốt trên đốt dưới có sự khác biệt. Cha con vợ chồng, quan hệ rất thân mật, nhưng hai bên suy cho cùng vẫn có sự phân biệt, có lễ tiết quy định, khiến cho ở cùng nhau mà hòa.  Chỉ chú trọng hòa, mà không có lễ để tiết chế, tất không được. Nghĩa mở rộng là chỉ có lễ mà không có hòa cũng không được, chính là do chữ “diệc” này. (diệc có nghĩa là “lại,” “cũng là”).

Nghĩa chủ đạo của chương này, lễ tất phải hòa thuận từ trong tâm, khiến cho mọi người đều vì thế mà an, chứ  không phải [thứ] tình không chịu nổi, mà dùng lực cũng không thể gượng ép, thế mới gọi là đáng quý. Nếu cố cưỡng ép mà lập nên lễ, đến cuối cùng không thể hòa, thì sao mà làm được? Cho nên Lễ không phải là dùng sự bó buộc nghiêm khắc mà cưỡng ép người khác, mà là dùng lễ để đạt được hòa. Đây là ý nghĩa tốt đẹp nhất của lễ của Khổng môn, người học không thể không tìm hiểu kỹ.

Hữu tử nói: Việc vận dụng lễ, quý ở chỗ có thể hòa. Đạo của tiên vương, điểm tốt đẹp chính là ở chỗ này, việc to việc nhỏ đều nhờ điều này mà thông. Nhưng cũng có lúc làm không được. Chỉ biết là cần phải hòa, chỉ chú trọng dùng hòa, mà không dùng lễ để tiết chế hòa, cũng không làm được vậy.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

[Có một đoạn cảm khái về lễ nghĩa đang trở nên lung tung, ta bỏ không dịch].

“Lễ chi dụng, hòa vi quý.” Câu này tương đương với triết học của lễ. Lễ là để làm gì? Là có tác dụng trung hòa, nếu nói mở rộng ra một chút là hòa bình. Đây cũng là tư tưởng của lễ. Giữa người với người sẽ có những khác biệt, cũng như vậy giữa sự việc với sự việc có mâu thuẫn; trung hòa mâu thuẫn này, điều chỉnh sự khác biệt này, đều dựa vào lễ. Như vậy pháp luật cũng là một tác dụng của lễ, dưới các nguyên tắc của pháp luật, từ trị lý quốc gia cho đến các nguyên tắc rất nhỏ để làm việc gì đó, đều là tác dụng của lễ. Giả dụ không có lễ, xã hội sẽ không có trật tự, như thế làm sao được? Do đó giữa người với người cần lễ, giữa việc với việc cần lễ, mà tác dụng của lễ, là “hòa vi quý,” chính là sự điều chỉnh, điều hòa.

“Tiên vương chi đạo, tư vi mỹ. Tiểu đại do chi.” Trong văn hóa Trung Quốc gọi tiên vương, không phải chỉ tiên vương của bất kỳ một vị hoàng đế nào, hai chữ “tiên vương” này,  chính là thứ mà ngày nay chúng ta gọi là “truyền thống văn hóa,” “Trung Quốc văn hóa.” […] Chúng ta hiểu tinh thần của hai chữ “tiên vương” này, là đại diện cho liệt tổ liệt tông. […] “Tiểu đại do chi,” vô luận việc to việc nhỏ, đều cần dùng tinh thần của lễ mà xử lý, bỏ đi tinh thần của lễ là không được, nhất định xảy ra vấn đề.

“Hữu sở bất hành, tri hòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành dã.” Ở đây là nói về đạo lý mâu thuẫn cân bằng. Chúng ta thường thấy bốn chữ “矫枉过正” – Kiểu uổng quá chính (i), “枉”- “uổng” là méo, lệch, nghiêng, nhìn thấy sự vật méo lệch, cần phải uốn nắn cho thành thẳng; uốn quá độ, lại thành méo lệch. Nói cách khác, không phải lệch về hướng này, có nghĩa là cũng lệch về hướng khác. Tóm lại, “过正” – “quá chính” – quá/ vượt qua [giới hạn] thẳng, chính là méo lệch. Lễ cũng như vậy, cần trung hòa, nhưng điều tiết quá mức lại thành không tốt. Một người thanh niên không hiểu tý gì về lễ mạo tất nhiên là không đúng, nhưng cả ngày từ sáng đến tối chỉ nói về lễ mạo, quá nhiều lễ, người ta lại tưởng nhầm anh ta vỗ mông ngựa (nịnh nọt), do đó “tri hòa nhi hòa,” đối với mỗi sự việc, hiểu được đạo trung hòa của nó, mà đi trung hòa, đi điều chỉnh nó. Nhưng điều chỉnh quá mức lại thành sai, “bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành dã.” Do đó tinh thần cơ bản của lễ nghĩa, là điều tiết một sự việc, trung hòa một sự việc, nhưng cần phải có giới hạn mức độ nhất định, làm quá giới hạn này, lại phải điều chỉnh lại từ đầu.

Muốn nghiên cứu văn hóa Trung Quốc, không thể không xem cuốn “Lễ ký” do Khổng tử soạn. Lễ ký là trước tác về truyền thống văn hóa thời kỳ đầu, không cái gì không có. Nếu dùng học thuật hiện đại mà nói, Lễ ký bao gồm triết học, chính trị, quân sự, kinh tế, vệ sinh, y học các loại học vấn. Đương nhiên, không phân biệt chi tiết như hiện tại. Do đó bộ Lễ ký này, không chỉ nói về lễ mạo; lễ tiết lễ mạo của chúng ta, chỉ là một dạng biểu hiện của lễ mà thôi.

Chữ “Lễ” của văn hóa Trung Quốc, dùng văn hóa phương Tây mà nói, chính là triết học. Triết học nói chung có thể chia thành hai phạm vi, dùng đạo lý Trung Quốc mà nói, một phạm vi là hình nhi thượng, một là hình nhi hạ. Cái gọi là hình nhi hạ, là tất cả mọi học vấn trong vũ trụ, đều bao gồm trong đó; hình nhi thượng, ở Trung Quốc mọi người gọi là “đạo,” trong tư tưởng Nho gia gọi là “thiên,” “thiên đạo” cũng là “bản thể luận.” Hình nhi hạ, trong triết học phương Tây, cũng là “tri thức luận,” “giá trị nhân sinh luận.” Triết học phương Tây đại khái phân loại như vậy. Danh xưng “hình nhi thượng,” xuất xứ từ “Kinh dịch,” người Nhật bản khi dịch triết học Hy lạp, mượn danh từ này trong Kinh dịch – “形而上者谓之道” – “hình nhi thượng giả vị chi đạo” – hình nhi thượng gọi là đạo.

“Hình nhi thượng” là cái gì? Chính là vấn đề nguồn gốc của vũ trụ – con gà có trước hay quả trứng có trước? nam có trước hay nữ có trước? Rốt cuộc vạn vật trong vũ trụ này là do ai sáng tạo ra? Tông giáo gia nói là do một vị chúa tể sáng tạo ra. Triết học gia liền hỏi vị chúa tể này là từ đâu đến vậy? tạo ra vị chúa tể này là ai? Giả sử tạo ra chúa tể là mẹ của chúa tể, vậy bà ngoại của chúa tể là ai? Triết học gia muốn truy nguyên đến tận cùng. Thảo luận đạo hình nhi thượng này, chính là “bản thể luận.” “Hình nhi hạ” là nói các loại hiện tượng và các loại tri thức sau khi vạn vật trong vũ trụ đã hình thành. Nghiên cứu “bản thể luận” của phương Tây, bắt đầu rất sớm ở Hy Lạp, đã có hai ba ngàn năm lịch sử. Thời đó đại khái cũng chia thành hai trường phái, một phái là tư tưởng duy vật, một phái là tư tưởng duy tâm. Duy tâm này khác với duy tâm hay được nhắc đến trong văn hóa Trung Quốc. Nói đến triết học, vấn đề nguồn gốc tư tưởng cơ bản này, trước hết cần phải nhận thức rõ ràng, mới tránh được lẫn lộn.

Sau đó các nhà triết học cho rằng: con người làm sao để biết nguồn gốc của vũ trụ? Là dựa vào tri thức, dựa vào tư tưởng, vậy thì, bản thân tư tưởng có đáng tin để dựa vào được không? Trước hết cần phải nghiên cứu. Do vậy mà sinh ra tri thức luận. Giả sử không dựa vào được bản thân tư tưởng, vậy thì dùng tư tưởng để hiểu về “căn nguyên của vũ trụ,” cũng chưa phải là hoàn chỉnh. Đây chính là phạm vi của triết học. Ngành học thuật này trải qua một mạch vài ngàn năm lịch sử, người Trung Quốc mới theo phiên dịch của người Nhật Bản, mà gọi nó là “triết học.”

Một bộ phận khác là “triết học nhân sinh” – vấn đề giá trị của người nghiên cứu.

Theo cách nhìn của các nhà triết học phương Tây, người Trung Quốc không có triết học. Ít nhất là Trung Quốc trong quá khứ không như người phương Tây, nghiên cứu về bản thể của vũ trụ. Như chúng ta hiện nay thấy rõ, hệ thống này của văn hóa Tây Phương rất nghiêm túc cẩn thận, tư tưởng triết học của họ lúc đầu là tông giáo, tông giáo chỉ dậy con người ta tín, lại còn chuyên chế cường quyền, tuyệt không dung cho ai hoài nghi. Anh muốn biết thượng đế từ đâu mà có, nhưng cũng không thể hỏi, chỉ cần “tín” là được cứu vớt. Nhà triết học nói, muốn tôi tin cũng được, nhưng cần phải kéo tấm màn che đó ra cho tôi xem, sau khi xem xong, sẽ tin tuyệt đối. Đây là tinh thần triết học.

Sau đó, vì triết học phát triển, liền hình thành nên một khoa học, nhà triết học lại tiến thêm một bước nói, chỉ nhìn rõ thôi chưa đủ, phải chạm được vào, sau đó mới tin được là đích xác có thứ đó. Do đó, vì tông giáo mà có triết học, mà triết học, là tiến trình phát triển của văn hóa phương Tây ngày nay.

Người Trung Quốc thật sự không có triết học sao? Có! Triết học của Trung Quốc là “triết học nhân sinh.” Chỉ nói về đạo đức của luân lý làm người, nói làm người nên làm thế nào. Người phương Tây cho rằng chúng ta không có triết học, một số nhà triết học nước tôi (i) trong quá khứ cũng nói với người khác như vậy, điều này là không đúng. Trên thực tế, tư tưởng triết học Trung Quốc, điều nằm trong các quyển sách như “Lễ ký,” “Kinh dịch,” có rất nhiều, nhưng cần có người nỗ lực chỉnh lý. Học giả nước tôi, trong vài chục năm gần đây, đã chỉnh lý [sách xưa] ra được tư tưởng triết học, nhưng vẫn còn thiếu, thiếu rất nhiều. Chưa kể còn có thiên kiến. Điều này hãy còn cần chúng ta ôn cố tri tân, nỗ lực hơn nữa trong vấn đề này.

Hiện tại, trọng điểm của chúng ta là: “lễ” không chỉ là lễ mạo, lễ tiết, mà bao quát triết học hình nhi thượng, và tất cả các vận dụng trong nhân sinh của hình nhi hạ.

(i) Kiểu uổng quá chính -矫枉过正– jiǎo wǎng guò zhèng (câu trong Hậu Hán thư; kiểu là uốn nắn cho thẳng, sửa chữa; uổng là chỗ cong; đem vật cong uốn thành thẳng, lại làm cho méo lệnh hẳn về một bên. Dùng để hình dung sửa chữa sai lầm lại làm quá giới hạn cần có.)

(ii) Học giả là người Đài Loan. Mời mọi người vào đây xem tiểu sử, ngưỡng mộ quá. https://en.wikipedia.org/wiki/Nan_Huai-Chin

[Bình luận của YL]

Lại nợ bình luận, nhưng chỉ ra 1 điều cần chú ý thôi: qua phân tích bình luận của các học giả, có thể thấy ý nghĩa của “lễ” rất rộng, không chỉ là lễ tiết, mà bao gồm cả luân lý ,và các loại luật pháp, phép tắc, nguyên tắc, quy định dựa trên các luân lý đó mà đặt hay là phát triển ra, để điều chỉnh cho các mối quan hệ giữa con người với con người, cũng như quy định con người nên xử lý một sự việc thế nào.

Chú thích là từ luân lý, tiếng Anh gọi là ethics. Trong tiếng Anh có sự phân biệt giữa luân lý (ethics) và đạo đức (morality). Còn ở Việt Nam ít ai phân biệt giữa luân lý vào đạo đức. Ở Việt Nam thường chỉ nói đến đạo đức thôi.

Nhân chương này, lại nhớ đến cuộc cãi nhau kinh khủng của các nhà giáo dục Việt Nam, về việc có nên bỏ khẩu hiệu ‘tiên học lễ, hậu học văn’ trong các trường học, cho bài Trung Quốc, bài Nho giáo, thoát Trung, bài sự ‘lạc hậu, cổ hủ’ cho nó triệt để🙂, trong đó không ít người hiểu lễ là giành cho học sinh, học sinh phải răm rắp nghe lời thầy cô giáo, thầy cô nói gì cấm cãi (vậy thầy cô thì không có lễ của thầy cô?). Ai có hứng thì chém gió về chủ đề này đi🙂

Si

 

 

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.11

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.11

1.11. 子曰:“父在,观其志;父没,观其行;三年无改于父之道,可谓孝矣。”

Zǐ yuē :“fù zài ,guān qí zhì ;fù méi ,guān qí xìng ;sān nián wú gǎi yú fù zhī dào ,kě wèi xiào yǐ 。”

Tử viết: “phụ tại, quan kì (1) chí; phụ một, quan kì hành (2); tam niên (3) vô cải ư phụ chi đạo (4), khả vị hiếu hĩ.”

(1) 其 – qí – kì: của anh ta (his), chỉ người con, không phải chỉ người cha.

(2) 行 – xíng – hành: chỉ hành vi cử chỉ các loại.

(3) 三年 – sān nián – tam niên: đối với số từ mà người xưa nói không nhất thiết phải lý giải một cách cơ giới, chỉ nói cần trải qua một khoảng thời gian dài là đủ, không nhất thiết là thời gian 3 năm.

(4) 道 – dào – đạo: có lúc là danh từ có ý nghĩa chung chung, bất luận tốt hay xấu, thiện hay ác đều có thể gọi là đạo. Nhưng rất nhiều lúc là danh từ mang nghĩa tích cực, ngụ ý những thứ thiện, tốt. Ở đây ý tứ là “nội dung hợp lý.”

[Giải nghĩa câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: Khi cha của anh ta còn tại thế, (do anh ta không có quyền hành động độc lập), cần quan sát chí hướng của anh ta; Sau khi cha của anh ta mất, cần kiểm tra xem xét hành vi của anh ta. Nếu như anh ta đối với các việc hợp lý của người cha, trong một thời gian dài không sửa đổi gì, người như thế này có thể gọi là tận hiếu vậy.

[Bình luận – Dương Bá Tuấn]

Chương này như trước nói về vấn đề liên quan đến “hiếu,” cụ thể hóa chữ “hiếu.”  Lỗ Tấn từng nói: “chỉ cần là người tư tưởng không bị đóng kín, bế tắc, ai chẳng muốn con cái so với mình mạnh khỏe hơn, kiên cường hơn, thông minh cao thượng hơn,… hạnh phúc hơn; chính là vượt qua bản thân, vượt qua quá khứ. Vượt qua có nghĩa là cần phải cải cách sửa đổi, do đó con cháu đối với đối với việc của tổ tiên, nên sửa đổi, ‘tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu hĩ,’ đương nhiên là không đúng, là nguyên nhân sâu xa của sự quẩn quanh, sa sút, thụt lùi.”

Trong chương này Khổng tử nói một người sau khi cha mất, trong ba năm không thể sửa đổi những quy tắc do người cha đặt ra, đây gọi là tận hiếu. Kỳ thực, loại hiếu này, phiến diện cường điệu sự quy thuận của người con với người cha. Chú thích của các nhà Tống Nho nói, nếu không thể “vô cải ư phụ chi đạo,” hành động dù thiện lương cũng không thể coi là hiếu. Như thế, “vô cải ư phụ chi đạo” liền biến thành điều thiện lớn nhất, nếu không thì không thiện. Nguyên tắc phán định (phán xét quy định) kiểu này, chính như Lỗ Tấn nói, là sai trái. Lịch sử phát triển, xã hội tiến bộ, tư tưởng quan niệm, ngôn hành cử chỉ của con người đều không thể cố định ở tiêu chuẩn của ngày xưa, “thanh xuất ư lam nhi thắng ư lam” – màu lam bắt nguồn từ màu xanh nhưng xanh hơn cả màu xanh, thế hệ sau vượt qua thế hệ trước, đây là điều tất nhiên của lịch sử.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Tam niên vô cải ư phụ chi đạo: đạo – như việc, sự việc (chỉ sinh hoạt, hoạt động con người chung- YL). Nói đạo là dùng từ tôn kính khi nói về người cha. Chương này là nói về quan hệ phụ tử, nên nói đạo nói việc, đều là việc gia đình. Như kinh phí cho các lễ đội mũ, kết hôn, mai táng, tế lễ, việc tặng quà thăm hỏi trong các dịp hôn lễ hay đối với họ hàng, tiết kiệm hay chi tiêu cho việc ăn mặc, quy định lề lối khuôn phép cho các việc quanh năm, người con có hiếu không nỡ gấp rút thay đổi các quy định của người cha lúc còn sống. Hoặc là, theo thể lệ chuẩn tắc xưa, cha mất, con không vội vàng thân chính (đích thân cai trị, trị lí), trao chính sự cho tể tướng, ba năm không nói đến chính sự, đây là cái gọi là để tang ba năm. Tân quân (vua mới) trong lễ tang, đang vô cùng bi thương, không còn lòng dạ mà hỏi chính sự, lại do đột nhiên kế thừa ngôi vị, chưa có kinh nghiệm, nên sẽ im lặng không nói, không tùy tiện và thay đổi quy định của cha. Đây cũng là một cách hiểu. Chương này nói về cha con nói chung, không phải là nói riêng về bậc quân chủ.

Luận ngữ văn từ giản ước, dễ giải thích theo nhiều kiểu. Như chương này hoặc là chuyên giành cho quý tộc lúc đương thời, không phải cho dân thường. “Vô cải phụ đạo” – không sửa đổi đạo của cha, là chỉ thực thi chính trị, không phải chỉ hành vi sinh hoạt thông thường. Nếu không lúc người cha còn sống, người con chẳng lẽ lại không có hành vi thông thường, mà chỉ nói “quan kì chí” – xem chí hướng của anh ta? Hoặc là nói quan hệ cha con nói chung, chú trọng vào chữ “đạo” này. Nếu như hành vi của người cha là đạo, người con suốt đời tuân theo cũng là thích hợp. Nếu như không phải là đạo, việc gì phải chờ tận 3 năm? Hoặc là từ 3 năm này tìm hiểu, nếu như 3 năm không thay đổi, tất cả đời sẽ không đổi. Phân tích ra thật nhiều điều nghi vấn. Do đó những lời trong Luận ngữ, nguyên để học về quá khứ, cũng là để thông hiểu về hiện tại. Để tìm đến chính đạo, cũng là để phù hợp với thường tình. Nếu theo thuyết để tang ba năm, là chuyên khảo cứu về những cái chưa được của ngày xưa. Nếu nói hành vi của người cha không phải là đạo, tại sao lại phải đợi đến ba năm, đây là chuyên luận giải về cái chưa được của ý nghĩa của chương. Kì thật chương này của Khổng tử, là điều các gia đình ngày nay mong mỏi, người có thể tuân theo đạo này, nguyên là vẫn có. Ở đây không phải là không phù hợp với thường tình (i), cũng không phải là trái với chính đạo. Tấm lòng của người có hiếu, tự nhiên là hiểu điều này. Khổng tử xuất phát từ nhân tâm (trái tim con người/lòng người) mà thiết lập nên việc giáo dục, nếu cứ đòi hỏi cao xa(ii), sẽ thành làm mất đi ý nghĩa chân chính của chương. Người học cần cẩn thận làm rõ vậy.

(i) Nguyên văn là bất cận nhân tình. Còn bất cận nhân tình là gì thì mời vào Danh sách Thành ngữ Tục ngữ I để tham khảo J

(ii) Hảo cao vụ viễn – 好高鹜远 – hǎo gāo wù yuǎn: chữ vụ, nguyên nghĩa là con vịt trời, phải tra từ điển tiếng Trung ở cấp độ tinh vi, mới thấy còn làm động từ, nghĩa mở rộng là truy cầu. Câu này có nghĩa là thích truy cầu những thứ cao xa, dùng để chỉ không tự lượng sức, không theo thực tế mà xử lý sự việc, chỉ theo những thứ xa vời không thiết thực.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Giải thích của một số tiền bối đối với câu này, cũng là lầm lẫn. Họ nói xem một người, khi cha mẹ còn sống thì xem chí hướng của anh ta, khi  cha mẹ mất thì  xem hành vi của anh ta, trong vòng ba năm, nếu không thay đổi các chuẩn mực nguyên tắc do cha mẹ từng thực hành, người này có thể gọi là có hiếu. Vấn đề là, giả sử bố mẹ hành vi không đoan chính, sống bằng ăn cắp ăn trộm, người con không muốn làm trộm cắp, nhưng vì đạo hiếu, liền không thể không làm trộm cắp ba năm. Như thế này, không phải là không có vấn đề sao? […]

Chữ 志 – “chí”  trong “phụ tại quan kì chí,” chữ “chí” trong sách vở của người xưa có ý nghĩa là “ý chí,” bao gồm cả tư tưởng, thái độ. Chúng ta đều từng làm con, đều có kinh nghiệm này: trước mặt cha anh, nghe những lời phân phó giáo huấn, đều dạ dạ vâng vâng, nhưng quay lưng đi, liền cùng bạn học, bạn bè nhăn mặt nhăn mày, tỏ ý không nghe. Do đó, “phụ tại quan kì chí” câu này, là nói lúc ở trước mặt cha mẹ, cần ngôn hành nhất trí – lời nói hành động thống nhất. Khi cha mẹ không ở trước mặt, sau lưng cha mẹ, cho đến lúc cha mẹ mất đi, đều cần lời nói hành động như một, thành khẩn, thật thà, nói không tiếp thu là không tiếp thu. Nếu như làm người tốt liền làm đến cùng, cha mẹ mất rồi, trong vòng 3 năm, không thay đổi đạo của cha, nói được làm được, qua thời gian ba năm dài như thế này, tình cảm không phai nhạt, lời nói hành động thống nhất, hành xử nhất quán, đây chính là hiếu tử – người con có hiếu.

[Bình luận của YL]

Trước hết lại phải than vãn về phần bình giải của Tiền Mưu. Văn chương quá khó hiểu, câu cú không chủ ngữ không vị ngữ, từ ngữ lạ đời, để hiểu và dịch được một phần bình luận của học giả này, khéo bằng đọc cả 1 thiên Luận ngữ. Chưa kể dịch ra, cũng không rõ là có đúng nghĩa hay không. Không phải mỗi ta kêu, mà đến các bạn TQ cũng phải kêu.

Hôm nọ thâý một bình luận trên mạng, nhưng tiếc quá không giữ lại, đại ý nói. Dương Bá Tuấn coi Luận ngữ như cơ thể con người, đem ra phẫu thuật, mổ xẻ phân tích. Còn Tiền Mưu coi như cha mẹ, đặt lên bàn thờ mà phân tích. Hì.

Quay lại chương này, chủ yếu cũng vẫn là ở một chữ “đạo.” Từ cách phân tích khoa học mà học được của người phương Tây, phải đặt câu hỏi “nội hàm” của đạo là gì? hay nói cách khác, đạo bao gồm những gì? và không bao gồm những gì? Cái này chưa học giả nào liệt kê ra được cho thỏa mãn lòng học hỏi của người học.

Nếu nói tất cả mọi thứ của người cha, miễn là tốt đều gọi là đạo, nhưng thời thế thay đổi, xã hội thay đổi, có những thứ một vài chục năm trước tính là tốt, nhưng một vài chục năm sau lại không thể coi là tốt, như thế có nên giữ hay không? (Bình luận của Dương Bá Tuấn thiên theo hướng này)

Nhưng có những thứ, trước sau vẫn vậy, nếu đời sau quá thiên về cải cách, đổi mới, mà không giữ được những thứ tốt đẹp của đời trước truyền lại, như thế cũng có nên hay không? (Bình luận của Tiền Mưu thiên theo hướng này).

Chính vì không làm rõ nội dung của đạo, nên bảo nhất nhất cái gì cũng theo xưa mà làm, người thời nay khó ai có thể phục, nhưng nếu bảo giữ những cái tốt, còn hợp thời, thì lại phải đặt câu hỏi, cụ thể là những cái gì?

Không rõ các nhà Nho hiện đại, đã giải quyết vấn đề này chưa?

Vẫn là Hàn Sinh

 

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.10

*Chương này có phần phân tích bình luận của Nam Hoài Cẩn rất hay, mở rộng ra nhiều kiến thức bổ ích. Ta mất hơn 2 tuần để cố gắng dịch cho hết. Mọi người cố đọc🙂

Thiên 1: học nhi. Chương 1.10

子禽问于子贡曰:“夫子至于是邦也,必闻其政,求之与,抑与之与?”子贡曰:“夫子温、良、恭、俭、让以得之。夫子之求之也,其诸异乎人之求之与?”

Zǐ Qín wèn yú Zǐ Gòng yuē :“fū zǐ zhì yú shì bāng yě ,bì wén qí zhèng ,qiú zhī yǔ, yì yǔ zhī yǔ ?” Zǐ Gòng yuē :“fū zǐ wēn 、liáng 、gōng 、jiǎn 、ràng yǐ de zhī 。Fū zǐ zhī qiú zhī yě ,qí zhū yì hū rén zhī qiú zhī yǔ ?”

Tử Cầm (1) vấn ư Tử Cống (2) viết: “Phu tử (3) chí ư thị bang (4) dã, tất văn kì chính, cầu chi dư, ức (5) dữ chi dư?”

Tử Cống viết: “Phu tử ôn, lương, cung, kiệm, nhượng (6) dĩ đắc chi. Phu tử chi cầu chi dã, kì chư (7) dị hồ nhân chi cầu chi dư?”

(1) Tử Cầm: Có sách nói là học sinh của Khổng Tử, có sách lại nói không phải là học sinh của Khổng tử.

(2) Tử Cống – 子贡 – Zǐ Gòng: Học Đoan Mộc tên Tứ, tự Tử Cống, người nước Vệ, nhỏ hơn Khổng tử 31 tuổi, là học sinh của Khổng tử, sinh năm 520 trước công nguyên. Tử Cống giỏi biện luận, Khổng tử cho rằng Tử Cống có thể làm tể tướng một quốc gia lớn. Theo Sử ký, Tử Cống ở Vệ quốc làm thương nhân, nhà có tài sản nghìn vàng, là một nhà thương nghiệp nổi danh.

(3) Phu tử – 夫子 – fū zǐ: đây là một loại xưng hô tôn kính thời cổ đại, những người từng làm qua chức đại phu đều có thể được gọi như thế này. Trong sách Luận ngữ, phu tử đều là đệ tử gọi Khổng tử.

(4) Bang- 邦 – bāng: chỉ các quốc gia chư hầu cát cứ đương thời.

(5) Ức – 抑 – yì: liên từ biểu thị sự lựa chọn, có nghĩa là “hay là”, “hoặc là,” or.

(6) Ôn, lương, cung, kiệm, nhượng – 温、良、恭、俭、让 –  wēn 、liáng 、gōng 、jiǎn 、ràng: ôn thuận, thiện lương, cung kính, kiệm phác, khiêm nhượng. Đây là những tán dương của đệ tử giành cho Khổng tử.(Kiệm phác: chữ phác trong chất phác, phác có nghĩa là giản dị, thật thà).

(7) Kì chư – 其诸: từ ngữ khí, có nghĩa “đại khái” (đại thể, khái quát, general idea, probably, ),  “hoặc giả” (hoặc là, maybe, or, possibly).

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Tử Cầm hỏi Tử Cống: “thầy đến mỗi nước, đều tham dự nghe về chính sự của nước này. (Loại tư cách này) là thầy tự cầu, hay là quân chủ của các nước chủ động cấp cho thầy? ”

Tử Cống nói: Thầy ôn, lương, cung, kiệm, nhượng, do đó mới đạt được tư cách như thế này, (loại tư cách này cũng có thể nói là cầu được), nhưng phương pháp cầu của thầy, có lẽ so với phương pháp cầu của người khác không giống nhau chăng?

[Bình luận – Dương Bá Tuấn]

Chương này thông qua đối thoại giữa Tử Cầm và Tử Cống, vẽ nên phẩm cách làm người, xử thế của Khổng Tử. Bậc thống trị của các nước lấy lễ và lòng kính trọng đối đãi Khổng tử, là do Khổng tử có đầy đủ các phẩm chất đạo đức ôn hòa, thiện lương, cung kính, kiệm phác, khiêm nhượng. Ví dụ, “nhượng” trong năm phẩm chất đạo đức này, trong quá trình xây dựng nên nhân cách con người, có thể đem lại tác dụng thập phần quan trọng. “Nhượng” là trong công, danh, lợi, quyền thực hành “tiên nhân hậu kỷ” – người trước ta sau, trong chức trách nghĩa vụ thực hành “tiên kỷ hậu nhân” – ta trước người sau. Nhượng dùng trong ngoại giao ví dụ như trong việc thăm viếng ngoại giao các nước, cũng là một điều kiện quan trọng theo nhu cầu khách quan. Khổng tử chính là vì có đầy đủ các loại phẩm cách này, do đó mỗi lần đến một nước, đều được quân chủ các nước dùng lễ mà đãi. Khổng tử cho rằng, háo thắng, tranh đoạt danh tiếng, khoa trương công trạng, tranh đoạt danh lợi; tranh không được liền oán hận người khác, cũng như trong danh lợi lòng tham không biết đủ, đều không phù hợp nguyên tắc của nhượng. Căn cứ theo đây có thể biết, chỗ đáng ca ngợi của nguyên tắc cơ bản “nhượng” này trong việc hình thành nên phong tục tập quán của xã hội là: theo nhân tình mà nói, giữ phong tục luôn khiêm nhượng danh lợi địa vị, ai cũng có thể học nhiều hơn từ sở trường của người khác mà từ sở đoản của người khác lấy làm gương răn bảo. Người trước có thể khiến cho mọi người đoàn kết, thân mục (thân thiết hòa mục), hướng thiện; người sau lại dụ người “tật hiền đố năng” – ghen người hiền ghét người giỏi (i). Hiệu quả xã hội của họ thật hoàn toàn tương phản.

(i) Tật hiền đố năng – 嫉贤 妒能  –  jí xián dù néng: ghen ghét đố kị người hiền tài, câu xuất phát từ Sử ký.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Ôn, lương, cung, kiệm, nhượng: năm loại thái độ biểu lộ ở bên ngoài, có thể từ đó mà suy ra tu dưỡng đạo đức chứa đựng trong con người. Khổng tử vì có tu dưỡng đạo đức này, ánh sáng lan ra người khác, có thể không lời nào mà khiến người khác cảm thấy hòa lạc, do đó mà đạt được sự kính trọng tin tưởng của người khác, họ tự đem việc chính sự của họ ra hỏi […].

Tử Cống giỏi trong việc nói về thánh nhân, chương này đưa ra  ôn, lương, cung, kiệm, nhượng, tổng cộng năm từ, mà tấm lòng, khí chất, thái độ của Khổng tử, sống động như tận mắt chứng kiến. Người học cẩn thận nghiền ngẫm, có thể bất giác mà giảm đi tính hung ác kiêu căng ngạo mạn.  Lại biết trong nhân gian tự có đạo không cầu mà được. Điều này so với hành vi xảo ngôn lệnh sắc (i), thật cách xa nhau […].

Câu này diễn giải là,

Tử Cầm hỏi Tử Cống: Thầy của chúng ta mỗi lần đến nước nào, đều dự nghe chính sự nước đó, đây là do có lòng cầu được việc này, hay do người ta tự nguyện cho thầy? Tử Cống nói: Thầy của chúng ta là dùng trái tim ôn hòa, lương thiện, cung trang (cung kính nghiêm trang), tiết chế, khiêm nhượng mà đạt được. Cái cầu của thầy chúng ta, chắc phải luôn khác biệt so với phương pháp cầu của người khác.

(i) xem lại Thiên 1. Chương 1.3

[Luận ngữ biệt tài Nam Hoài Cẩn]

“Ôn” là tuyệt đối ôn hòa, dùng từ ngữ hiện đại nói thì là bình hòa. “Lương” là thiện lương, đạo đức. “Cung” là cung kính, cũng là nghiêm túc. “Kiệm” là không lãng phí. “Nhượng” là luôn khiêm nhượng hữu hảo, lý trí (rational – YL), đặt mình ở cuối cùng. Năm chữ này, cũng có thể gọi là năm điều kiện. Miêu tả phong độ, tính cách và tu dưỡng của Khổng tử, năm chữ này bao hàm rất nhiều ý nghĩa, cũng là những thứ mà Nho gia Trung Quốc dạy con người ta làm người, do đó cần bỏ công nghiên cứu kỹ về năm chữ này.

Nói đến ôn, lương, cung, kiệm, nhượng năm chữ này, thì dính dáng đến toàn thể căn nguyên của văn hóa Trung Quốc. Vì lý do này, chúng ta trước hết cần nghiên cứu một quyển sách – Lễ Ký. Lễ Ký là một kho tàng bảo vật của văn hóa Trung Quốc. Tư tưởng “đại đồng” của chúng ta, chính là một phần của thiên 礼运 – “Lễ Vận” trong Lễ Ký. Muốn hiểu cơ sở triết học của tư tưởng “đại đồng,” cần phải nghiên cứu rõ toàn bộ thiên “Lễ Vận” này. Do đó Lễ Ký là bảo khố của văn hóa chúng ta, cũng là nơi chứa tinh thần hiến pháp của hàng nghìn năm từ quá khứ đến nay, ở trong bao gồm cả học vấn hiện đại: chính trị, kinh tế, triết học, giáo dục, xã hội, khoa học, cái gì cũng có, thậm trí cả thuốc chữa bệnh, vệ sinh, bất kỳ quan niệm khoa học nào của người Trung Quốc xưa, đều có cả. Do đó nếu muốn hiểu căn nguyên của văn hóa Trung Quốc, không thể không nghiên cứu Lễ Ký. Không chỉ riêng Lễ Ký, nói một câu khác, muốn hiểu văn hóa Trung Quốc, hiểu tư tưởng Khổng Mạnh, hiểu căn nguyên  của Nghiêu, Thuấn, Vũ Thang, Văn, Võ, Chu công, Khổng tử đến nay, tất phải hiểu Ngũ Kinh của họ.

Nói đến Ngũ Kinh, trong Lễ Ký có một thiên 经解 –  “Kinh Giải,” là tổng kết của  Ngũ Kinh. Tại sao lại nói như vậy? Từ quan niệm hiện đại mà nói, thiên này chính là giới thiệu một cách đơn giản các điểm quan trọng của Ngũ Kinh: đối với mỗi quyển Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân Thu đều tổng kết lại trong một hai câu. Thiên “Kinh Giải” nói: “孔子曰:入其国,其教可知也。”- “Khổng tử viết: nhập kì quốc, kì giáo khả tri dã” – ý nghĩa là, đến một nơi nào, quan sát phong tục lề thói xã hội, thì có thể biết văn hóa giáo dục tư tưởng của nơi đó.

Thiên “Kinh Giải” viết tiếp: “其为人也,温柔敦厚,诗教也” – “Kì vi nhân dã, ôn nhu  đôn hậu, Thi giáo dã ” – Nếu làm người, [mà] ôn nhu đôn hậu,  [là do] Thi dạy vậy. Cái gọi là giáo dục “thi” – thơ, chính là để bồi dưỡng thành người ôn nhu đôn hậu. Nói đến chữ “ôn” trong ôn, lương, cung, kiệm, nhượng, cần chú ý đến tinh thần “thi giáo”- dạy thơ mà Khổng tử nói đến (hiện tại chưa phải lúc chúng ta đi sâu vào phương diện này, tạm thời chỉ nêu ra đây để tham khảo).  

“疏通知远,书教也” – “Sơ thông tri viễn, Thư giáo dã” – Thông đạt (sự lý), hiểu biết xa rộng, [do] Thư dạy vậy.    书经 – “Thư Kinh” còn gọi là 尚书 – “Thượng Thư,” là bộ lịch sử đầu tiên của Trung Quốc, cũng không chỉ nói về lịch sử, mà còn là bộ tư liệu đầu tiên về lịch sử văn hiến Trung Quốc. Hiện tại người phương Tây học lịch sử, (hiện tại phương pháp nghiên cứu lịch sử của chúng ta, đa phần là theo quan niệm của phương Tây), như đi vào ngõ hẹp của môn sử học vậy (i), chỉ chuyên môn nghiên cứu kiến thức lịch sử, có phương pháp lịch sử, chú thích lịch sử, ảnh hưởng của lịch sử đến mỗi một thời đại. Ở Trung Quốc trong quá khứ, không phân rõ nhà học thuật và nhà văn học, cũng không phân rõ nhà học thuật và và nhà triết học. Người Trung Quốc trong quá khứ đọc lịch sử với mục đích là để hiểu nhân sinh, hiểu chính trị, hiểu quá khứ mà biết đường dẫn dắt tương lai, do đó cần chúng ta “sơ thông tri viễn.” Người học lịch sử, cần thông đạt, thông hiểu thấu triệt nhân tình thế thái, hiểu biết xa rộng. Đạo lý “xa rộng” này, ta có thể một câu chuyện để thuyết minh: ta có một người bạn làm ngoại giao phải ra nước ngoài nhận nhiệm vụ, ta tặng bạn một đối liễn, chép lại một câu của cổ nhân:  “世事正须高著眼,宦情不厌少低头” – Thế sự chính tu cao trước nhãn,Hoạn tình bất yếm thiểu đê đầu. Ai cũng nên như thế này, người làm ngoại giao càng nên vận dụng tốt câu này. Đối với thế cục biến hóa, bước phát triển của tương lai, cần có nhãn quang (tầm nhìn),  cần nhìn xa trông rộng. “Hoạn tình” là tình thái (tình trạng, thái độ, thần thái) của người làm quan, cần có nhân cách, đặc biệt là người làm ngoại giao, đại diện cho  “quốc cách” (nhân cách của quốc gia), đại diện cho nhân cách của toàn dân, cần có cốt khí,  có thể đứng thẳng, ít cúi đầu, không hề sợ “thiểu đê đầu.” Không có khả năng miễn cưỡng thích ứng với người khác, thì làm thế nào mới làm được? Chính là hiểu được lịch sử, sơ thông tri viễn,  đây là tinh thần giáo dục của “Thư Kinh.”

“广博易良,乐教也。” – “Quảng bác dị lương, Nhạc giáo dã” – Quảng bác bình dị thiện lương, [do] Nhạc dạy vậy. Nhạc/lạc bao gồm âm nhạc, nghệ thuật, văn nghệ, thể thao các loại. Trong văn hóa truyền thống của chúng ta, tất cả các hạng mục này đều nằm trong “nhạc/lạc,” ý nghĩa quan trọng của cái gọi là bồi dưỡng giáo dục về nhạc/lạc, là dưỡng thành một người có tấm lòng, học thức “quảng bác” – học nhiều biết rộng;  “dị lương” là biến từ xấu thành tốt, bình dị thiện lương.

“絜静精微,易教也。”-  “Khiết tĩnh tinh vi, Dịch giáo dã” – Đạt đến độ thanh khiết, an tĩnh, tinh vi, [do] Dịch dạy vậy. Ý nghĩa của “Dịch Kinh” – Kinh Dịch, là kết tinh văn hóa của tổ tiên truyền lại. Tổ tiên của chúng ta trước khi sáng tạo ra văn học, dùng bát quái họa đồ ghi lại sự việc để biểu đạt ý tứ. Cái gì gọi là khiết tĩnh? Là tính thanh khiết của triết học tông giáo; “tinh vi” là liên quan đến khoa học. Tư tưởng của Kinh Dịch là từ khoa học đến triết học, dung hợp triết học, khoa học, tông giáo ba loại tinh thần. Do đó nói “khiết tĩnh tinh vi, Dịch giáo dã.”

Cho đến “恭俭庄敬,礼教也。” – “Cung kiệm trang kính, Lễ giáo dã” – [Hành xử] cung kính, tiết chế, khiêm tốn, nghiêm trang, [do] Lễ dạy vậy. Đây là về tu dưỡng nhân cách, rèn luyện nhân phẩm.

“属辞比事,《春秋》教也。” – “Chúc từ tỉ sự, Xuân Thu giáo dã”- [Biết] kết nối văn từ, phân loại sự việc, [do được] dạy Xuân Thu vậy.  “Xuân Thu” vừa do Khổng Tử làm ra, vừa là lịch sử. “Chúc từ tỉ sự” là gì? Xem hiểu “Xuân Thu” sách lịch sử này, có thể cung cấp cho chúng ta các loại thông tin về ngoại giao, chính trị, cho đến nhân sinh để tham khảo. Do trong nhân thế, ngọn nguồn, nhân quả của rất nhiều sự việc đều không có gì khác biệt, mới thường có người nói lịch sự là tái diễn. Đây là một vấn đề triết học, lịch sử có tái diễn không? Không có khả năng. Thật sự là không có khả năng sao? Có lẽ có khả năng, vì người xưa là người, chúng ta cũng là người, người Trung Quốc là người, người ngoại quốc vẫn là người, giữa con người với con người, hình thức trạng thái bất đồng, nhưng nguyên tắc lại chẳng thay đổi đến đâu cả, do đó nói lịch sử là lặp lại. Nhưng bất kể lịch sử tái diễn hay không tái diễn, đặc biệt khi văn hóa Trung Quốc có năm ngàn năm lịch sử, đối với việc làm người, xử thế, chỗ nào cũng có kinh nghiệm của người trước. Mặc dù hình thái xã hội thời cổ đại với xã hội của chúng ta không giống nhau, nguyên tắc lại như nhau, do đó đọc Xuân Thu, “chúc từ tỉ sự” (ii), liền có tri thức uyên bác, hiểu biết về từng sự việc đã xảy ra, người xưa cũng đã có sự việc như thế, sự việc này là thiện hay ác, phương pháp xử lý như thế nào đều biết, cái này gọi là “tỉ sự,” là do “Xuân Thu giáo dã.”

[…]

Ở dưới còn có: “故《诗》之失,愚” – “Cố Thi chi thất, ngu” – Thiếu sót của Thi là ngu. Người mãi mãi làm văn, trở thành con mọt sách đọc sách đến hủ lậu cả người, rất đáng ghét, đây chính là ngu ngốc. Loại học vấn nào cũng thế, có hai mặt phải trái, Ngũ Kinh cũng như vậy.

Tiếp theo ghi “《书》之失,诬” – “Thư chi thất, vu” – Thiếu sót của Thư, là ngoa, không thật [vu trong vu cáo, vu khống – YL]. Do đó người đọc lịch sử cần chú ý, đặc biệt là đọc lịch sử Trung Quốc càng cần chú ý, do lịch sử triều Tống là người triều Nguyên biên soạn, lịch sử triều Nguyên là người triều Minh biên soạn, lịch sử triều Minh là người triều Thanh biên soạn, sự tình cách lâu như vậy, mà ý kiến chủ quan, thành kiến của mỗi người lại không giống nhau, do đó những tên người, địa danh, thời gian được ghi trong lịch sử đều là thật, nhưng có lúc sự thật lại không giống thế, hoặc không thấy được hoàn chỉnh. Để bổ sung vào chỗ khiếm khuyết này, vẫn cần đọc sách vở khác của lịch sử. Sách vở khác là đọc cái gì? Xem tấu chương của các triều đại, chúng giống như xã luận báo chí của thời nay, là báo cáo kiến nghị của các đại thần đương thời. Tại sao cần xem báo cáo kiến nghị ? Có thể thấy vấn đề nêu ra trong đó, nếu không có vấn đề thì đã không cần kiến nghị. Vương Kinh Công Vương An Thạch triều Tống từng nói lười đọc “Xuân Thu,” cho rằng đây là một quyển sách cũ nát, đây cũng là quan niệm “thư chi thất, vu.” Điều này những người nghiên cứu và đọc lịch sử cần chú ý.

“《乐》之失,奢” – “Nhạc chi thất, xa” – Thiếu sót của Nhạc, là xa xỉ. Chỉ chú ý đến nghệ thuật các loại, sẽ dễ dàng làm cho phong tục lề thói của xã hội biến thành quá xa xỉ, phung phí.

“《易》之失,贼” – “Dịch chi thất, tặc” – Thiếu sót của Dịch, là hại [tặc trong đạo tặc, nghịch tặc, phản tặc – YL]. Một người nếu trên thông thiên văn, dưới thông địa lý, tay tính bát quái, chưa cần bói đã biết trước việc, người khác hãy còn chưa làm gì, anh ta biết hết, như thế có tốt không? Rất xấu! “察见渊鱼者不祥” – Sát kiến uyên ngư giả bất tường – tra rõ đến tận chỗ có thể nhìn thấy cá ở vùng nước sâu là chẳng tốt lành gì  (iii). Nếu không có cơ bản tu dưỡng đạo đức, người này sẽ “quỷ đầu quỷ não” – hành vi cử chỉ không quang minh chính đại (iv), lắm chiêu lắm trò. Do đó học Dịch có thể “trên thông thiên văn, dưới thông địa lý.” Tất nhiên rất quan trọng, nhưng “làm người” càng quan trọng, nếu làm người mà làm không tốt,  người xấu mà có tri thức càng nhiều, bản lĩnh làm việc xấu càng lớn, vì thế mà “dịch chi thất, tặc” vậy.

“《礼》之失,烦” – “Lễ chi thất, phiền”   – Thiếu sót của Lễ, là phiền [phiền trong phiền hà, có nghĩa là rắc rối, lôi thôi, rườm rà, hoặc gây phiền – YL]. Lễ rất quan trọng, chú trọng lễ quá mức lại gây phiền hà đến chết, giống như nói chúng ta toàn theo lý luận y học, hay tay không dám sờ vào bánh mì. Toàn theo lời của luật sư, đến đường cũng không dám đi, cử động liền phạm pháp. Nếu phải thực hiện lễ nghi, thì quá phiền. Do đó “lễ” cần vừa phải, thích đáng mới có lợi.

“《春秋》之失,乱” – “Xuân Thu chi thất, loạn” – Thiếu sót của Xuân Thu, là loạn. Hiểu được ý nghĩa của lịch sử Xuân Thu, tất nhiên là tốt, nhưng có lúc học lịch sử lại có vấn đề, giống như một người không nghiên cứu quân sự triết học, tất người này sẽ thành một người dân hoàn hảo không có vấn đề gì, đợi đến lúc nghiên cứu xong quân sự triết học, anh ta lại dễ gây loạn. Người không biết võ thuật, đến cuối cùng có thể chết già trên giường (v); người biết võ thuật, ngược lại chẳng có cái chết tốt đẹp, là cùng một đạo lý như vậy.

“Kinh Giải” đối với Ngũ Kinh,  mặt tốt mặt xấu đều nói. Còn một đoạn ở phía dưới, là nói cho chúng ta, tu dưỡng của Ngũ Kinh, cần đạt đến ôn nhu đôn hậu mà không ngu xuẩn. Người được như thế, mới có khả năng yêu thương bất kỳ người nào, yêu thương bất kỳ bạn bè nào. Thứ gọi là đôn hậu, đối với khuyết điểm của người khác, dễ dàng tha thứ bao dung, đối với sai trái của người khác, có thể từ từ cảm hóa, nhưng không phải là một con mọt sách viển vông, thiếu thực tế,  như thế mới là “深于诗者也” – “thâm ư thi giả dã” – đạt đến trình độ thâm sâu của người học thơ,  mới tính là giáo dục của Thi vậy. Tiếp theo Thư, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân Thu, đều như vậy (vi). Bây giờ chúng ta quay lại với Luận ngữ.

Tử Cống nói đến sự ôn, lương, cung, kiệm, nhương của Khổng Tử, là nói đến tu dưỡng của Khổng Tử, là tập hợp các thành tựu lớn của văn hóa truyền thống Trung Quốc cổ đại. Khổng tử có tu dưỡng cao thâm như thế này, có lẽ mục đích của Khổng tử, chính là “thục thế chủ nghĩa” – chủ nghĩa cải thiện xã hội của nước ta thời cổ đại (vii), Khổng tử luôn có tư tưởng cứu thế cứu dân, cũng là đại nghiệp thiên thu  của Khổng Tử mà chúng ta từng đề cập. Đại nghiệp  thiên thu chính là học vấn tư tưởng, […] sự nghiệp thiên thu của Khổng tử là tập hợp thành tựu văn hóa, tư tưởng, tinh thần của Trung Quốc, nhận thức rõ về nhiệm vụ của mình, hy sinh vinh hoa phú quý, mới có thể làm được. Do đó Tử Cống nói với Tử Cầm, hỏi thầy rốt cuộc tại sao lại như vậy? Hãy xem xem thầy là con người như thế này, nếu như nhất định phải nói rằng thầy có dã tâm, có mưu cầu đối với chính trị, chỉ e thứ thầy mưu cầu, cũng không phải là thứ mà người bình thường có thể hiểu được vậy.

(i) Nguyên văn: Toàn ngưu giác tiêm – 钻牛角尖 – zuān niú jiǎo jiān (khoan, dùi, đục đến mũi sừng trâu, đại loại là có một câu chuyện, một con chuột lọt vào sừng trâu, muốn đào về phía mũi sừng trâu, được khuyên là càng đào về phía đó càng hẹp, đi sai đường rồi, nhưng chuột không nghe, vẫn tiếp tục và chết trong đó. Câu này để chỉ phí lực nghiên cứu một vấn đề không đáng để nghiên cứu, hoặc không có cách để giải quyết, hoặc cũng để chỉ tư tưởng hoặc phương pháp còn hẹp).

(ii) Chúc từ tỉ sự – 属辞比事 – zhǔ cí bǐ shì: Câu trong Lễ Ký, nguyên là để chỉ việc liên kết, kết nối văn từ, sắp xếp sự việc, ghi chép lịch sử. Sau để chỉ việc làm văn ghi chép nói chung.

(iii) Sát kiến uyên ngư giả bất tường – “察见渊鱼者不祥” – chá jiàn yuān yú zhe bù xiáng: sát kiến uyên ngư có nghĩa là có thể tra rõ đến tận chỗ nhìn thấy (có bao nhiêu con) cá ở vùng nước sâu. Dùng để ví với việc có thể truy xét biết được việc riêng mà người khác muốn che dấu, hay không muốn công khai, ở đây mang ý nghĩa chê trách. Cả câu có nghĩa: sát kiến uyên ngư là không tốt, bất thiện, hoặc có thể là không tốt lành/ cát lợi gì. Câu của Liệt Tử.

(iv) Quỷ đầu quỷ não – 鬼头鬼脑 – guǐ tóu guǐ nǎo (đầu quỷ, não quỷ; hình dung hành vi cử chỉ dối trá bí hiểm, không quang minh chính đại. Câu trong sách Nho lâm Ngoại sử của Ngô Kính tử thời Thanh).

(v) Nguyên văn: Thọ chung chính tẩm – 寿终正寝 – shòu zhōng zhèng qǐn (thọ chung: sống rất thọ mới mất; chính tẩm: phòng ở chính. Nguyên chỉ già mất ở trong nhà, hiện nay dùng để chỉ việc sự vật đã diệt vong. Xuất xứ từ sách Phong Thần diễn nghĩa của Hứa Trọng Lâm thời Minh).

(vi) Nguyên văn thiên Kinh Giải trong Lễ Ký như sau (ở trên đều có giải nghĩa hết rồi, nếu đọc kỹ ở trên, tự khắc hiểu hết đoạn dưới này, vì thế cho nên không chép lại giải nghĩa ở đây):

孔子曰:“入其国,其教可知也。其为人也温柔敦厚,诗教也;疏通知远,书教也;广博易良,乐教也;絜静精微,易教也;恭俭庄敬,礼教也;属辞比事,春秋教也。故诗之失愚,书之失诬,乐之失奢,易之失贼,礼之失烦,春秋之失乱。其为人也温柔敦厚而不愚,则深于诗者也;疏通知远而不诬,则深于书者也;广博易良而不奢,则深于乐者也;絜静精微而不贼,则深于易者也;恭俭庄敬而不烦,则深于礼者也;属辞比事而不乱,则深于春秋者也。”

Khổng tử viết: nhập kì quốc, kì giáo khả tri dã. Kì vi nhân dã, ôn nhu đôn hậu, Thi giáo dã; sơ thông tri viễn, Thư giáo dã; quảng bác dị lương, Nhạc giáo dã; Khiết tĩnh tinh vi, Dịch giáo dã; Cung kiệm trang kính, Lễ giáo dã; Chúc từ tỉ sự, Xuân Thu giáo dã. Cố Thi chi thất, ngu; Thư chi thất, vu; Nhạc chi thất, xa; Dịch chi thất, tặc; Lễ chi thất, phiền; Xuân thu chi thất, loạn. Kì vi nhân dã ôn nhu đôn hậu nhi bất ngu, tắc thâm ư thi giả dã; sơ thông tri viễn nhi bất vu, tắc thâm ư thư giả dã; quảng bác dị lương nhi bất xa, tắc thâm ư nhạc giả dã; khiết tĩnh tinh vi nhi bất tặc, tắc thâm ư dịch giả xã; cung kiệm trang kính nhi bất phiền, tắc thâm ư lễ giả dã; chúc từ tỉ sự nhi bất loạn, tắc thâm ư xuân thu giả dã.

(vii) Thục thế chủ nghĩa  – 淑世主义 : chữ thục có nghĩa là trong trẻo, thanh khiết; khi dùng cho phụ nữ thì có nghĩa thiện, đẹp (như trong thục đức, thục nữ); tiếng Anh là good, pure, virtuous, charming.

Hàn Sinh, hôm nay ta là Hàn Sinh.

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Rie's Bento & Cooking

in healthy way with Love

Dine with Ruby and Marion

Simple yet Tasty Food

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Tư liệu học thuật chuyên ngành nghiên cứu quốc tế

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: