Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.2

2.2. 子曰:“诗三百,一言以蔽之,曰:“思无邪。”

Zǐ yuē: shī sān bǎi, yī yán yǐ bì zhī, yuē: “sī wú xié.”

Tử viết: “Thi tam bách (1), nhất ngôn dĩ tế (3) chi, viết: “Tư vô tà” (3).”

[Chú thích – Dương bá Tuấn]

  1. Thi tam bách: Thi, chỉ Kinh Thi, quyển này thực chất có 305 thiên, tam bách (ba trăm) chỉ là lấy tròn số.
  2. 蔽 – bì – tế: khái quát.
  3. 思无邪 – sī wú xié – tư vô tà: đây là một câu trong “Kinh Thi; Lỗ tụng,” “tư” ở chỗ này là tư tưởng. Vô tà, có giải thích là “thuần chính” (thuần khiết, không pha tạp), có giải thích là “trực” (ngay thẳng), ý sau tương đối thỏa đáng.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Kinh thi” ba trăm thiên, có thể dùng một câu để khái quát, chính là “tư tưởng thuần chính.”

[Bình luận – Dương Bá Tuấn]

Thời đại của Khổng tử, sách cho học sinh đọc không quá nhiều, “Kinh Thi” sau khi được Khổng tử chỉnh lý biên tập, được dùng để làm tài liệu dạy học. Khổng tử đối với “Kinh Thi” nghiên cứu thâm sâu, do đó Khổng tử dùng “tư vô tà” để khái quát sách này. Trong “Luận ngữ” giải thích về “Kinh thi,” đều theo nguyên tắc “tư vô tà” này mà nói.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

思无邪- Tư vô tà: lời trong thiên “Lỗ tụng.” Có thể nói sách “Thi” có mỹ (đẹp/tốt), thích (thích trong thích sát, giết), chính (đúng, chính đáng, ngay thẳng), biến (trong biến đổi), do đó khuyến thiện trừng ác. Tư tưởng của người viết ba trăm thiên, đều quy về “vô tà,” có thể khiến cho những người có tư tưởng của hậu thế thiên hạ đều quy về vô tà. Có một thuyết khác, vô tà ý nghĩa là “trực” (thẳng thắn, trong cương trực, chính trực). Tác giả của ba trăm thiên, vô luận là hiếu tử trung thần (con hiếu tôi trung), oán nam sầu nữ, ngôn ngữ đều xuất phát từ chỗ chí tình tràn đầy, trực tiếp viết ra từ nội tâm, không hề hư tình giả ý, đây gọi là “Thi ngôn chí”-“những lời ghi chép của Thi,” cả ba trăm thiên đều như vậy. Do đó Khổng tử chọn lời này để bao quát ý nghĩa tổng quát của Thi. Tính cách tình cảm của người làm thơ, thiên cổ như soi chiếu, vì thế học Thi mà có thể hứng (tình cảm phát sinh trước cảnh vật, rung cảm, như thi hứng), quan/quán (thưởng thức, hoặc như trong quan niệm, quan điểm, hoặc là xét thấu, nghĩ thấu như trong quán triệt), quần (tụ tập một chỗ với nhau), oán (sầu hận). Thuyết này so với thuyết trước có vẻ được hơn.

Thơ vốn để vịnh mã (vịnh về con ngựa), ngựa thì có chính tà như thế nào? Trong Thi có câu: “Dĩ xa khư khư, tư vô tà, tư mã tư tồ” – “khư khư”: dáng vẻ có sức mạnh, “tồ”: nghĩa là đi, di động.  Đây là nói về con ngựa chạy ở phía trước xe. “Tư” trong tư mã chỉ là ngữ từ (trợ từ đặt ở đầu câu, không có nghĩa), không phải là “tư duy” (i). Mặc dù nói việc trích dẫn Thi hay “đoạn chương thủ nghĩa” (ii), nhưng (ở đây) không vi phạm ý nghĩa nguyên gốc. Vì vậy biết thuyết sau là thích hợp.

Nay thấy,  người học tất phải chuyên tâm nắm vững được thứ trọng yếu, biết được điều gì là trọng yếu rồi mới dễ thực hành. Chương này Khổng tử bàn về thi, như bàn về học, về chính trị, chủ yếu quy về đức ở trong tâm bản thân. Học Luận ngữ của Khổng môn, chủ yếu ở tại nhân tâm, quy về gốc là tính tình của con người. Người học nghiên cứu kỹ.

Câu này có thể hiểu: “Kinh Thi” ba trăm bài, có thể lấy một câu trong đó để tổng kết toàn bộ, chính là “tư vô tà.”

(i) Người bình giảng giải thích lằng nhằng, nhưng đại loại cụm từ “tư vô tà” là lấy từ câu “Dĩ xa khư khư, tư vô tà, tư mã tư tồ,” là câu cuối trong bài “Quynh” (có nghĩa là kiện mã, con ngựa tráng kiện) – bài đầu tiên trong thiên “Lỗ Tụng” (các bài ca tụng Lỗ Hi Công) của Kinh Thi. Ý của câu trích dẫn là con ngựa mà đóng vào xe thật là tráng kiện, (Lỗ quân) “tư vô tà”, (nguyện) con ngựa chạy nhanh.

(ii) Đoạn chương thủ nghĩa – 断章取义 – duàn zhāng qǔ yì (câu trong Tả truyện; chỉ việctrích một câu từ một đoạn văn mà không quan tâm đến nội dung ý nghĩa của toàn đoạn văn, câu trích dẫn có ý nghĩa không giống với trong nguyên gốc, mình hay gọi là nhấc câu ra khỏi bối cảnh???

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Tử viết: thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết: tư vô tà.

Do đó có người nói cần biên tập lại Luận ngữ, họ đọc Luận ngữ đọc đến đây liền nói: “Giảng về Vi chính nên giảng cho thỏa đáng , tại sao đột nhiên lại nói đến văn học, mà nhắc đến thơ? Không phải là biên tập sai, biên tập loạn ư? Nên bỏ phần này ra, theo phương pháp hiện đại của phương Tây, chỉnh lý lại cho có logic.” […] Ít ai biết là Luận ngữ thực ra đã được biên tập cực kỳ hoàn chỉnh.

Tại sao trong Vi chính lại nói đến thơ?

“Thi tam bách,” là chỉ “Kinh Thi” trong văn học Trung Quốc, là Khổng tử lúc đương thời đã tập trung tác phẩm của “lao nhân tư phụ” – người lao lực và người phụ nữ có tâm tình của các quốc gia (các đơn vị địa phương) trong mấy trăm năm từ triều Chu trở về sau. “Lao nhân” chính là những người thành niên không ở nhà, ở ngoài bôn ba vì xã hội, quốc gia, một đời vất vả bận rộn. Người phụ nữ mà trong tình yêu nam nữ, tâm tư tình cảm không có cách biểu đạt, giữ ở trong lòng, chính là tư phụ. Lao nhân tư phụ tất có niềm cảm khái. Mỗi địa phương, mỗi quốc gia, mỗi thời đại, tư tưởng cảm tình trong nội tâm mỗi người, có lúc không thể nói với người khác, mà dùng văn tự viết xuống, về sau dần dần lưu truyền ra. Khổng tử đã thu thập tập hợp rất nhiều tư liệu, bởi vì các tư liệu này đại biểu cho tư tưởng con người, có thể từ đây mà biết xu thế xã hội đạt đến trình độ nào, tại sao con người cần bày tỏ buồn phiền? “其所由来者渐矣!” – “Kì sở do lai giả tiệm hĩ” – điều đó dần dần mà đến, tất cả đều có nguyên nhân. Muốn tìm ra nguyên nhân này không đơn giản, do đó Khổng tử tập hợp thơ văn lại, trong số đó có bài có thể lưu truyền, có bài không thể lưu truyền, cần phải cắt bỏ, do đó gọi là cắt thi thư, định lễ nhạc. Khổng tử đã đem văn hóa Trung Quốc, tập trung hoàn chỉnh, bỏ công phu biên tập. Đối với phần thơ, tinh tuyển biên tập ra ba trăm bài đại diện, chính là “Kinh Thi” mà lưu truyền đến ngày nay.

Đọc bài đầu của Kinh Thi, ai cũng biết “quan quan thư cưu, tại hà chi châu, yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu.” Theo ngôn ngữ của thanh niên hiện đại mà nói, đây là truy đuổi, thơ truy đuổi tình cảm của nữ giới. […] Từ đây chúng ta có thể thấy tư tưởng của Khổng tử, không phải là một vị phu tử viển vông như trong tưởng tượng của chúng ta. Lần trước đã đề cập đến “饮食男女,人之大欲存焉” – ẩm thực nam nữ, nhân chi đại dục tồn yên –  ăn uống, tình ái nam nữ, là bản tính và mong cầu lớn của con người. Con người nhất định cần ăn cơm, nhất định cần truy cầu nam nữ, bất quá không thể loạn, cần có giới hạn, cần có lễ chế. Do đó Khổng tử cho rằng tình cảm nam nữ theo đúng chuẩn mực, sẽ không gây hại đến phong hóa, đây cũng gọi là “vi chính,” chính quy. Vậy Khổng tử đăng thơ về tình cảm nam nữ của Văn Vương – một trong những vị đế vương lãnh đạo của triều Chu – thành bài đầu tiên, tại sao? Nhân sinh: ẩm thực nam nữ. Khởi nguồn hình nhi hạ, chính là như thế này. Trừ những việc này ra, gần như chẳng có việc lớn nào khác. Vì vậy một số quan niệm tâm lý học giới tính của văn hóa phương Tây, cường điệu rằng sự tiến bộ của thế giới, thậm chí toàn bộ lịch sử nhân loại, đều là do tâm lý giới tính thúc đẩy.

Tổng kết lại Thi Kinh, có hai loại phân loại – “风、雅、颂”- phong, nhã, tụng, “赋、比、兴” – phú, bỉ (tỉ), hứng. Cái gì gọi là “phong”? Chính là tính địa phương, ví dụ nói văn học nước Pháp là văn phong của nước Pháp, văn phong nước Pháp đại diện cho tư tưởng, tình cảm của người Pháp, vì vậy Kinh Thi có “Trịnh phong,” “Lỗ phong,” “Tề phong” các loại. “Nhã”  dùng từ hiện đại mà nói, là hợp với tiêu chuẩn của âm nhạc, văn học, là văn học hóa, nghệ thuật hóa, nhưng cũng có những lúc không nhất định là văn học hóa, nghệ thuật hóa. “Tụng” chính là văn học được dùng trong các việc xã hội, chính phủ gọi là “tụng.”

Các tác phẩm phân thành ba loại hình thái, một loại là phú, chính là lời thuật lại trực tiếp. Tiếp đến là “bỉ/tỉ,” ví dụ như thấy tuyết rơi, nhớ đến quê hương ở phương Bắc, như thơ của Lý Thái Bạch: “Cử đầu vọng minh nguyệt, đê đầu tư cố hương.” Do cảm xúc này liên tưởng đến cảm xúc khác, nên gọi là “bỉ/tỉ” (so sánh). “Hứng” là tình tự (mối tình cảm), việc khiến bản thân cao hứng mà tự do thể hiện; việc bi ai cũng tự do thể hiện; nổi tiếng nhất, mọi người đều quen thuộc là bài thơ thất ngôn “Quá Linh Đinh dương” của Văn Thiên Tường:

辛苦遭逢起一经,

干戈寥落四周星

山河破碎风飘絮,

身世飘零雨打萍

皇恐滩头说皇恐,

零丁洋里叹零丁

人生自古谁无死?

留取丹心照汗青。

Tân khổ tao phùng khởi nhất kinh

Can qua liêu lạc tứ chu linh

Sơn hà phá toái phong phiêu nhứ

Thân thế phiêu linh vũ đả bình

Hoàng Khủng than đầu thuyết hoàng khủng

Linh Đinh dương lý thán linh đinh

Nhân sinh tự cổ thùy vô tử?

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

Đây cũng chính là “hứng.” Văn Thiên Tường trong lúc cứu vãn quốc gia, cứu vãn thời đại đó, chịu thống khổ vì quân địch tấn công, tình cảm vô hạn, cảm khái vô hạn. Đây cũng chính là sự uất ức chân thực, tâm lý buồn rầu mà phát tiết ra, chính là “hứng.”

Sự vĩ đại của thơ

Khổng tử nói tông chỉ của việc biên soạn ba trăm bài thơ là ở chỗ nào? “Nhất ngôn dĩ tế chi”-một câu có thể khái quát toàn bộ – một câu, “tư vô tà.”Con người không thể không có suy nghĩ, chỉ cần suy nghĩ không theo con đường lệch lạc bất chính, dẫn đến việc đi theo con đường chính đáng là tốt, ví dụ như chuyện tình ái nam nữ. Nếu một người theo đuổi học vấn, mà chuyện tình ái nam nữ đều không cần, trên thế giới không có loại người này. Ta từng tiếp cận không ít các loại người phổ biến trong xã hội, ví dụ như các hòa thượng, ni cô, cha cố, nữ tu xuất gia, mọi kiểu đều có, thường thường nghe họi nói về nội tâm thống khổ. Ta nói với họ, ngài là người, không phải thần, không phải phật, con người có vấn đề của con người, cứng rắn dùng tư tưởng để cắt đứt, là không thể. Con người sống liền có suy nghĩ, phàm là suy nghĩ nhất định có vấn đề, nếu không có vấn đề sẽ không phải suy nghĩ gì, “tư vô tà” của Khổng tử là nói về điều này. Suy nghĩ của con người nhất định có vấn đề, không trải qua giáo dục về văn hóa, không trải qua giáo dục nghiêm túc, sẽ không biết đi theo con đường chính đạo, do đó Khổng tử nói tông chỉ của việc biên soạn ba trăm bài thơ, đều là vì “tư vô tà.”

Như vậy tại sao đem lời giảng về cảnh giới văn học đặt trong thiên “Vi chính”?  Đây không phải là thứ tự loạn hay sao? Một chút cũng không loạn, đây chính là tổng kết các ý chính, là nắm vấn đề trung tâm của các đề mục, trước hết nêu ra.

Ý chính thứ nhất: dùng lời hiện đại mà nói, tất cả các vấn đề chính trị, vấn đề xã hội chỉ là vấn đề suy nghĩ, tư tưởng. Chỉ cần làm cho tư tưởng thuần chính, vấn đề nào cũng có thể giải quyết. Chúng ta biết, hiện nay cả thế giới động loạn, là vấn đề tư tưởng. Do đó khi ta giải về triết học, nói hiện nay trên thế giới không có nhà triết học. Cái gọi là triết học ở trong trường học, cùng lắm chỉ là nghiên cứu tư tưởng triết học của người khác mà thôi. Đặc biệt khi làm luận văn, Socrates nói gì, chép lại một ít; Khổng tử nói như thế nào, chép lại một ít. Kết quả là chép lại toàn bộ triết học của họ, bản thân mình cái gì cũng không có, loại triết học này chỉ là văn bằng.

Trên thế giới hiện nay cần tư tưởng chân chính, cần dung hợp cổ kim đông tây, chân chính phát triển nên một tư tưởng. Nhưng, hiện tại không chỉ Trung Quốc, đây là một thời đại thiếu vắng tư tưởng, do đó chúng ta tất cần phát huy văn hóa của bản thân.

Ý chính thứ hai: liên hệ đến vấn đề con người. Trong lịch sử Trung Quốc, nếu là một nhà đại chính trị gia, đều là đại thi nhân, nhà đại văn học, ta thường cùng các bạn học nói, trước đây người ta nói Trung Quốc không có triết học, hiện tại biết Trung Quốc không những có triết học, nhưng gần như không có người có tư cách đi nghiên cứu. Do chúng ta là văn triết bất phân (không phân biệt văn và triết), nhà văn học chính là nhà triết học, nhà triết học chính là nhà văn học, muốn hiểu tư tưởng triết học Trung Quốc, tất cần đọc hết sách của năm nghìn năm. Học vấn của phương Tây mang tính chuyên môn, tâm lý học chính là tâm lý học, sinh lý học chính là sinh lý học, trong quá khứ người Trung Quốc theo đuổi học vấn cần loại kiến thức nào cũng biết một ít, sách vở Trung Quốc bao quát nhiều nội dung như vậy, quyển nào chẳng có triết học? Loại nào chẳng có triết học? Đặc biệt càng cần phải hiểu văn học, thậm chí loại nào cũng cần hiểu, mới có thể bàn luận về triết học, triết học Trung Quốc khó học là như thế. Ví dụ thời sơ Đường có một bài thơ, tên là “Xuân giang hoa nguyệt hạ,” trong đó có một câu: 江上何人初见月?江月何年初照人?”- “Giang thượng hà nhân sơ kiến nguyệt? Giang nguyệt hà niên sơ chiếu nhân?”- ở trên sông, người nào thấy trăng đầu tiên? Trăng trên sông, năm nào là lần đầu tiên chiếu xuống người, tương tự như như tư tưởng gà có trước hay trứng có trước của người phương Tây, nhưng vào tay người Trung Quốc liền trở thành cao minh, ở trong văn học đẹp biết bao nhiêu! Vì vậy nếu không tìm từ trong văn học, giống như Trung Quốc không có triết học, nếu xem các tác phẩm văn học Trung Quốc, triết học rất nhiều, ví dụ như bài từ của Tô Đông Pha: “明月几时有?把酒问青天,不知天上宫阙,今夕是何年?”-  “Minh nguyệt kỉ thời hữu? Bả tửu vấn thanh thiên, Bất tri thiên thượng cung khuyết, Kim tịch thị hà niên?” – trăng sáng có từ bao giờ? Cầm chén rượu hỏi trời xanh, Không biết là cung điện trên trời, đêm nay là năm nào? Đây không phải là một vấn đề triết học sao? Vũ trụ đến từ đâu? Thượng đế tối nay ăn đồ Tây hay ăn cơm Trung Quốc? “Bất tri thiên thượng cung khuyết, kim tịch thị hà niên?” Vấn đề mà Tô Đông Pha hỏi, không phải là vấn đề triết học sao? Do đó ở Trung Quốc là văn triết bất phân. Đây là điểm thứ nhất.

Văn sử bất phân: nhà lịch sử học Trung Quốc, cũng đều là nhà đại văn học, nhà triết học, do đó bát thư (i) các loại trong “Sử ký” của Tư Mã Thiên, chỗ nào cũng là triết học, là thành tựu lớn tập trung triết lý của Trung Quốc. Đây là điểm thứ hai.

Văn chính bất phân: nhà đại chính trị đều là đại văn hào, thơ đời Đường tại sao lại hay như vậy, vì thơ của Đường Thái Tông rất hay,ông đã đề xướng ra. Đối liễn của thời Minh tại sao lại phát triển, đối liễn của Chu Nguyên Chương rất hay, mặc dù ông không đọc sách, nhưng thích làm đối liễn. […] Đường Thái Tông thơ hay, đại thần cũng đều là nhà đại văn học, như Phòng Huyền Linh, Ngu Thế Nam, Ngụy Trưng vị nào thơ cũng đều hay. Tại sao họ không nổi tiếng về văn chương? Do trong lịch sử, sự nghiệp công trạng của họ che lấp thành tựu trong văn học. […] Kỳ thực, thơ của Vương An Thạch thời Tống rất hay, nhưng danh tiếng về văn chương cũng bị sự nghiệp công trạng che lấp. Do đó ở Trung Quốc  văn sử bất phân, văn triết bất phân, văn chính bất phân, nhà chính trị đều là nhà đại văn học. Chúng ta nhắc đến một vị hoàng đế thiếu học là Hán Cao Tổ, ông cũng làm ra được 1 câu “Đại phong khởi hề vân phi dương, Uy gia hải nội hề quy cố hương.” […] Vì vậy nhà đại chính trị nhất định cần có tình cảm chân thực của thi nhân. Nói theo cách khác, như người phương Tây nói, một người theo đuổi sự nghiệp chân chính, cần có tinh thần xuất thế – tinh thần của nhà tôn giáo. Đây là điểm thứ ba.

Ý chính thứ ba: người Trung Quốc tại sao đề xướng thi và lễ? Nhà Nho từ đâu lại xem trọng việc giáo dục thơ đến như vậy? Do nhân sinh tất có khổ đau, đặc biệt người làm chính trị, làm công tác xã hội, thường giữa người với người có tiếp xúc, có khổ đau, có phiền não. Đặc biệt người Trung Quốc, liều mạng tìm cách tu dưỡng đạo đức, tu dưỡng không bằng người ta, đau khổ càng nhiều. Ta thường nói với các bạn học, sự khác biệt giữa anh hùng và thánh nhân: anh hùng đạt tới trình độ chinh phục thiên hạ, không thể chinh phục bản thân, thánh hiền không nghĩ đến việc chinh phục thiên hạ, mà chinh phục bản thân mình; anh hùng là đem phiền não của bản thân cho người khác gánh vác, thánh nhân tự gánh vác mọi phiền não của người thiên hạ. Đây là tinh thần truyền thống của văn hóa Trung Quốc chúng ta, hy vọng mỗi người cần hoàn thành trách nhiệm của thánh nhân, mới có thể trở thành nhà chính trị vĩ đại. Làm công việc chính trị đụng phải phiền não của nhân sinh, người phương Tây dựa vào tôn giáo; Trung Quốc trong quá khứ không chuyên mỗi tôn giáo, người người có thơ mà tu dưỡng, tình cảm trong thơ chính là tình cảm tôn giáo, bất kể phiền não khiến bế tắc đến mức nào, tự mình làm hai câu thơ, liền có thể phát tiết ra, đem tình cảm phát ra. Đồng thời dùng thơ để tu dưỡng chính là tu dưỡng nghệ thuật, một người “vi chính,” tất cần có tình cảm của thi nhân, tu dưỡng của thi nhân. Chúng ta xem lịch sử liền biết, đại thần trong quá khứ, bất kể là văn quan hay võ tướng, sau khi hạ triều về nhà, cầm lấy bút, viết chữ, đọc sách, ngâm thơ, giải quyết mọi phiền não trong lòng. Không giống như người hiện đại ra bàn chơi mạt chược hoặc đi nhảy nhót. Loại tu dưỡng này so với tu dưỡng trước đây không giống nhau, cũng kém xa.

Từ đây chúng ta đã có thể hiểu, Khổng tử nói “thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết tư vô tà” trong “Vi chính,” chính là nói với chúng ta người “vi chính,” trừ tư tưởng lãnh đạo không theo đường tà, đối với tu dưỡng của bản thân, càng cần có tình cảm phẩm cách của thi nhân, mới có thể ôn nhu đôn hậu, mới có thể nhẹ nhàng khoáng đạt hào sảng mà vi chính.

(i) Bát thư: tám sách bao gồm Lễ, Nhạc, Luật, Lịch, Thiên Quan, Phong Thiện, Hà Cừ, Bình Chuẩn.

Hàn sinh

Luận ngữ. Thiên 2: Vi chính. Chương 2.1

Thiên 2: Vi Chính

Thiên Vi chính bao gồm 24 chương. Thông thường các học giả có lời mở đầu, giới thiệu nội dung chủ đạo của thiên là gì. Nhưng xét thấy điều này có thể ảnh hưởng đến hướng suy nghĩ của người đọc về thiên, cho nên ta thấy tốt nhất là đọc nội dung trước, rồi mỗi người tự tổng kết sau. Một ví dụ, nếu đọc lời bình của Nam Hoài Cẩn ở dưới, sẽ thấy lập luận của tác giả này về ý nghĩa của “vi chính” khác với cách hiểu thông thường rằng vi chính là về tư tưởng chính trị của Khổng tử.

Chú thích thêm là cụ Nam Hoài Cẩn hay tán lan man, nhưng lại cung cấp nhiều kiến thức có giá trị. Ví dụ, giải thích về ý nghĩa của chữ “đức,” cụ Tiền Mưu bê nguyên chú thích của Chu Hy vào, không giải thích gì thêm, vô cùng khó hiểu (mà cụ vốn luôn khó hiểu). Phải thông qua giải thích của cụ Nam Hoài Cẩn, mới hiểu định nghĩa về “đức” của người xưa. 

2.1子曰:“为政以德,譬如北辰,居其所而众星共之。”

Zǐ yuē: wéi zhèng yǐ dé, pì rú běi chén, jū qí suǒ ér zhòng xīng gòng zhī.

Tử viết: Vi chính dĩ đức (1), thí như bắc thần (2), cư kì sở (3) nhi chúng tinh củng (4) chi.

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

  1. 为政以德 – wéi zhèng yǐ dé – vi chính dĩ đức: dĩ, ý nghĩa là dùng, sử dụng. Câu này là nói bậc thống trị nên dùng đạo đức tiến hành thống trị, tức là “đức trị.”
  2. 北辰 – běi chén – bắc thần: sao Bắc cực.
  3. 所 – suǒ – sở: xứ sở, vị trí.
  4. 共 – gòng – củng: giống như 拱 (gǒng: vây quanh, vòng quanh), ý là vây quanh, bao quanh.

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “(Vua nhà Chu) dùng đạo đức giáo hóa để trị lý (cai trị, xử lý) chính sự, giống như sao Bắc thần vậy, bản thân ở tại một phương vị cố định, mà các sao khác đều vây xung quanh mà chuyển động.”

[Bình luận – Dương Bá Tuấn]

Câu này đại biểu cho tư tưởng “vi chính dĩ đức” của Khổng tử, ý nghĩa là nói, bậc thống trị nếu như thực hành đức chính, quần thần bách tính sẽ tự động vây xung quanh. Đây là cường điệu tác dụng có ý nghĩa quyết định của đạo đức đối với đời sống chính trị, chủ trương lấy đạo đức giáo hóa làm nguyên tắc trị quốc. Đây là phần khá có giá trị trong học thuyết của Khổng tử, thể hiện rõ nguyên tắc cơ bản của trị quốc của Nho gia là đức trị, chứ không phải là hình pháp nghiêm khắc.

[Bình luận – Tiền Mưu]

为政以德 – Vi chính dĩ đức: đức, (là) đắc (được ) vậy (i). Hành đạo mà có [sự] đắc [đạo] tại tâm, thứ đạt được, cũng như thứ vốn đã có, cho nên là tính (bản chất/bản tính-nd) ‘đức.’(ii). Người làm việc trị lý lấy tính“đức” của bản thân mình làm gốc, cho nên gọi là dùng người trị người.

Bắc thần: sao Bắc Cực, người xưa cho là ở trung tâm của trời.

众星共之 – chúng tinh củng chi: vây xung quanh sao Bắc Cực mà xoay chuyển vận hành. Đối với bậc lãnh tụ chính trị, có thể dùng đạo đức của bản thân để lãnh đạo, thì người bên dưới sẽ tôn kính tin tưởng trông cậy vào, giống như các ngôi sao vây quanh hướng về Bắc thần, thuận theo Bắc thần mà xoay chuyển.

Khổng môn bàn luận về việc học, coi trọng nhất là nhân đạo (đạo của con người, đạo làm người-nd). Chính trị là một việc lớn trong nhân đạo. Con người vì có nhóm, bầy mà tương sinh tương dưỡng tương an (sinh sống, nuôi dưỡng, ổn định với nhau), do đó người biên tập Luận ngữ để thiên Vi chính sau thiên Học nhi. Khổng môn bàn về chính trị, chủ trương “đức hóa” (dùng đức để cảm hóa – nd), vì chính trị cũng là một phương diện của sinh hoạt con người, sinh hoạt con người gốc tại nhân tâm. Người có đức, tâm chân thực nhất, có thể nương tựa được nhất, mà lại cũng không thể che lấp đi. Cho nên tuy ở trong tâm, nhưng trên thực tế lại là thứ quan trọng nhất của đời sống con người. Làm chính trị cũng không ngoại lệ. Đây cũng là ý nghĩa sâu rộng nhất của việc luận học của Khổng môn, cho đến tận ngày nay.

Các chú thích cũ của chương này, thường lấy “vô vi” để giải thích cho chữ “đức.” Kỳ thực tính “đức” của người có đức, cũng là phẩm hạnh “đức” của con người. Khổng từ là nói với lãnh tụ chính trị, chủ yếu từ tính “đức” của họ, từ phẩm “đức” của bản thân họ, mà chủ động cho mọi việc lãnh đạo. Như chương trước nói về “đạo thiên thặng chi quốc,” cũng là ‘vi chính dĩ đức.’ Duy chỉ có đức mới có thể cảm hóa hiệu triệu, thi hành, không phải là vô vi. Như là lời so sánh ở phía sau. Bắc thần chuyển động trong một chỗ vô cùng nhỏ, sự chuyển động này không thể thấy. Ở tại vị trí đó, như nói không rời khỏi chỗ, tự làm việc của mình, không phải là “vô sở vi” – cái gì cũng không làm. “Mạnh tử” nói “chí thành động vật” – vô cùng chân thành có thể lay động được ngoại vật, “Đại học” lấy tu thân làm căn bản, đều cùng chương này mà dẫn đến nhau.

Câu này có thể diễn giải thành như sau: Làm việc trị lý lấy đức làm chủ, ví dụ như Bắc thần ở trên trời, ở yên tại chỗ của mình, các sao khác vây quanh, hướng về phía đó mà xoay chuyển.

(i) Nguyên văn chú thích của Chu Hi: 德者得也- Đức giả, đắc dã – đức, là được vậy.

(ii) Chú ý là chữ “tính” trong cách hiểu của Nho gia ngày xưa khác với “tính” trong tính cách mà chúng ta hiểu ngày nay. Đại khái là, tính như trong “nhân chi sơ, tính bản thiện,” là chỉ bản chất “thiện,” “đức” của con người.

 [Bình luận – Nam Hoài Cẩn]

Thiên một Học nhi là giảng về một người qua học vấn để tu dưỡng ở bên trong, tiếp theo thiên hai Vi chính là giảng về việc sử dụng học vấn ở bên ngoài.

Nhưng nói đến Vi chính, có một điểm cần chú ý: chúng ta thường phát hiện trong một số trước tác, rất nhiều người cho rằng ‘Vi chính’ là “tư tưởng chính trị” của Khổng tử, hoặc dùng ngôn ngữ hiện đại để nói, gọi là “triết học chính trị.” Theo kết quả nghiên cứu của tôi, cho rằng cách lý giải này không đúng. Khổng tử rất ít khi đề cập đến một quan niệm “chính trị” hoàn chỉnh, Khổng tử chỉ nói “vi chính,” điểm này chúng ta cần đặc biệt chú ý. Đứng tại lập trường học thuật, thái độ cần phi thường nghiêm túc cẩn thận. Chúng ta thường nói một câu: ‘trước pháp luật, mọi người bình đẳng, cần phục tùng chân lý.’ Lập trường của việc học vấn, thì là ‘trước học thuật, thái độ cần phi thường nghiêm túc cẩn thận, phục tùng chân lý.’ Khổng tử chỉ nói về “vi chính,” không bàn về chính trị; “chính trị” như quốc phụ (người cha của dân tộc, ở đây là chỉ Tôn Trung Sơn – nd) từng nói, là “việc quản lý chúng nhân.” “Vi chính” mà Khổng tử nói đến là giáo hóa, giáo hóa là một danh từ của văn hóa Trung Quốc, không nên xem thành như giáo dục. Giáo là giáo dục, hóa là cảm hóa, nhưng trong quá khứ cũng không gọi là cảm hóa, mà gọi là phong hóa. Ý nghĩa của Vi chính bao gồm giáo hóa. Trọng điểm này chúng ta cần phải nắm vững. Do đó thiên hai Vi chính, cũng là nói về đạo lý dùng học vấn ở bên ngoài.

Phong phạm của đại chính trị gia

Tử viết: Vi chính dĩ đức, thí như bắc thần, cư kì sở nhi chúng tinh củng chi.

[…] Mấy câu này, ở bên ngoài, vô cùng dễ hiểu. Khổng tử đề ra rằng, vi chính, trọng yếu nhất là “đức.” Nói đến đây, chúng ta cần chú ý, thời đại Xuân thu Chiến quốc, hai chữ “đạo đức,” rất ít khi được dùng kết hợp với nhau, tại thời gian đó, đạo là đạo, đức là đức. Sau Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều, tới thời Đường, Tống, mới đem hai chữ này kết hợp lại, biến thành một danh từ “đạo đức”; hiện tại khi người trẻ tuổi nhắc đến đạo đức, đều cho đây là một danh từ đáng ghét. Đây là một diễn biến của văn hóa tư tưởng. Do đó chúng ta cần biết, trước thời Tần, Hán, đức là đức; mà “đạo” và “thiên,” vào lúc đó có thể nói là phiền phức nhất, là hai chữ khó giải thích nhất, giống như nhau có ý nghĩa vô cùng. Có lúc chữ “đạo,” là đại diện của bản thể hình nhi thượng, có lúc là đạo của đạo lộ (đường đi), có lúc ý nghĩa là quy tắc, giống như trong “Tôn tử binh pháp”: “Binh giả quỷ đạo dã,” đạo này ý nghĩa chính là quy tắc; có lúc lại là đại biểu của đạo đức. Chữ “thiên” cũng như vậy, bao hàm hơn bốn năm ý nghĩa. Trong cùng một quyển sách, thậm chí trong cùng một câu, chữ đạo ở trước và ở sau, ý nghĩa đã bất đồng. Đây như là một căn bệnh của văn hóa Trung Quốc, kỳ thực cũng là một điểm mạnh, đặc biệt trong thời cổ đại khi kỹ thuật ấn loát chưa được phát minh, 1 quan niệm dùng 1 chữ để đại biểu, dùng dao khắc trên thẻ trúc, vào thời đó đã đủ để biểu đạt hoàn toàn.

Lại nói đến ý nghĩa của chữ “đức” này, chữ “đức” trong quá khứ biểu thị thành quả và tác dụng của hành vi tốt. Người thời cổ đại giải thích “德者得也” – đức giả đắc dã – đức, có nghĩa là được. Do đó chúng ta hiểu lời Khổng tử giảng về “vi chính dĩ đức,” là thành quả của hành vi tốt, cùng với “đạo đức” mà hậu thế nói không khác biệt lớn lắm. Nếu như không nghiên cứu sâu, thông thường trong trường đại học, sẽ nói với học sinh, ‘đức’ ở đây chính là ‘đạo đức,’ vì học sinh chưa đạt đến trình độ tương đối, thầy cô giáo cũng không có cách nào đem nhiều những thứ đồ cổ giảng giải tỉ mỉ kỹ càng được. Khổng tử tại sao lại đề ra chữ “đức” này, đây là vấn đề đầu tiên.

Sao trên trời biết có bao nhiêu

Vấn đề thứ hai nói đến “Bắc thần.” Văn hóa Trung Quốc phát triển sớm nhất là thiên văn. Trong quá khứ chúng ta chúng ta đem thiên thể (bầu trời) chia thành “nhị thập bát tú” – hai mươi tám “tú” và ba “viên” – ba chòm sao: tử vi, thiếu vi, thái vi, giống như chúng ta ngày nay nói về kinh vĩ độ của thiên văn. Kinh vĩ độ là phương pháp phân chia của phương Tây. Từng có nhà thiên văn học chủ trương, chúng ta tự tính toán lại, không theo cách tính số độ của phương Tây, như thời gian Greenwich là người Anh tính ra, với chúng ta không liên can. Chúng ta tại sao không nói về thời gian ở trung nguyên của bản thân, hoặc lấy Đài Loan làm trung tâm, lấy kinh vĩ độ tính lại? Nhưng thực ra, trong quá khứ chúng ta đã từng tính toán phân chia rồi. Thiên thể (bầu trời) phân chia thành tam viên, nhị thập bát tú, chính là đem phạm vi của tinh tọa (vị trí sao/ chùm sao), tính toán phân chia thành hai mươi tám phần. Tại sao gọi là宿- “tú”? Đây là chỉ mỗi ngày thời gian mặt trời từ phương Tây lặn xuống, trên bầu trời phương Đông có một tinh tọa xuất hiện, tinh tọa này là “tú.” Tinh tọa này xuất hiện, mỗi tháng không giống nhau, mỗi nửa tháng không giống nhau, mỗi tuần không giống nhau, do đó phân thành hai mươi tám tú, lại phân thành mười hai thần (giờ), tạo thành quan hệ thời gian và thiên thể. Trong quá khứ phát hiện bắc đẩu thất tinh, chính là chòm sao đại hùng tinh tiểu hùng tinh mà hiện tại người phương Tây nói đến. Trong mùa hè chúng ta có thể thấy một dải ngân hà, ở phía bắc của ngân hà, bảy ngôi sao sáng nhất là (chùm) sao Bắc Đẩu, bảy ngôi sao này liên kết với nhau, giống như gáo múc nước, thời xưa gọi là “đẩu.” Thiên văn học hiện đại, cũng không khác so với nguyên tắc của tổ tiên chúng ta. Cả một bầu trời bao nhiêu ngôi sao, đều lấy sao bắc cực làm trung tâm, các sao khác vây quanh sao bắc cực, mỗi lần đến buổi tối, cán đẩu phía trước của bắc đẩu thất tinh, nhất định có hai ngôi sao sáng nhất, gọi là Chiêu Diêu nhị tinh, ánh sáng lấp lánh nhất, rất dễ nhìn thấy. Mùa xuân Bắc Đẩu tinh nhất định chỉ về cung Dần ở phía Đông. Ngày xưa làm Đại tướng, cần trên thông thiên văn, dưới thông địa lý, giữa thông nhân sự, không gì không biết, mới có thể cầm quân. Do đó trong quân sự thiên văn vô cùng quan trọng, lấy việc hành quân mà nói, ví dụ như trong đêm mà không phân biệt được phương hướng, liền quan sát tinh đẩu, không cần dùng máy móc, mà có thể phân biệt được phương hướng. Nước ta trước kia loại văn hóa này rất phổ biến, hiện tại đối với “thiên văn học” vốn có, chúng ta lại chẳng biết một chút gì. Đối với kiến thức này do tổ tiên truyền lại, chúng ta không thể không chú ý, cần phải xem lại.

Một năm bốn mùa, trên trời tinh tọa di động, giống như nghe chỉ huy của Bắc Đẩu tinh, theo hướng Bắc Đẩu tinh, vây quanh Bắc Đẩu tinh mà chuyển động. Không những một năm bốn mùa, mỗi tháng phương hướng Bắc Đẩu tinh chỉ đều không giống nhau, cả bầu trời theo đó mà vận chuyển. Mỗi ngày mười hai thời thần (canh giờ), phương hướng của Bắc Đẩu tinh cũng lại biến động, do đó đây là một loại biến động cố định hàng nghìn triệu năm, không thể rối loạn, trên thực tế cũng quyết không rối loạn.

Đối với “Bắc thần” chúng ta hiểu, vậy câu này của Khổng tử ý là gì? Chính là nói “vi chính dĩ đức,” trong tâm có đạo, hành vi biểu hiện bên ngoài sẽ ‘vô giải khả kích’ – không có chỗ trễ nải nào có thể công kích được (i). Ví dụ như Bắc thần, có tư tưởng trung tâm, tác phong trung tâm, dùng cảm hóa của đạo đức, ở đó bản thân không cần phải động, chỉ cần phát hiệu lệnh, người ở dưới liền như vô số tinh tọa khắp bầu trời, đều hướng về phía đó mà vận động.

Lưu Bị mắc lừa Tào Tháo

Trong tư tưởng quân sự, mọi người đều biết hai câu “vạn chúng nhất tâm” – vạn người một lòng (ii) cho đến “vận dụng chi diệu, tồn hồ nhất tâm” – sự tinh diệu của việc vận dụng, là ở trong tim (iii). Mọi người đối với hai câu này mỗi người lại có một kiến giải khác nhau. Có người giải thích thành ‘thiên vạn hùng sư thiên vạn tâm’ – nghìn vạn hùng quân nghìn vạn tâm, như thế không tốt lắm, chủ soái giỏi nhất trong tình hình này cũng không có biện pháp, đây là vấn đề tư tưởng, tư tưởng nhất định cần tập trung.

“Vận dụng chi diệu, tồn hồ nhất tâm,” là Nhạc Phi đề ra. Hiện tại chúng ta nếu như giải thích thành sự linh hoạt trong tâm kế của chủ soái, cái gọi là “sơn nhân tự hữu diệu kế” – ẩn sĩ tự có kế sách tinh diệu của mình, như thế là vô cùng hỏng. Chúng tôi nghiên cứu, “nhất tâm” trong câu “tồn hồ nhất tâm” này, ý nghĩa là “vạn chúng nhất tâm” có vẻ thích đáng nhất. Như vậy “cư kì sở nhi chúng tinh củng chi” chính là đạo lý này.

Tiếp đến, chúng ta biết rằng, tư tưởng hai nhà Nho Đạo, trước thời Tần Hán không phân chia. Mọi người đều biết, tư tưởng Lão Trang của Đạo gia nói “无为而治” – “vô vi nhi trị” (iv), có một số người nói về tư tưởng “vô vi nhi trị” của Đạo gia, đều giải thích thành người làm lãnh đạo ở phía trên, cái gì cũng không quản, chính là “vô vi nhi trị.” Đây là hiểu sai hoàn toàn, Đạo gia không có thuyết pháp như thế, mà là “vô vi vô bất vi.” Cái gọi là “vô vi nhi trị” là kiểm soát lúc sự việc chưa có dấu hiện phát sinh, sau xem ra như là không có việc gì. Ví dụ nói, một người lãnh đạo, một người chủ trì, đối với bất kỳ một phương pháp nào, khi bắt đầu trước hết cần biết rõ các tai hại về sau này của nó, vấn đề xuất hiện ở đâu, trước hết tìm ra nguyên nhân của nó, khai thông vấn đề, sẽ không xuất hiện vấn đề nữa, sau đó mới có thể “无为而无所不为” – vô vi nhi vô sở bất vi – không làm gì nhưng không gì là không làm.

Nói đến đây, nói một chuyện cười, năm đó trong thời kỳ kháng chiến, có một người bạn ở một cơ quan hành chính đốc sát chuyên viên làm phó tư lệnh bảo an, anh ta gần như ngày nào cũng ở bên ngoài diệt phỉ, tôi hỏi anh ta: “chỗ của các anh lấy đâu ra lắm thổ phỉ thế?” Anh ta trách tôi cả một ngày là không quan tâm đến đại sự thiên hạ, đến quạt lông ngỗng cũng không cầm, không thể làm quân sư. Tôi hỏi lời này ý là gì. Anh ta nói: ‘Nếu như diệt hết thổ phỉ, chúng tôi sẽ như thế nào?’ Tôi nói các anh hóa ra là giữ như thế này. Anh ta nói: “Không phải là chúng tôi cần giữ như thế này, mà là huyện bên cạnh cần giữ như thế này, đem thổ phỉ đuổi tới đuổi lui, số lần diệt trừ nhiều, công lao nhiều, họ cần giữ như thế này, chúng tôi còn biện pháp nào khác?” cũng có người nói Lưu Bị là do Tào Tháo bồi dưỡng ra, giả dụ Tào Tháo không bồi dưỡng ra Lưu Bị này, thì không thể kiềm chế thiên tử để ra lệnh cho chư hầu được.

Việc thiên hạ nguyên là như vậy. Hiện tại nói về câu chuyện xấu như thế này, để giải thích một đạo lý – loại vô vi nhi trị này, thực tại rất không đạo đức. Chúng ta từ tư tưởng chính trị trong chính trị học, quân sự học, đều có thể thấy được, cái gọi là “làm đại tướng không có chiến công hiển hách,” ý nghĩa của câu này trong tư tưởng quân sự, là thứ gọi là “quân không đánh mà khuất phục được người.” Chỉ cần có đại tướng ở đó, quân địch liền sợ, không dám động, chiến tranh không đánh được. Điều này đương nhiên là tuyệt vời. Giả dụ là một người bình thường có chiến công hiển hách, lại là một việc khác. Thứ gọi là đạo lý vô vi, điểm trọng yếu đại loại cũng ở chỗ này, Khổng tử giảng về chính trị đạo đức, cũng là đạo lý này.

Tại sao Khổng tử luôn đề cập đến những thứ như thế này? Người xưa đối với phương pháp nghiên cứu lịch sử Trung Quốc, có một câu gọi là “经史合参” – kinh sử hợp tham. Cái gì gọi là “kinh”? Chính là thường đạo, chính là các nguyên tắc lớn, vĩnh hằng bất biến, ở bất kỳ thời đại nào, bất kỳ địa phương nào, nguyên tắc này sẽ không biến động. Nhưng không phải là chúng ta có khả năng quy định nó không được phép biến động, mà là nó bản thân tất nhiên đã là như vậy, do đó mới được gọi là “kinh.” Mà “sử” là ghi lại biến động thời đại, biến thiên xã hội theo nguyên tắc này. Chúng ta nếu muốn hiểu được kinh, tất phải hiểu được sử. Đem mỗi thời đại lịch sử, mỗi xã hội ra phối hợp. Nghiên cứu kinh sử như thế này, mới có ý nghĩa. Ví dụ Khổng tử nói “vi chính dĩ đức,” nhìn biểu hiện bên ngoài, giống như một thứ giáo điều cứng nhắc. Kỳ thực không phải như vậy. Chúng ta học lịch sử liền biết, thời đại Khổng tử sinh ra, hậu thế chúng ta gọi là “thời đại Xuân Thu,” chính là thời đại giữa Tây Chu và Đông Chu, Khổng tử viết một cuốn sách gọi là “Xuân Thu,” về sau “Xuân Thu” trở thành danh từ chỉ thời đại lịch sử. Trong khoảng thời gian của Khổng tử, có người viết lịch sử, đều gọi là “Xuân Thu.” Trong văn hóa Trung Quốc tại sao lại gọi lịch sử là “Xuân Thu” mà không gọi là “Đông Hạ”? Theo lý lạnh là lạnh, nóng là nóng, gọi là “Đông Hạ” cũng không có gì là không được. Có người nói do câu đầu tiên của sách Xuân Thu “春王正月”- “Xuân vương chính nguyệt” – thời sau đem “Xuân vương chính nguyệt” đọc thành một câu, là đọc sai. Do đó chúng tôi nhấn mạnh một lần nữa, đọc sách cổ cần chú ý, do thời xưa vẫn chưa có giấy viết, văn tự cần dùng dao khắc vào thanh trúc, rất khó khăn, do đó thường một chữ đại biểu cho một ý nghĩa phức tạp. Chữ “Xuân” là mùa xuân; “Vương” là chính phủ trung ương, là triều đình nhà Chu; “Chính Nguyệt” là tháng đầu tiên trong lịch thời tiết triều Chu; do đó mà thành “Xuân vương chính nguyệt” – đem điều này để giải thích nguyên nhân gọi lịch sử là Xuân Thu, đây là không đúng.

Vừa mới đề cập, văn hóa Trung quốc phát triển sớm nhất là khoa học, mà trong khoa học phát triển sớm nhất là thiên văn, nói đến lịch sử khoa học thế giới, thậm chí là khoa học, nhất định nghiên cứu thiên văn trước tiên. Muốn nói đến thiên văn, thiên văn Trung Quốc, từ ba nghìn năm trước đã phát triển. Tính trên toàn thế giới, là phát triển đầu tiên. Nói đến thiên văn tất yếu cần phải nói đến số học, mà số học Trung Quốc, từ sáu ngàn năm trước, cũng rất phát triển. Các phương diện này đợi tương lai khi có cơ hội bàn về “Dịch kinh,” sẽ nói đến.

Văn hóa Trung Quốc là từ thiên văn mà tới – chúng ta biết một năm bốn mùa khí hậu không đồng đều, mùa đông rất lạnh, mùa hạ rất nóng. Nói đến ngày đêm, vào mùa đông ban ngày rất ngắn, vào mùa hạ rất dài, đều không đồng đều. Chỉ có trong tháng hai mùa xuân và  tháng tám mùa thu, hai tiết khí “xuân phân,” “thu phân,” chính là tại kinh vĩ độ, mặt trời vừa mới đến thời khắc hoàng đạo, ngày trắng đêm đen dài bằng nhau, khí hậu không lạnh không nóng rất ôn hòa, do đó gọi lịch sử là Xuân Thu. Đây chính là nhà lịch sử học Trung Quốc nhận định rằng trong thời đại đó, xã hội, chính trị tốt hay không tốt, đặt tại một cán cân cân bằng như xuân phân thu phân mà phê bình phán định. Lấy quan niệm ngày nay mà nói, anh có đủ phân lượng không? Anh làm hoàng đế bao nhiêu năm? Có đối xử tốt với quốc gia không? Anh làm quan bao nhiêu năm? Có đối tốt với bách tính không? Đều thay mặt anh mà cân đo đánh giá. Lịch sử gọi là “Xuân Thu” chính là đạo lý này.

Từ gió bão hiểu nhân sinh

Chúng ta xem “Xuân Thu,” xem lịch sử thời Xuân Thu Chiến quốc, Khổng tử trong系传 –“Hệ truyện,” “Kinh Dịch” nói: “臣弑其君,子弑其父,非一朝一夕之故,其所由来者,渐矣” – “thần thí kì quân, tử thí kì phụ, phi nhất triêu nhất tịch chi cố, kì sở do lai giả, tiệm hĩ” – Tôi giết vua, con giết cha, nguyên do không ở trong một sớm một chiều, điều đó dần dần mà đến. Nhưng Khổng tử cho rằng “phi nhất triêu nhất tịch chi cố” – không phải là hình thành nên trong một ngày. Trang tử của Đạo gia nói: “飓风起于萍末” – “cự phong khởi ư bình mạt”- gió lốc bắt đầu từ đầu cánh bèo, cự phong chính là từ địa phương Quảng Đông, Phúc Kiến để chỉ bão (台风 – đài phong), hiện tại người phương Tây dùng ngữ âm Trung Quốc dịch ra, cũng gọi là đài phong (typhoon). Chúng ta thấy bão có sức rất mãnh liệt, nhưng lúc bắt đầu từ mặt nước, chỉ thấy một lá bèo ở trên mặt nước, hơi động một chút, ngay sát mặt nước một cỗ khí lưu sinh ra, dần dần lớn lên, biến thành bão. Câu này của Đạo gia là nói, một người cũng thế, gia đình cũng thế, việc của xã hội, quốc gia, thiên hạ đều như thế, nếu như việc nhỏ không để ý đến, tất từ việc nhỏ này sẽ phát sinh ra vấn đề lớn. “Cự phong khởi ư bình mạt,” gió bão lớn xuất phát từ gió nhỏ nơi  đầu sóng (phong ba). Do đó Khổng tử trong Kinh dịch nói câu ở phía trên, thuyết minh mọi việc trong thiên hạ hình thành không phải ngẫu nhiên, gần như không có ngẫu nhiên. Bình thường nghe người ta nói “cơ hội này rất ngẫu nhiên,” trên thực tế không có việc nào ngẫu nhiên cả.

Theo đạo lý Kinh dịch của văn hóa Trung Quốc mà nói, mọi sự trong thiên hạ đều có nguyên nhân, có rất nhiều nhân tố. Ví dụ có người nhặt được một đồng tiền, “Thật ngẫu nhiên!” nhưng nếu phân tích kỹ, một chút cũng không ngẫu nhiên, nguyên nhân của việc này là gì? Do anh ta đi ra khỏi nhà, nếu như không có tiền nhân là anh ta đi ra khỏi nhà, sẽ không có hậu quả là nhặt được một đồng tiền. Hoặc nói, ngồi trong nhà đánh rơi một đồng tiền, đây có thể là ngẫu nhiên không? Nhưng do anh ta ngồi trong nhà, đồng tiền này rơi ra anh ta mới nhặt được. Giả dụ anh ta đi ra khỏi nhà không ngồi ở trong nhà, tiền rơi xuống, cũng không chắc là của anh ta, do đó ngồi trong nhà không ra ngoài, cũng là tiền nhân của việc nhặt được đồng tiền này. Vì vậy đây đều là nhân tố, “kì sở do lai giả, tiệm hĩ.” Đều là dần dần biến hóa mà sinh ra. “Kinh dịch” nói với chúng ta, việc trong thiên hạ, không có đột biến, chỉ có vào lúc trí tuệ của chúng ta không đủ, mới nhìn mỗi một sự việc là đột biến, kì thực sớm đã có một nguyên nhân tiềm phục tại đó.

Chúng ta hiểu mấy câu “Kinh dịch” này, Khổng tử viết “Xuân Thu,” chính là gặp đúng thời đại đó, Khổng tử do đó đặt nặng về giáo hóa, chính là trong ba bốn trăm năm này, phong khí xã hội loạn đến mức trầm trọng.  Chúng ta không ngại có thể dẫn lời vài người, có thể biết thời Xuân Thu loạn đến trình độ nào.

Tư Mã Quang nói: “Nay đại phu nước Tấn hãm hại vua, phân chia nước Tấn (chỉ Triệu, Ngụy, Hàn ba nước phân chia Tấn), thiên tử đã không thể trừng trị, lại dung túng, khiến cho các chư hầu, phân liệt nhỏ ra không thể giữ, mà đều bỏ cả, lễ của tiên vương, đã đến lúc tận vậy.”

Lại nói: “Thiên hạ lấy trí lực xưng hùng, theo việc dùng con cháu của thánh hiền thành bậc chư hầu, xã tắc không gì không tan tành, các loại dân, tan tác hết cả, há chẳng bi ai ư!”

[Lười dịch nên bỏ một đoạn]

Từ các ghi chép ở trên, chứng minh sự hỗn loạn xã hội thời Xuân thu Chiến quốc, biến loạn vô cùng trầm trọng. Đương thời, mọi người xem trọng tranh đấu quyền lợi, loạn trật tự xã hội, suy bại văn hóa, so sánh với một số tình hình xã hội của chúng ta ngày nay, có điểm gần tương đồng. Khổng tử đối diện với biến động hỗn loạn này, vô cùng phiền não, do đó Khổng tử nói vi chính, quyền lực chẳng hữu dụng gì, duy “đức”  mới được.

Thánh nhân cũng hợm mình chăng?

Nói đến “đức,” có một quan niệm thứ ba, chúng ta thấy lịch sử Trung Quốc, tư tưởng Nho gia tại sao tôn sùng Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ, Chu Công như vậy? Trước đây tôi có một người bạn, hơn tôi vài chục tuổi, là bạn vong niên, người Tứ Xuyên, tự xưng là “Giáo chủ Hậu Hắc” Lý Tông Ngô, người này người cùng thời đều biết. Bản thân con người ông đạo đức vô cùng tốt, nhưng lại thích cố ý mắng người, tôi khuyên ông  bớt mắng người ta một chút, đừng đề xướng Hậu Hắc học, tôi nói bản tính con người đều là như vậy, mặt dày tâm đen, nhưng vẫn dùng một tấm màn che để che đậy lại, tại sao nhất định phải vén ra? Ông nói: “Vén ra ư? Anh nhầm rồi, tôi là kéo ra tấm màn xấu xa, dậy người ta nhìn sự chân thực ở đằng sau.” Lý Tông Ngô đối với lịch sử vô cùng hoài nghi, ông nói không thánh nhân không đáng tin, tại sao chuyên tôn sùng Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ, Chu Công mấy người thành công này? Không thành công thì không phải thánh nhân ư? Do đó ông có một bài viết tên là “Hoài nghi thánh nhân.” Vị lão huynh này, chuyên viết văn chương tiêu cực, hỏi ông tại sao lại phải làm như thế?  Ông nói: “Lão đệ, anh không biết, tôi với Albert Einstein cùng tuổi, vị cùng tuổi đó đã phát minh ra thuyết tương đối nổi tiếng thiên hạ. Tôi thì sao? Làm một giáo chủ Hậu Hắc vẫn còn làm không tốt, do đó tôi không ngỗ nghịch một chút không được.” Con người này rất tuyệt diệu, lúc tôi biết ông, ông đã hơn sáu mươi tuổi, cả ngày không ăn cơm, suốt ngày uống rượu, uống rượu là no. Tinh thần, đạo đức đều rất tốt (iv).

Nói đến đây, lại quay lại nói chủ đề chính, Khổng tử tại sao lại đề cao Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ, Chu Công vân vân? Thứ nhất, có tư tưởng đạo đức,  không có thành quả của việc thực hành đức, chỉ có thể nói anh ta có đạo, không thấy được là có đức. Có tư tưởng đạo đức, lại có thành quả của việc làm đạo đức, đạo và đức phối hợp, mới gọi là “đạo đức.”

Trong lịch sử, Đạo gia, Nho gia đều đề cập cao Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ, Chu Công, là vì thời kỳ đó nói đến “vi chính,” chú ý đến chữ “đức,” đến Tần, Hán về sau, chỉ nói đến sự nghiệp công hạng, cái gọi là “tam vương chi trị tại đạo đức, ngũ bá chi chí tại sự công” – việc trị quốc của tam vương ở tại đạo đức, ý chí của ngũ bá ở tại sự nghiệp công hạng (v). Điểm bất đồng của bậc vương, bá là ở chỗ này, từ cấp này trở xuống, đến bá nghiệp cũng không nói đến được, đến sự nghiệp công hạng đều không có, chỉ có dùng thủ đoạn trộm gà cắp chó (vi) để ăn trộm một quốc gia mà thôi.

Mấy câu này tuy là đơn giản, giải thích ra, lại có  ý tứ vô cùng nhiều, chúng ta hiểu được toàn bộ, mới có thể hiểu được giá trị của nó.

 

(i) Vô giải khả kích – 无懈可击 – wú xiè kě jī (giải: lỏng lẻo trễ nải, suy ra là có lỗ hổng, khe hở; câu này có nghĩa là không có nhược điểm nào khiến người khác có thể công kích được, hình dung rất nghiêm khắc chặt chẽ chu đáo không có sơ hở, không thấy sơ hở nào; câu bắt nguồn từ kế sách Tôn tử: 攻其无备,出其不意 – công kì vô bị, xuất kì bất ý: khi tấn công quân địch, hành động vào lúc địch chưa phòng bị hoặc chưa tính đến. Tào tháo chú thích là: 击其懈怠,出其空虚 – kích kì giải đãi, xuất kì không hư: tấn công lúc địch lười biếng trễ nải, hoặc rỗng không).

(ii) Vạn chúng nhất tâm -万众一心 – wàn zhòng yī xīn (câu trong Hậu Hán thư; ngàn vạn người một lòng, hình dung đoàn kết nhất trí).

(iii) Vận dụng chi diệu, tồn hồ nhất tâm -运用之妙,存乎一心 – yùn yòng zhī miào,cún hū yī xīn (câu trong Tống sử, Nhạc Phi truyện, câu Nhạc Phi nói: 阵而后战,兵法之常,运用之妙,存乎一心: trận nhi hậu chiến, binh pháp chi thường, vận dụng chi diệu, tồn hồ nhất tâm: bày trận thế sau đó xuất chiến, đây là quy tắc thông thường của việc chiến đấu, nhưng có thể khéo léo linh hoạt sử dụng, tất cả là do giỏi giang thiện nghệ trong suy nghĩ, phân tích, nghiên cứu. Chỉ cao chiêu trong nghệ thuật chỉ huy tác chiến; đây là cách giải thích thông thường, còn tác giả Nam Hoài Cẩn có cách giải thích khác như trong bài).

(iv) Sách Hậu Hắc học của Lý Tông Ngô đã dịch sang tiếng Việt. Hậu là dày, Hắc là đen, sách của ông bàn về “mặt dày tâm đen.” Đọc thêm ở đây, tiếng Anh ghi là Thick Black Theory https://en.wikipedia.org/wiki/Thick_Black_Theory.

(v) Tam vương ngũ bá: các vị quân chủ kiệt xuất trước thời Tần; tam vương bao gồm vua Hạ Vũ, Thương Thang, Chu Văn Vương; ngũ bá bao gồm Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công, Sở Trang Vương, Ngô vương Hạp Lư.

(vi) Thâu kê mạc cẩu – 偷鸡摸狗 – tōu jī mō gǒu (trộm gà cắp chó; chỉ hành động ăn cắp, hoặc việc làm bất chính).

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi

Bài này là để tổng kết lại Thiên 1, phục vụ cho mục đích tra cứu sau này, cũng như giúp có một cái nhìn tổng thể về Thiên.

Số thứ tự của các chương là link dẫn đến bài về từng chương một.

Tổng kết lại, chương này bao gồm các nguyên tắc, chuẩn mực làm người (tốt), làm “quân tử,” và liên hệ với việc học tập, mục đích của học tập là gì. Trong 16 câu này, lọt vào một câu số 1.5 liên quan đến trị quốc, cho đến giờ ta vẫn chưa hiểu lắm dụng ý của các nhà biên soạn khi xếp câu này vào Thiên Học nhi. Hy vọng về sau sẽ “ngộ” ra ý nghĩa.

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi.

1.1. 子曰:“学而时习之,不亦说 乎?有朋自远方来,不亦乐乎?人不知而不愠,不亦君子乎?”

Zǐ yuē:   xué ér shí xí zhī bù yì yuè hū Yǒu péng zì yuǎn fāng lái bú yì lè hū Rén bù zhī ér bú yùnbú yì jūn zǐ hū

Tử viết: Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ? Hữu bằng từ viễn phương lai, bất diệc lạc hồ? Nhân bất tri, nhi bất uấn, bất diệc quân tử hồ?

 

1.2. 有子曰:“其为人也孝弟,而好犯上者,鲜矣;不好犯上而好作乱者,未之有也。君子务本,本立而道生。孝弟也者,其为仁之本与!”

Yǒu zǐ yuē qí wéi rén yě xiào tì ér hào fàn shàng zhě xiǎn yǐ  bù hào fàn shàng ér hào zuò luàn zhě, wèi zhī yǒu yě Jūn zǐ wù běn, běn lì ér dào shēng Xiào tì yě zhě qí wéi rén zhī běn yú

Hữu tử viết: kì vi nhân dã hiếu đễ, nhi hảo phạm thượng giả, tiển hĩ; bất hảo phạm thượng, nhi hảo tác loạn giả, vị chi hữu dã. Quân tử vụ bản, bản lập nhi đạo sinh. Hiếu đễ dã giả, kì vi nhân chi bản dư!

 

1.3. 子曰:“巧言令色,鲜矣仁!”

Zǐ yuē: qiǎo yán lìng sè, xiān yǐ rén!

Tử viết: xảo ngôn lệnh sắc, tiển hĩ nhân!

 

1.4. 曾子曰:“吾日三省吾身:为人谋而不忠乎?与朋友交而不信乎?传不习乎?”

Zēng  zǐ  yuē   wú sān xǐng wú shēn  wèi  rén móu ér bú zhōng hū   yǔ péng yǒu  jiāo ér bú xìn  hū  chuán bù xí hū  

Tăng tử viết: Ngô nhật tam tỉnh ngô thân: vi nhân mưu nhi bất trung hồ? Dữ bằng hữu giao nhi bất tín hồ? Truyền bất tập hồ?

 

1.5. 子曰:“道千乘之国,敬事而信,节用而爱人,使民以时。”

Zǐ yuē :“dào qiān shèng zhī guó ,jìng shì ér xìn ,jié yòng ér ài rén ,shǐ mín yǐ shí 。”

Tử viết: Đạo thiên thặng chi quốc, kính sự nhi tín, tiết dụng nhi ái nhân, sử dân dĩ thời.

 

1.6. 子曰:“弟子入则孝,出则弟,谨而信,泛爱众,而亲仁,行有余力,则以学文。”

Zǐ yuē “dì zǐ rù zé xiào chū zé tì jǐn ér xìn fàn ài zhòng ér qīn rén , xíng yǒu yú lì zé yǐ xué wén ” 

Tử viết: Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng, nhi thân nhân, hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn.

 

1.7. 子夏曰:“贤贤易色;事父母,能竭其力;事君,能致其身;与朋友交,言而有信。虽曰未学,吾必谓之学矣。”

Zǐ xià yuē “xián xián yì sè shì fù mǔ néng jié qí lì shì jūn néng zhì qí shēn yǔ péng yǒu jiāo yán ér yǒu xìn suī yuē wèi xué wú bì wèi zhī xué yǐ ” 

Tử hạ viết hiền hiền dị sắcsự phụ mẫunăng kiệt kì lựcsự quânnăng trí kì thândữ bằng hữu giaongôn nhi hữu tínTuy viết vị họcngô tất vị chi học hĩ

 

1.8. 子曰:“君子,不重则不威; 学则不固。主忠信。无友不如己者。过则勿惮改。”

Zǐ yuē “jūn zǐ, bù zhòng zé bù wēi xué zé bù gù Zhǔ zhōng xìnWú yǒu bù rú yǐ zhě Guò zé wù dàn gǎi

Tử viết: quân tử, bất trọng tắc bất uy; học tắc bất cố. Chủ trung tín. Vô hữu bất như kỉ giả. Quá tắc vật đạn cải.

 

1.9. 曾子曰:“慎终追远,民德归厚矣。”

Zēng zǐ yuē “Shèn zhōng zhuī yuǎn mín dé guī hòu yǐ ” 

Tăng tử viết: Thận chung truy viễn, dân đức quy hậu hĩ.

 

1.10. 子禽问于子贡曰:“夫子至于是邦也,必闻其政,求之与,抑与之与?”子贡曰:“夫子温、良、恭、俭、让以得之。夫子之求之也,其诸异乎人之求之与?”

Zǐ Qín wèn yú Zǐ Gòng yuē “fū zǐ zhì yú shì bāng yě bì wén qí zhèng qiú zhī yǔ, yì yǔ zhī yǔ ” Zǐ Gòng yuē “fū zǐ wēn liáng gōng jiǎn ràng yǐ de zhī Fū zǐ zhī qiú zhī yě qí zhū yì hū rén zhī qiú zhī yǔ

Tử Cầm vấn ư Tử Cống viết: “Phu tử chí ư thị bang dã, tất văn kì chính, cầu chi dư, ức dữ chi dư?”

Tử Cống viết: “Phu tử ôn, lương, cung, kiệm, nhượng dĩ đắc chi. Phu tử chi cầu chi dã, kì chư dị hồ nhân chi cầu chi dư?”

 

 

1.11. 子曰:“父在,观其志;父没,观其行;三年无改于父之道,可谓孝矣。”

Zǐ yuē “fù zài guān qí zhì fù méi guān qí xìng sān nián wú gǎi yú fù zhī dào kě wèi xiào yǐ

Tử viết: Phụ tại, quan kì chí; phụ một, quan kì hành; tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu hĩ.

 

1.12 有子曰:“礼之用,和为贵。先王之道,斯为美。小大由之, 有所不行。知和而和,不以礼节之,亦不可行也。”

Yǒu zǐ yuē “Lǐ zhī yòng hé wéi guì Xiān wáng zhī dào sī wéi měi Xiǎo dà yóu zhī, yǒu suǒ bù xíng Zhī hé ér hé bù yǐ lǐ jié zhī yì bù kě xíng yě

Hữu tử viết: Lễ chi dụng, hòa vi quý. Tiên vương chi đạo, tư vi mỹ. Tiểu đại do chi, hữu sở bất hành. Tri hòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành dã.

 

1.13 有子曰:“信近于义,言可复也;恭近于礼,远耻辱也;因不失其亲,亦可宗也。”

Yǒu zǐ yuē :“xìn jìn yū yì ,yán kě fù yě 。Gōng jìn yū lǐ ,yuàn chǐ rǔ yě 。Yīn bù shī qí qīn ,yì kě zōng yě 。”

Hữu tử viết: Tín cận  ư nghĩa, ngôn khả phục dã. Cung cận ư lễ, viễn sỉ nhục dã; nhân bất thất kì thân, diệc khả tông dã.”

 

1.14 子曰:“君子食无求饱,居无求安,敏于事而慎于言,就有道而正焉,可谓好学也已。”

Zǐ yuē “jūn zǐ shí wú qiú bǎo jū wú qiú ān mǐn yū shì ér shèn yū yán jiù yǒu dào ér zhèng yān kě wèi hào xué yě yǐ ” 

Tử viết: Quân tử thực vô cầu bão, cư vô cầu an, mẫn ư sự nhi thận ư ngôn, tựu hữu đạo nhi chính yên, khả vị hiếu học dã dĩ.

 

1.15 子贡曰:“贫而无谄,富而无骄,何如?”子曰:“可也。未若贫而乐,富而好礼者也。”子贡曰:《诗》云,‘如切如磋!如琢如磨’,其斯之谓与?”子曰:“赐也!始可与言《诗》已矣,告诸往而知来者。”

Zǐ Gòng yuē “pín ér wú chǎn fù ér wú jiāo hé rú

Zǐ yuē “kě yě wèi ruò pín ér lè fù ér hǎo lǐ zhě yě ” 

Zǐ Gòng yuē shī yún ‘ rú qiē rú cuō rú zhuó rú mó ’qí sī zhī wèi yǔ

Zǐ yuē “cì yě shǐ kě yǔ yán shī yǐ yǐ gào zhū wǎng ér zhī lái zhě

 

Tử Cống viết: “Bần nhi vô siểm, phú nhi vô kiêu, hà như?”

Tử viết: “Khả dã. Vị nhược bần nhi lạc, phú nhi hảo lễ giả dã.”

Tử Cống viết: ““Thi” vân, ‘như thiết như tha! như trác như ma,’ kì tư chi vị dư?”

Tử viết: “Tứ dã! Thủy khả dữ ngôn “Thi” dĩ hĩ, cáo chư vãng nhi tri lai giả.”

 

1.16 子曰:“不患人之不已知,患不知人也。”

Zǐ yuē: “bù huàn rén zhī bù jǐ zhī, huàn bù zhī rén yě.’

Tử viết: “Bất hoạn nhân chi bất kỉ tri, hoạn bất tri nhân dã.”

HAPPY NEW YEAR 2017.

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.16

1.16 子曰:“不患人之不已知,患不知人也。”

Zǐ yuē: “bù huàn rén zhī bù jǐ zhī, huàn bù zhī rén yě.’

Tử viết: “Bất hoạn (1) nhân (2) chi bất kỉ tri, hoạn bất tri nhân dã.”

[Chú thích – Dương Bá Tuấn]

(1) 患 – huàn – hoạn: ưu tư, lo lắng, sợ.

(2) 人 – rén – nhân: chỉ người có giáo dưỡng, có tri thức, chứ không phải nhân dân nói chung.

[Giải nghĩa câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Không sợ người khác không hiểu ta, chỉ sợ ta không hiểu người khác.”

[Bình luận – Dương Bá Tuấn]

Câu này là đạo lý đối nhân xử thế mà Khổng tử truyền thụ cho học sinh của mình. Có người giải thích rằng, đây là tư tưởng an bần lạc đạo, không cầu danh lợi của Khổng tử. Giải thích này có lẽ không thỏa đáng lắm, do không phù hợp với chủ trương trước sau như một của Khổng tử. Trong quan niệm của Khổng tử, học nhi ưu tắc sĩ – học tập tốt xong, nếu vẫn còn dư lực, thì đi làm quan (i), đây là một loại thái độ tích cực nhập thế, bước ra xã hội. Ẩn ý trong này là: trong quá trình tìm hiểu, hiểu biết về người khác, cũng để người khác hiểu về mình.

(i) Trong một câu đầy đủ là ‘Sĩ nhi ưu tắc học, học nhi ưu tắc sĩ’ – 仕而优则学,学而优则仕 – shì ér yōu zé xué, xué ér yōu zé shì (Câu trong Luận ngữ, thiên Tử trương; làm quan mà còn dư lực thì học tập; học tập tốt xong, nếu vẫn còn dư lực, thì đi làm quan; nói chung là một câu yêu cầu phải liên tục học tập, học đi đôi với hành).

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Quân tử cầu ở bản thân, không sợ người không biết mình. Nếu không có Khổng Tử, sẽ không biết nên noi theo Nghiêu Thuấn. Không có Mạnh tử, sẽ không biết Khổng tử là thánh hiền, vì đời vì người mà trước giờ chưa có. Do đó mới biết “tri nhân” đáng quý như thế nào, mà nếu không “tri nhân” đáng sợ như thế nào.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Đây là kết lại tinh thần của Thiên Học nhi. Khổng tử nói một người không sợ người khác không hiểu mình, sợ nhất là mình không hiểu người khác. Đây là kết luận của câu “Nhân bất tri nhi bất uấn, bất diệc quân tử hồ.” Đại khái con người luôn có một căn bệnh phổ thông, chính là luôn cảm giác mình rất hay, rất giỏi, mỗi khi nói sai một câu, mặt lại đỏ lên; nhưng sau ba giây, mặt hết đỏ, ngay lập tức trong đầu tìm đủ lý do để giải thích cho lỗi lầm của mình, cho rằng bản thân hoàn toàn đúng, lại qua một tiếng đồng hồ, càng nghĩ càng thấy mình đúng. Chính vì như thế này, nên con người luôn trách người khác không hiểu mình, mà đối với vấn đề mình có hiểu người khác hay không, lại không để tâm đến. Do đó mục đích của thiên Học nhi này, chương cuối cùng, lấy câu của chương đầu tiên “nhân bất tri nhi bất uấn, bất diệc quân tử hồ” làm trọng điểm. Điểm trọng yếu của kết luận này là tại sao phải giữ oán hận trong lòng? Không cần sợ người khác không hiểu mình, quan trọng nhất là mình có hiểu người khác hay không. Vì vậy thiên này nói về mục đích của học vấn, đến đây là đạt đến kết luận.

[Lời bàn của Yên Liên]

Đáng tiếc, các học giả không đi sâu phân tích bình luận về chương này. Nói chỉ sợ không hiểu người khác, nhưng nội dung của “hiểu” này là gì? Chúng ta cụ thể cần hiểu những gì về người khác? Và chúng ta cần làm những gì, học những gì, có thái độ như thế nào để hiểu về người khác? Và hiểu về người khác, đem lại những lợi ích gì? Có lợi gì cho việc tu thân? Đây đều là những câu hỏi đáng để suy nghĩ, và nếu đi sâu vào phân tích, có thể sẽ dẫn đến nhiều tranh luận rất hay.

😘😘 La la la la 😘😘…. Kết thúc thiên 1!!! 🎉🎊✨🎈🎊🎉🎈🎈🎈🍰🍩🎂🍨🍧🍸🍷🍷🍷

Tuy nhiên, từ giờ đến hết năm bận kinh khủng khiếp (trả nợ cũ và kiếm tiền mới hihi) nên chắc phải 1 tháng nữa mới tiếp tục với công trình này.

Con chim kia nợ ta một đống thơ từ, nhớ lấy.

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.15

1.15 子贡曰:“贫而无谄,富而无骄,何如?”子曰:“可也。未若贫而乐,富而好礼者也。”子贡曰:《诗》云,‘如切如磋!如琢如磨’,其斯之谓与?”子曰:“赐也!始可与言《诗》已矣,告诸往而知来者。”

Zǐ Gòng yuē :“pín ér wú chǎn ,fù ér wú jiāo ,hé rú ?”

Zǐ yuē :“kě yě 。wèi ruò pín ér lè ,fù ér hǎo lǐ zhě yě 。” 

Zǐ Gòng yuē :“《shī 》yún :‘ rú qiē rú cuō ,rú zhuó rú mó ’,qí sī zhī wèi yǔ ?”

Zǐ yuē :“cì yě ,shǐ kě yǔ yán 《shī 》yǐ yǐ ,gào zhū wǎng ér zhī lái zhě 。”

 

Tử Cống viết: “Bần nhi vô siểm (1), phú nhi vô kiêu, hà như (2)?”

Tử viết: “Khả dã. Vị nhược bần nhi lạc (3), phú nhi hảo lễ giả dã.”

Tử Cống viết: ““Thi” vân, ‘như thiết như tha! như trác như ma (4),’ kì tư chi vị dư?”

Tử viết: “Tứ (5) dã! Thủy khả dữ ngôn “Thi” dĩ hĩ, cáo chư vãng nhi tri lai giả (6).”

 

[Chú thích – Dương bá Tuấn]

(1) 谄- chǎn- siểm: ý là xu phụ, phụng thừa.

(2) 何如 – hé rú – hà như: “Hà như” trong sách Luận ngữ, đều có thể diễn giải thành怎么样 – như thế nào.

(3) 贫而乐 – pín ér lè – bần nhi lạc: có bản viết “bần nhi lạc đạo.”

(4) 如切如磋,如琢如磨 – rú qiē rú cuō ,rú zhuó rú mó – như thiết như tha, như trác như ma: hai câu này trong “Thi Kinh. Vệ Phong. Kỳ áo.” Có 2 cách giải thích: một thuyết nói “thiết, tha, trác, ma” phân biệt chỉ bốn loại gia công đối với bốn nguyên vật liệu khác nhau là xương, ngà voi, ngọc và thạch, nếu không thì không làm thành vật dụng được; một thuyết nói gia công ngà voi và xương, thiết (cắt, khắc, E: cut) rồi vẫn cần tha (mài, E: polish), gia công ngọc, và đá, trác (mài giũa, E: cut [gems]) rồi vẫn cần ma (mài, E: rub, polish), có ý là đã tốt, hoàn mĩ, tinh xảo rồi còn cầu tốt hơn nữa. (Tinh ích cầu tinh – 精益求精 – jīng yì qiú jīng).

(5) 赐 – Tứ: tên của Tử Cống

(6) 告诸往而知来者- gào zhū wǎng ér zhī lái zhě – cáo chư vãng nhi tri lai giả: 诸, giống như chữ 之 – chi; 往 – vãng: sự tình trong quá khứ, sự tình đã qua; 来 – lai: sự tình trong tương lai, chưa đến.

 

[Diễn giải câu – Dương Bá Tuấn]

Tử Cống nói: Bần cùng nhưng không siểm nịnh ton hót, giàu có nhưng không kiêu ngạo tự đại, như thế thì thế nào? Khổng tử nói: Như thế cũng được. Nhưng vẫn không bằng người tuy bần cùng nhưng vui với đạo, tuy giàu có nhưng hiếu lễ (i).

Tử Cống nói: trong sách Thi nói, ‘cần giống như đối với các loại xương, sừng, ngà voi, ngọc thạch, cắt gọt nó, mài giũa nó,’ chính là nói ý này chăng?

Khổng tử nói: Tứ à, đệ tử có thể từ những lời giảng của thầy mà lĩnh hội được những ý tứ thầy chưa nói ra, cử nhất phản tam (ii), thầy có thể cùng đệ tử đàm luận “Thi” rồi.

(i) Chữ “hiếu” là chữ 好, động từ có nghĩa là yêu thích, giống như trong từ hiếu học, chứ không phải hiếu trong trung hiếu.

(ii) Cử nhất phản tam -举一反三 – jǔ yī fǎn sān: phản: dùng một thứ tương tự để giải thích hoặc suy luận ra thứ khác. Ở đây chỉ từ một việc mà suy rộng ra được các việc khác.

 

[Bình luận – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử hi vọng các đệ tử của mình cho đến bất kỳ ai, đều có thể đạt đến ‘bần nhi lạc đạo, phú nhi hiếu lễ’ cảnh giới lý tưởng này, do đó hàng ngày trong lúc giáo dục đệ tử, luôn đem tư tưởng này ra giảng cho họ. Bần nhi lạc đạo, phú nhi hiếu lễ, trong xã hội vô luận là nghèo hay giàu đều có thể yên ổn ở vị trí hoàn cảnh của mình, thì có thể bảo đảm ổn định xã hội. Khổng tử đối với Tử Cống khá hài lòng, trong đoạn hội thoại này có thể thấy điều đó, Tử Cống có khả năng tư duy độc lập, cử nhất phản tam – học một biết mười, do đó đạt được sự tán dương của Khổng tử. Đây là một đặc điểm rõ nét trong tư tưởng giáo dục của Khổng tử.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

无谄 – Vô siểm: người siểm thì nịnh nọt, bợ đỡ, khom lưng uốn gối đối với người khác.

无骄 – Vô kiêu: người kiêu thì khoe khoang, tùy tiện, ngạo mạn đối với người khác. Nghèo cầu nhiều thứ, nên dễ siểm nịnh. Giàu được người khác cậy nhờ vào, nên dễ kiêu ngạo.

可也: so ra là tốt, tốt nhưng vẫn có điểm chưa tốt hết.

未若贫而乐,富而好礼 – vịnhược bần nhi lạc, phú nhi hiếu lễ: có bản sau chữ “lạc” có chữ “đạo.” Nghèo mà có thể không siểm nịnh, giàu mà có thể không kiêu ngạo, đây đều là biết tự giữ bản tính của mình, [nhưng như vậy] vẫn chưa quên [sự phân biệt] giàu nghèo. Lạc đạo- vui với đạo thì sẽ quên sự nghèo túng của bản thân. Hiếu lễ – yêu thích lễ thì sẽ an với việc ăn ở thiện lương, vui với việc noi theo khuôn khép, trong lòng cũng quên đi sự giàu có của mình. Như thế mới càng đáng quý.

如切如磋,如琢如磨 – Như thiết như tha, như trác như ma: câu thơ này có hai giải thích. (Giống như chú thích (4) nên không chép lại ở đây). Theo giải thích của người xưa, thuyết thứ nhất thích hợp hơn.

其斯之谓与 – Kì tư chi vị dư: câu này theo các câu nêu ra phía trước, Tử Cống nghe Khổng tử giảng, biết vô siểm vô kiêu (không siểm nịnh không kiêu ngạo), có thể là do bản chất tốt đẹp tự nhiên từ lúc sinh ra; nhưng việc lạc đạo hiếu lễ (vui với đạo, ngôn hành tuân theo lễ), tất phải trải qua công phu học tập. Theo phần giảng giải ở sau, Tử Cống nghe Khổng tử giảng, vô siểm vô kiêu không bằng lạc đạo hiếu lễ, mà biết ý nghĩa của đạo là vô cùng, càng về sau càng thâm sâu, như sách Thi từng nói. Cái ngộ ra của Tử Cống, có lẽ là ngộ ra sự vô cùng của nghĩa lý (đạo lý). Xét đến nghĩa lý vô cùng, nên không thể bỏ đi học vấn.

告诸往而知来者 – Cáo chư vãng nhi tri lai giả: vãng: thứ đã xảy ra; lai: thứ chưa xảy ra. Theo câu trước mà giải thích, vô siểm vô kiêu không bằng lạc đạo hiếu lễ, là lời Khổng tử đã nói. Còn những lời trong kinh Thi về công phu học vấn, là lời Khổng tử chưa nói, Tử Cống đã ngộ ra đến đây, do đó Khổng tử khen ngợi là có thể cùng Tử Cống bàn về Thi. Theo câu sau mà giải thích, Khổng tử vừa nói vô siểm vô kiêu không bằng lạc đạo hiếu lễ, Tử Cống đã ngộ đến câu Thi này, để thấy tất cả mọi sự việc đều như vậy, không thể yên ổn, hài lòng với thành tựu nhỏ nhoi, mà không cố gắng để truy cầu sự tinh tiến. Cách giải thích đầu thỏa đáng dễ hiểu, cách giải thích sau quanh co phức tạp, nay chọn cách giải thích đầu.

Chương này có thể hiểu như sau: Tử Cống nói: “người nghèo có thể không siểm nịnh, người giàu có thể không kiêu ngạo, như thế có được không?” Khổng tử nói: “thế cũng tính là tốt, nhưng vẫn không bằng nghèo nhưng vẫn có thể vui với đạo, giàu nhưng vẫn biết hiếu lễ, như vậy sẽ càng tốt hơn.” Tử Cống nói: “Thi Kinh từng nói: giống như cắt, gọt, mài, giũa, không phải chính là ý tứ này chăng?” Khổng tử nói: Tứ à! Như thế này, có thể cũng con bàn luận Thi rồi. Nói với con điều này, con đã có thể hiểu đến điều khác.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Phần này nói đến Tử Cống. Chúng ta đặc biệt lưu tâm đến người này. Trước đây đã từng nhắc đến, Tử Cống trong số các đệ tử của Khổng tử, không những là nhà học vấn, mà còn là nhà ngoại giao, nhà chính trị, theo quan niệm hiện đại, còn là một cự tử (ông trùm) trong giới công thương.

Đọc Sử ký của Tư Mã Thiên, có thể thấy một thiên -货殖列传 – Hóa thực liệt truyện, bộ sách Sử ký này, trong lịch sử văn hóa Trung Quốc, có giá trị vô cùng. ‘Hóa thực liệt truyện’ nói về các nhà thương nghiệp, nói về tình hình phát triển kinh tế công thương xã hội. Văn hóa Trung Quốc trong quá khứ trước sau đều là khinh thường thương nghiệp, cái gọi là sĩ, nông, công, thương, đẳng cấp xã hội của thương nhân, ở hàng thấp kém nhất trong tứ dân, bị xã hội coi thường, mà Tư Mã Thiên đã đặc biệt đề cập đến thương nhân, viết ra chương sách này. Lịch sử Trung Quốc về sau đó, mới có tinh thần ‘Hóa thực liệt truyện,’ cũng ghi chép các việc của giới kinh thương. Tư Mã Thiên khi viết ‘Hóa thực liệt truyện,’ là đã nhận thấy sự phát triển của xã hội công thương liên quan đến huyết mạch chính trị quốc gia, không thể không chú ý, nhưng lúc đó không thể thúc đẩy một cách lộ liễu như vậy, cho nên ông đã viết ra ‘Hóa thực liệt truyện,’ ở trong bao gồm rất nhiều các ẩn ý ca ngợi.

[…]

Chúng ta nói đến Tử Cống, lại dẫn dắt đến Sử ký, Tư Mã thiên trong ‘Hóa thực liệt truyện,’ đặc biệt nhắc đến Tử Cống, phi thường giỏi giang, nếu nói cường điệu một chút, tư tưởng học thuyết của Khổng Tử, về sau có thể lưu truyền cho hậu thế, hoàn toàn dựa vào sức của Tử Cống.

Chương này rất đáng chú ý. Các chương trước chủ yếu giảng về học vấn, chương này miêu tả câu chuyện Tử Cống hỏi Khổng tử, như một đoạn phim vậy. Tử Cống nói, thầy ạ, một người rơi vào cảnh nghèo, thiếu may mắn, mà vẫn không nịnh nọt ton hót, không cúi đầu; một người giàu có đắc ý, mà vẫn có thể đối với người khác không kiêu ngạo, như thế nào? […]

Chúng ta thường nghe nói ‘đắc ý vong hình’ (i), nhưng theo kinh nghiệm cuộc sống vài chục năm của ta, cần có thêm một câu, “thất ý vong hình.” Có người vốn là khá tốt, khi anh ta phát tài, đắc ý, xử lý mọi việc đều rất hợp lý, đích đáng, gặp người khác cũng hòa nhã giữ lễ; nhưng một khi anh ta thất ý, đến người khác cũng ko muốn gặp, thể hiện ra một bộ dạng đáng ghét, cảm giác tự ti, các loại phiền não đều đến, con người hoàn toàn thay đổi – thất ý vong hình. Do đó ta mới lĩnh hội được một câu mà Mạnh tử nói: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất (ii). Một người có học vấn, chỉ cần làm được “bần tiện bất năng di” – có thể đạt tới sự thanh nhàn, bình thản, cái gọi là “duy đại anh hùng năng bản sắc”- chỉ có đại anh hùng mới có thể giữ được bản sắc (iii), vô luận đắc ý thế nào cũng vẫn giữ được như vậy, thất ý cũng vẫn như vậy, kể cả không có cơm ăn áo mặc cũng vẫn như vậy, đây gọi là tu dưỡng đến cảnh giới cao, đạt được tu dưỡng như thế này là rất khó.

Do đó câu Tử Cống nói “bần nhi vô siểm, phú nhi vô kiêu,” đích xác không dễ dàng, rất khó đạt được. Nhưng Khổng tử chỉ nói “cũng được” mà thôi. Ở đằng sau hãy còn “nhưng,” nhưng gì? “Vị nhược bần nhi lạc, phú nhi hiếu lễ giả dã.” Anh có thể đạt được đến mức là nghèo, thất ý nhưng không cúi đầu trước người khác, không nịnh nọt, tự cho bản thân như thế là to, không để người khác vào mắt, kì thực lại đầy sự yếu kém trong lòng, hoặc là anh cảm giác người khác tốt hơn, bản thân kém hơn, thế cũng là giữ một loại tâm lý so sánh, tâm lý thù nghịch, do đó tu dưỡng vẫn chưa đủ. Cùng một đạo lý như vậy, anh đạt được giàu có nhưng không kiêu, dùng lễ đối đãi với người khác, do anh cảm thấy bản thân có tiền có địa vị, không dùng thái độ này đối xử với người khác là không được, như thế cũng không đúng, vẫn là giữ cảm giác ưu việt hơn người khác. Do đó nếu đạt đến sự bình dị, thật sự không kiêu ngạo, tức là ở bất cứ vị trí nào, trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng đều có thể bình thường thành thực như vậy, như thế mới là đúng. Vì vậy Khổng tử nói với Tử Cống, như những gì con nói, mới gọi là đạt mà thôi, hãy nên tiến thêm một bước nữa, làm được “bần nhi lạc, phú nhi hiếu lễ.” An bần lạc đạo – An ổn trong cảnh nghèo mà vui với đạo. “An bần” là vô cùng khó, Khổng tử sau đó còn có câu “Quân tử, tố phú quý, hành hồ phú quý, tố bần tiện, hành hồ bần tiện” – quân tử, ở vào cảnh phú quý, nên làm việc người phú quý nên làm; ở vào cảnh nghèo khổ, làm việc người ở cảnh nghèo khổ nên làm (iv). Do đó, có một số người bạn rất xuất sắc, rất thanh cao, lúc nói chuyện phiếm thường hỏi: Anh xem tôi, con người như thế nào? Ta nói: Con người tôi không hoàn toàn đồng ý với anh, anh rất thanh cao, chẳng qua có một chút tùy tiện trong việc truy cầu sự thanh cao. Một người nên thanh cao, nhưng có người theo đuổi sự thanh cao một cách tùy tiện cẩu thả, hoặc vì thể hiện sự thanh cao của bản thân, mà nhẫn nhịn hy sinh. Như thế thật sự là không cần thiết, chính là không bình thường, không bình thường không phải tinh thần chân chính của việc hàm dưỡng, tu dưỡng bản thân. Do đó Khổng tử nói với Tử Cống, cần phải an bần lạc đạo, cần bình thường thành thực, Khổng tử nói nếu như đã đạt đến việc là không kiêu ngạo rồi, vẫn chưa tính là tốt, cần tiến thêm một bước nữa, hiếu lễ, tôn trọng người khác và yêu người khác.

Phú nhi hiếu lễ, chúng ta tiếp xúc với nhân sĩ giới công thương là có thể nhìn ra, những người có tiền trong xã hội, có người vô cùng đáng ghét, không có học vấn (v), mở miệng ra là dung tục không chịu nổi, do đó giàu có không nhất định là hiếu lễ. Hiếu lễ không nhất định là chỉ nói lễ mạo, mà là trong các phương diện học vấn, làm người, luôn luôn cầu tiến. Giả dụ một người thật sự giàu có, có thể không ngừng truy cầu học vấn, không ngừng chú ý đến đạo lý làm người, hành xử, như thế mới là tốt. Có người sau khi công thành danh toại, thường thoát ly dần quan hệ với người thân, bạn bè, đây là việc thật đáng tiếc.

Nói đến đây, lại thấy, biết Tử Cống đã phục thầy, Khổng tử vô cùng xuất sắc, do đó Tử Cống mới nói một câu: ‘Thi vân, ‘như thiết như tha! như trác như ma,’ kì tư chi vị dư!’ Thi này là thơ cổ, ai viết vậy? Là tiền bối cổ nhân viết, thời đó lưu truyền rất rộng. “Như thiết như tha, như trác như ma.” Tám chữ này là dẫn nguyên tác thơ cổ. Bài thơ này nói về phương pháp làm ngọc thạch, lúc mới đầu chỉ có một tảng đá có ngọc to bằng cái mặt bàn. Mua về, trước tiên cần cắt ra, ở trong có thể có hàng trăm mặt nhẫn, cũng có thể chỉ có chục cái. Bước đầu tiên làm vật dụng bằng ngọc, là dùng cưa để cưa tảng đá ra, gọi là thiết (bổ, cắt); tìm thấy ngọc, thì dùng giũa để giũa phần đá ra, là bước thứ hai gọi là tha (giũa); sau khi giũa ra được miếng ngọc, thì từ từ khắc, mài, mài thành hình nhẫn, hình kê tâm (tim gà), hình vòng tay, một hình hay vật dụng nào đó, đây là trác (mài); cuối cùng cần đánh cho bóng lên, khiến cho ngọc phát ra ánh sáng mĩ lệ thu hút, là ma (mài, cọ, xát). Thiết, tha, trác, ma, đây chính là ví dụ cho giáo dục. Một người sau khi sinh ra, cần tiếp thu giáo dục, cần từ kinh nghiệm cuộc sống, mà học hỏi dần, học vấn tăng một bước, công phu càng tinh thế, vượt qua được, học vấn càng khó, vì thế mới “như thiết như tha, như trác như ma, kì tư chi vị dư!.” Câu này đặc biệt đề cao tư tưởng của Khổng tử, như Tử Cống nói: Theo đuổi học vấn như việc chế tạo ngọc, thiết tha trác ma, con hiểu rồi. Sau đó Khổng tử mới trả lời Tử Cống: ‘Tứ dã! Thủy khả dữ ngôn “Thi” dĩ hĩ, cáo chư vãng nhi tri lai giả.’ Khổng tử nói Tử Cống hiểu được đạo lý này, giờ có thể bắt đầu đọc Thư, cũng có thể bắt đầu đọc Thi, vì ta vừa mới chỉ ra đạo lý này, con đã tự suy ra được đạo lý khác. […]

Nhưng câu này nghiên cứu sâu vào lại nảy sinh ra một vấn đề, là vấn đề về “thi” (thơ). Chúng ta biết văn hóa Trung Quốc, trong lĩnh vực văn học, có một quá trình phát triển, đại thể tình hình, từ cái gọi là Hán văn, Đường thi, Tống từ, Nguyên khúc, Minh tiểu thuyết, đến triều Tranh, ta cho là đối liễn, đặc biệt như danh tướng thời kỳ Trung Hưng là Tằng Quốc Phiên, Tả Tông Đường đã phát triển đối liễn đến trình độ cao. Diễn biến hình thái văn học vài nghìn năm của Trung Quốc, đại loại là như vậy.

Trưa hôm nay có một vị học giả, nói đến tác phẩm của rất nhiều người, ông ý nói đã xem qua một số tác phẩm, tùy tiện mà xem, không chú ý lắm. Hiện tại một số tác phẩm xem thật là khó. Ông ý nói là thật vậy. Có một số người có thiên tài văn học, thuận tiện viết vài câu, từ cách viết mà nhìn, liền biết ngay anh ta sẽ có thành tựu trong lĩnh vực văn học; cũng có những người có tài học một đời, nhưng cũng không thể biến thành nhà văn. Mặc dù viết văn có thể viết khá tốt, nhưng đến một trình độ nhất định nào đó, bỏ ra công phu như thế nào cũng không thể đột phá giới hạn của mình, văn chương của anh ta trước sau chỉ như văn chương của một nhà khoa học. […]

Cho đến thơ, trước đây chúng ta đọc sách, có không ít người từ tiểu học (không phải tiểu học ngày nay) đã bắt đầu học thơ. Người nào cũng biết làm thơ, mặc dù có phải nhà thơ hay không, lại là một vấn đề khác. Có người hỏi chúng ta coi trọng việc dạy thơ từ khi nào, đây là một vấn đề rất lớn. Thiên “Vi Chính” tiếp theo sẽ có một phần quan trọng, giải thích cho vấn đề này. Mọi người hay cho rằng, làm thơ chính là không có bệnh mà kêu rên (vi), biến thành thợ làm thơ. Hồi trước cũng có người giễu cợt loại thơ này, cái gọi là “quan môn bế hộ yểm sài phi” (vii) – đóng cổng, đóng cửa, đóng cửa phên, đóng cổng chính là đóng cửa, đóng cửa cũng là đóng cổng, đóng cửa phên cũng là đóng cổng. Bằng trắc rất đúng luật, vần cũng rất đúng, nhưng nếu tập hợp lại với nhau, chẳng có ý nghĩa gì. Đây chính là không có bệnh mà kêu rên, loại văn chương như thế này, thực tại có vấn đề, đã biến thành “quan môn bế hộ yểm sài phi.” […]

Ở đây lời Khổng tử nói với Tử Cống, đề cập đến đạo lý của “Thi” là gì, người làm thơ học thơ, không chỉ là để làm một nhà thơ […]. Mục đích của thơ, không phải là chuyên làm văn học, đạo lý ở trong vô cùng quan trọng. Liên quan đến văn hóa thơ, Khổng tử tiếp theo đã nói với Tử Cống, đọc thơ, không phải là để dạy con trở thành một con mọt sách chua chát, nhất định cần “cáo chư vãng nhi tri lai giả.” Nào phải chỉ làm thơ, chúng ta học lịch sử cũng như vậy, chúng ta tại sao phải học lịch sử? Hiện tại việc học và nghiên cứu lịch sử tại các viện nghiên cứu và khoa lịch sử của các trường đại học, mặc dù đạt được rất nhiều thành tựu, nhưng đối với việc làm người, hành xử, lại không có chút tác dụng nào. Trong quá khứ chúng ta học lịch sử, chủ trương “học dĩ trí dụng” – học là có thể dùng (viii), tinh thần chính là “cáo chư vãng nhi tri lai giả,” hiểu được quá khứ liền biết được tương lai, đây chính là tinh thần của thơ.

Đến cuối cùng, đây chính là kết luận của một thiên Luận ngữ. Mọi người có thể dễ dàng nhận thấy, mở đầu của Thiên thứ nhất “Học nhi” của Luận ngữ: “Học nhi thời tập chi bất diệc duyệt hồ? hữu bằng tự viễn phương lai bất diệc lạc hồ? Nhân bất tri nhi bất uấn bất diệc quân tử hồ?” Chúng ta xem Thiên này kết luận như thế nào?  Có thể thấy mở đầu kết luận liên kết đến nhau.

(i) Đắc ý vong hình -得意忘形 – dé yì wàng xíng (hình ở đây là hình thái; hình dung người đắc ý, cao hứng đến độ mất đi cả tư thế thường ngày. Câu trong Tấn thư, Nguyễn Tịch truyện).

(ii) Nguyên văn câu của Mạnh tử: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, thử chi vị đại trượng phu – 富贵不能淫,贫贱不能移,威武不能屈,此之谓大丈夫. Đây là ba tiêu chuẩn nam tử hán đại trượng phu do Mạnh tử đề xuất: vinh hoa phú quý không thể nhiễu loạn tâm trí được, nghèo khó bần cùng không thể khiến cho thay đổi ý chí được, cường quyền uy vũ không thể làm cho khuất phục được, chỉ khi đạt được 3 tiêu chuẩn này, mới có thể gọi là nam tử hán đại trượng phu chân chính.

(iii) Có một câu ghép từ thời Minh: Duy đại anh hùng năng bản sắc, Thị chân danh sĩ tự phong lưu -唯大英雄能本色,是真名士自风流.

(iv) Quân tử, tố phú quý, hành hồ phú quý; tố bần tiện, hành hồ bần tiện -君子,素富贵,行乎富贵;素贫贱,行乎贫贱 – quân tử, ở vào cảnh phú quý, nên làm việc người phú quý nên làm; ở vào cảnh nghèo khổ, làm việc người ở cảnh nghèo khổ nên làm. Câu này là ở trong Lễ Ký.

(v) Bất học vô thuật -不学无术 – bù xué wú shù (Câu trong Hán thư; nguyên chỉ không có học vấn do đó mà không có biện pháp, hiện chỉ không có học vấn, không có bản lĩnh, tài năng).

(vi) Vô bệnh thân ngâm – 无病呻吟 – wú bìng shēn yín (xuất từ một bài Lâm Giang tiên của Tân khí Tật thời Tống; không có bệnh mà kêu rên; dùng để hình dung không có việc gì ưu thương nhưng lại than thở cảm thương, cũng để hình dung tác phẩm nghệ thuật không có tình cảm thật sự, chỉ giả vờ mà làm thành).

(vii) Quan môn bế hộ yểm sài phi -关门闭户掩柴扉 – đóng cổng, đóng cửa, đóng cửa phên: nói chung để ám chỉ làm thơ lải nhải, trong thơ mỗi câu đều nhắc lại cùng một ý, một sự việc, chỉ là lắp ghép các từ khác nhau lại với nhau.

(viii) Học dĩ trí dụng – 学以致用 – xué yǐ zhì yòng (học được kiến thức là có thể sử dụng trong thực tế).

Hàn sinh

Mỗi ngày một kiến thức: Nguồn gốc chữ “Thị” trong họ tên

Trong một quyển sách tên là 取名宝典 – ‘Thủ danh bảo điển’ của  巨天中 – Cự Thiên Trung, Nhà xuất bản Nam Văn Bác Nhã, giải thích về chữ Thị – 氏 như sau:

Thị là một chi nhánh, ngành họ của Họ, chỉ tồn tại độc lập trong thời gian trước nhà Hán. Họ là tộc hiệu của một thị tộc, thành viên của thị tộc đều lấy tộc hiệu này làm Họ của bản thân. Nhưng về sau con cháu ngày càng đông đúc, phân thành rất nhiều chi, nhánh, dần dần phân tán ra sống ở các nơi, quan hệ cũng ngày càng xa, do vậy mỗi phân chi lại tự xác định cho mình thêm một danh xưng, danh xưng này gọi là Thị. Như vậy, mỗi một thành viên của một phân chi có một Họ, lại có thêm một Thị. Ví dụ như người tộc Thương họ là “Tử,” về sau lại phân thành các Thị “Ân,” “Thời,” “Lai,” “Tống,” vân vân, những người này đều là người tộc Thương, nhưng sống tại các địa điểm khác nhau.

Người xưa đặt Thị như thế nào? Do hạn chế của điều kiện văn hóa lịch sử lúc bấy giờ, rất nhiều bộ tộc khi lựa chọn Thị cho mình, đều xuất phát từ “vật tổ” (những thứ người xưa cho là linh thiêng, đại diện cho thần linh). Có bộ tộc lấy thực vật làm Thị của mình, có bộ tộc lấy động vật làm Thị của mình. [….] Thành viên của thị tộc mà có cùng “vật tổ” không được lấy nhau, vật tổ trở thành tiêu chí để giới hạn hôn nhân. Thị tộc thời kỳ đầu có: Lang Thị (sói), Hùng Thị (gấu), Quy Thị (rùa), Lộc Thị (hươu), Toại Nhân Thị, Hữu SàoThị (sào là tổ, ổ), Tây Lăng Thị, Thần Nông Thị, Thục Sơn thị, Kim Thiên Thị….

Sau thời đại Chiến Quốc, Họ và Thị cơ bản hợp thành một, hầu hết mọi người đều chỉ xưng Họ mà không xưng Thị, chữ “Thị” này liền mất đi ý nghĩa gốc, Thị dần dần đi liền sau họ, dùng để chỉ thành viên gia tộc của một Họ. Ví dụ “Trương thị huynh đệ,” “Vương thị huynh đệ,” “Lưu thị huynh đệ”… là chỉ anh em họ Trương, anh em họ Vương, anh em họ Lưu…

Và ở Việt Nam….?

Phía trên đây là nguồn gốc chữ Thị từ thời xa rất xa.

Ở Việt Nam, tên Nguyễn Thị A, Hoàng Thị B, khi viết bằng tiếng Hán, đều là chữ Thị này (chứ không phải như tưởng tượng phong phú của một số người, thị có nghĩa là chợ, thị có nghĩa là nhìn). Nếu giải thích ngheo nghĩa gốc, thì sẽ hiểu là người tên A của dòng họ Nguyễn, người tên B của dòng họ Hoàng.

Nhưng chưa tìm hiểu, tập tục “nam Văn nữ Thị” từ khi nào mà có?

HS

Luận ngữ. Thiên 1: Học nhi. Chương 1.14

Thiên 1: Học nhi. Chương 1.14

1.14 子曰:“君子食无求饱,居无求安,敏于事而慎于言,就有道而正焉,可谓好学也已。”

Zǐ yuē :“jūn zǐ shí wú qiú bǎo ,jū wú qiú ān ,mǐn yū shì ér shèn yū yán ,jiù yǒu dào ér zhèng yān ,kě wèi hào xué yě yǐ 。” 

Tử viết: “Quân tử thực vô cầu bão, cư vô cầu an, mẫn ư sự nhi thận ư ngôn, tựu (1) hữu đạo (2) nhi chính (3) yên, khả vị hiếu học dã dĩ.”

[Chú thích]

(1) 就 – jiù – tựu: tiếp cận, tiến gần đến, tiếp bước, noi theo

(2) 有道 – yǒu dào – hữu đạo: chỉ người có đạo đức.

(3) 正 – zhèng – chính: khuông chính, đoan chính – sửa chữa, sửa cho đúng lại.

[Giải nghĩa câu – Dương Bá Tuấn]

Khổng tử nói: “Quân tử, ăn uống không cầu no đủ, ở không cầu dễ chịu, đối với công việc cần lao mẫn tiệp, nói lời cẩn thận thận trọng, đến gần người có đạo đức mà tự sửa bản thân, như thế có thể nói là hiếu học vậy.”

[Bình luận – Dương Bá Tuấn]

Trọng điểm của chương này là đề ra yêu cầu đạo đức đối với quân tử. Khổng tử cho rằng, một người có đạo đức, không nên chú tâm quá mức về các vấn đề ăn uống ở của bản thân, mà trong công việc nên cần lao (siêng năng chịu khó) mẫn tiệp (nhanh nhẹn), cẩn thận, thận trọng, lại còn có thể thường xuyên kiểm điểm bản thân, nhờ người có đạo đức giúp mình sửa chữa ngôn hành cử chỉ. Làm nên quân tử cần khắc chế truy cầu các dục vọng thụ hưởng vật chất, mà đem lực chú ý vào bồi dưỡng phẩm chất đạo đức của bản thân, điều này mới đáng học hỏi.

[Luận ngữ tân giải – Tiền Mưu]

Thực vô cầu bão, cư vô cầu an: không cầu ấm no, chí hướng ở tại việc học hành, không rảnh rỗi mà cầu chuyện ấm no. Một giỏ thức ăn, một bầu nước uống, ở nơi ngõ hẹp, mà vẫn vui trong hoàn cảnh của mình. Nếu như chí hướng ở tại việc cầu ấm no, rồi cả đời cũng sẽ bận rộn không có thời gian.

Mẫn ư sự nhi thận ư ngôn: mẫn: nhanh nhẹn, mau lẹ; thận: thận trọng. Đối với sự việc cố gắng hết sức của mình cũng không đủ, đối với lời nói không dám nói dư lời nào.

Tựu hữu đạo nhi chính yên: hữu đạo, là nói người có đạo đức hoặc học đạo; chính: hỏi mình đúng hay sai. Nếu có thể làm được như những điều kể trên, lại vừa tựu hữu đạo nhi chính (hướng đến người có đạo đức mà hỏi việc đúng sai), lúc đó có thể gọi là hiếu học.

Chương này có thể diễn giải như sau: quân tử, ăn không cầu no, ở không cầu an, làm việc nhanh nhẹn, nói lời thận trọng, lại có thể thường xuyên theo người có đạo mà tự nhận ra và sửa chữa việc đúng sai của bản thân, như thế có thể tính là hiếu học vậy.

[Luận ngữ biệt tài – Nam Hoài Cẩn]

Nói về đạo lý của học vấn, không chỉ là đọc sách “chết,” mà còn là chú trọng đến việc làm người xử thế trong hiện thực nhân sinh. Khổng tử nói sinh hoạt không cần quá xa xỉ, “thực vô cầu bão,” đặc biệt là trong hoàn cảnh khổ nạn khó khăn, không cần có yêu cầu quá mức, quá đầy đủ xa xỉ. Thái độ của Khổng tử đối với sinh hoạt đời sống của bản thân, tiêu chuẩn làm người được ghi trong thiên Hương đảng. “Cư vô cầu an,” nơi ở chỉ cần thỏa đáng, có thể an bần lạc đạo (i), không cần tham lam truy cầu sự an dật (yên vui an nhàn) quá độ, tham lam truy cầu sự thụ hưởng quá độ. Ý nghĩa của hai câu này, là không truy cầu hưởng thụ vật chất sinh hoạt, mà coi trọng sự thăng hoa của đời sống tinh thần. “Mẫn ư sự nhi thận ư ngôn,” bao gồm tất cả các loại trách nhiệm, các loại việc nên làm, cần mẫn tiệp – lập tức làm. “Thận ư ngôn,” không nên nói loạn. “Tựu hữu đạo nhi chính yên,” “đạo” này là chỉ học vấn, tu dưỡng. Thế thì nơi nào gọi là “hữu đạo”? Sách của người xưa, trong sách chính là “hữu đạo”, từ các đạo lý làm người xử thế trong sách mà tu thân sửa mình, như thế này gọi là hiếu học. Có thế thấy thiên Học nhi này, không hề nói đọc sách là học vấn, trước sau có rất nhiều chỗ, đều chứng minh như vậy.

(i) An bần lạc đạo – 安贫乐道 – ān pín lè dào (câu trong Hậu Hán Thư. An ổn với việc nghèo khó, lấy việc kiên trì với đạo của mình làm lạc – niềm vui. Đạo trước chỉ đạo đức, sau chỉ cả lý tưởng, niềm tin ).

Si

becomingnguoiviet

An outsider's view on what is going on inside Vietnam

Rie's Bento & Cooking

in healthy way with Love

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Vì công lý và hòa bình cho Biển Đông

Nghiên cứu lịch sử

Các bài nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật các chủ đề về lịch sử

About Words - Cambridge Dictionaries Online blog

Commenting on developments in the English language

VƯƠNG-TRÍ-NHÀN

đang hoàn thiện

Nghiên cứu quốc tế

Tư liệu học thuật chuyên ngành nghiên cứu quốc tế

My kitchen of love ~

What's behind my kitchen door

%d bloggers like this: